intTypePromotion=1
ADSENSE

Đề cương môn học Lí luận dạy học địa lí: Phần 2 - Nguyễn Phương Liên

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:49

201
lượt xem
31
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 2 Đề cương môn học Lí luận dạy học địa lí trình bày các nội dung: Nguyên tắc dạy học địa lí, các phương tiện - thiết bị dạy học địa lí ở trường phổ thông, hình thưc tổ chức dạy học địa lí, quá trình dạy học địa lí trong nhà trường phổ thông và các phương pháp dạy học địa lí, công việc giảng dạy và chỉ đạo học sinh học tập của giáo viên địa lí.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương môn học Lí luận dạy học địa lí: Phần 2 - Nguyễn Phương Liên

  1. Chương 4 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC ĐỊA LÍ * Mục tiêu: Biết các nguyên tắc dạy học và vận dụng tốt các nguyên tắc trong dạy học địa lí. Xác định đúng các nguyên tắc quan trọng nhất và lí giải nguyên nhân. 4.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức : Nguyên tắc này chỉ đạo việc lựa chọn nội dung và sau đó là phương pháp dạy học. - Ngày nay khối lượng tri thức của khoa học địa lý cũng như các ngành khoa học khác tăng lên vô cùng nhanh chóng trong khi thời gian dành cho môn học thì có hạn. Để giải quyết được mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức địa lý với thời gian dành cho môn địa lý cần phải: + Tinh lọc kiến thức: giảm kiến thức cụ thể, sự kiện, tăng kiến thức lý thuyết. + Trang bị cho học sinh các phương pháp học tập và nghiên cứu địa lý mới, hiệu quả. - Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức còn đòi hỏi nội dung của mỗi bài địa lý phải vừa sức tiếp thu của học sinh cả về số lượng lẫn mức độ. - Không nên bổ sung quá nhiều, cũng không nên đơn giản hoá nội dung sách giáo khoa. - Khi đặt câu hỏi không nên đặt câu quá dễ hoặc quá khó. - Giáo viên nên lựa chọn kiến thức sao cho vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh, vừa phát triển được năng lực trí tuệ. - Làm việc với bản đồ trong dạy - học địa lý là hết sức cần thiết. 4.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và liên hệ với thực tiễn : Tính hệ thống là một dấu hiệu đặc trưng của tri thức khoa học. 25
  2. - Tính hệ thống của môn học địa lý được phản ánh trong hệ thống kiến thức, kỹ năng của chương trình và sách giáo khoa địa lý dùng trong nhà trường phổ thông. - Xuất phát từ mục tiêu giáo dục nên hệ thống tri thức địa lý trong nhà trường phổ thông không nhất thiết phải đúng như trình tự của hệ thống khoa học địa lý. - Nội dung tri thức địa lý trong nhà trường phổ thông được quy định theo một hệ thống nhất định thì việc dạy học địa lý buộc phải tuân theo nguyên tắc đó. Để đảm bảo nguyên tắc này, trong dạy học địa lí, giáo viên cần: nghiên cứu chương trình, SGK ở lớp đang dạy, lớp trước, lớp sau và các môn học có liên quan. - Việc nắm vững tri thức khoa học cần phải có sự liên hệ với thực tiễn: Mọi khoa học đều là kết quả của nhận thức của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn. Đối với môn địa lý, thực tiễn trước hết là đường lối, và các chủ trương chính sách xây dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Thực tiễn còn là những diễn biến xảy ra trong đời sống kinh tế - xã hội trên thế giới và ở nước ta mà chúng ta thu được qua các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu khai thác và tích luỹ được nhiều kiến thức thực tiễn thì việc dạy - học địa lý sẽ thuận lợi, sâu sắc và vững chắc hơn nhiều. - Liên hệ dạy học với thực tiễn cần được thực hiện theo 2 chiều: Thực tiễn Æ bổ sung cho nội dung dạy học thêm phong phú. Nội dung địa lý (kiến thức địa lý) phong phú lại là điều kiện tốt để cho học sinh vận dụng tri thức vào cuộc sống. Muốn vậy, phải rèn luyện, nắm vững các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết như: kỹ năng sử dụng bản đồ, kỹ năng quan sát, nhận xét, rút ra quy luật. 4.3. Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục: Nội dung giáo dục của môn địa lý được thể hiện ở các mặt sau: 26
  3. - Bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng : Khi học địa lý, học sinh luôn phải phân tích những mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội, giữa các yếu tố thành phần của tự nhiên, giữa tự nhiên với các hoạt động sản xuất của xã hội. Qua đó giúp học sinh nhận thức được tính khách quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Những nhận thức đó dần dần sẽ trở thành niềm tin và thế giới quan của học sinh. - Bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất, đạo đức của người công dân, người lao động mới, lòng yêu nước, tự hào dân tộc qua ý thức, qua hành động và qua thái độ đối với một vấn đề nào đó. 4.4. Nguyên tắc đảm bảo tính tự lực và phát triển tư duy cho học sinh - Thực chất đòi hỏi có sự kết hợp tối ưu giữa vai trò chủ động lĩnh hội tri thức của người học với vai trò chỉ đạo, hướng dẫn quá trình dạy học của người dạy, phê phán cách dạy theo hướng cổ điển đòi hỏi học sinh phải ghi nhớ máy móc quá nhiều sự kiện. - Muốn đảm bảo nguyên tắc này thì: + Giáo viên cần làm cho học sinh hiểu rõ mục đích học tập của mình. + Có sự ưu tiên của tư duy so với trí nhớ: làm cho học sinh biết tự giác nắm tài liệu theo một trình tự logic chặt chẽ. CÂU HỎI 1. Theo ý kiến của anh (chị) thì nguyên tắc nào có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc dạy học địa lý? Tại sao? 2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức có mâu thuẫn với nhau không? Chúng thể hiện thế nào trong việc dạy - học địa lý. 27
  4. Chương 5 CÁC PHƯƠNG TIỆN - THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG * Mục tiêu: - Biết các phương tiện dạy học, sử dụng tốt các phương tiện dạy học. - Biết kết hợp các phương tiện dạy học truyền thống và hiện đại phù hợp với từng bài học khác nhau. 5.1. Khái niệm về phương tiện dạy học Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phương tiện dạy học. - Theo các tác phẩm về lý luận dạy học thì phương tiện dạy học đồng nghĩa với phương tiện trực quan, đó là các vật thật, vật tượng trưng và các vật tạo hình được sử dụng để dạy học. + Vật thật: Giúp học sinh tiếp thu tri thức, gây hứng thú tìm tòi, học tập. Đó là các động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên, khoáng vật. + Các vật tượng trưng: Giúp học sinh thấy được một cách trực quan các sự vật, hiện tượng được biểu diễn dưới dạng khái quát hoặc đơn giản, như: sơ đồ, lược đồ, biểu đồ... + Vật tạo hình: Tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, băng video, phim đèn chiếu... thay cho các vật khó nhìn thấy hoặc không nhìn thấy. - Một số tác giả khác lại coi phương tiện dạy học là những đồ dùng dạy học trực quan được khái quát bằng những mô hình vật chất được dựng lên một cách nhân tạo, tương tự với đối tượng gốc về một số mặt nhất định nào đó. - N.N.Baranxki đưa ra khái niệm thiết bị dạy học: Là những phương tiện trực quan, nó là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự tổ chức và kết quả của việc giảng dạy địa lý ở nhà trường. Các thiết bị đó bao gồm: Phòng địa lý, bản đồ giáo khoa, quả cầu địa lý, tranh ảnh treo tường, biểu đồ, đồ thị... 28
  5. - GS. Nguyễn Dược và một số tác giả khác đưa ra khái niệm thiết bị dạy học địa lý. Các thiết bị này gồm 1 phần cơ sở vật chất tạo điều kiện cho việc giảng dạy bộ môn: phòng địa lý, vườn địa lý, tủ sách địa lý. Các thiết bị - kĩ thuật gồm: - Các đồ dùng trực quan: Bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ quan trắc, đo đạc. - Các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho giáo viên và học sinh như: sách giáo khoa, sách bài tham khảo. - Ngoài ra, còn có các thiết bị kỹ thuật hiện đại: máy chiếu phim, video, vô tuyến truyền hình, máy chiếu ảnh, máy vi tính... - Nói một cách ngắn gọn: Phương tiên dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất, tinh thần được giáo viên sử dụng để điều khiển mọi hoạt động nhận thức của học sinh và đối với học sinh, nó là nguồn tri thức sinh động, là công cụ để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Trong dạy học địa lí, PTDH là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học đạt được các mục tiêu dạy học. 5.2. Ý nghĩa của phương tiện dạy học - Giúp GV trình bày nội dung bài giảng một cách trực quan - Là nguồn tri thức giúp GV điều khiển quá trình nhận thức của HS 5.3. Phân loại các phương tiện và thiết bị dạy học Có nhiều cách phân loại khác nhau, song cần chú ý cách phân loại phương pháp dạy học thành 2 nhóm: 5.3.1. Các phương tiện dạy học truyền thống a. Bảng phấn - Chất liệu - Vai trò: - Cách sử dụng b. Sách giáo khoa 29
  6. - Vai trò - Cách sử dụng c. Phòng địa lý : Phòng địa lý là một phòng riêng. Một phòng địa lí chuẩn có thể có các khu vực sau: * Khu vực để bàn ghế học sinh: Cần rộng rãi, thoáng mát, mặt bàn phẳng, có ngăn để sách vở, dụng cụ, đồ dùng học tập. * Khu vực dành cho giáo viên: Phải thuận lợi cho giáo viên thực hiện các hoạt động dạy học. Cần có bảng đen, bàn, chỗ để quả địa cầu, giá treo bản đồ. Cuối phòng có chỗ đặt máy chiếu phim, chiếu hình vidio.... * Khu vực dành cho công tác thực hành: Cần có: bàn can vẽ bản đồ, máy thu phóng bản đồ, bàn cát nhỏ để đắp mô hình. * Khu vực cất giữ dụng cụ: Giá cất bản đồ, tranh ảnh, tư liệu, tủ để máy móc, tủ sách... * Khu vực trưng bày và triển lãm: Có thể chiếm riêng 1góc phòng hoặc sử dụng ngay những bức tường ở xung quanh phòng để treo các bảng trình bày kết quả khảo sát địa phương, bảng tổng kết thời tiết, các mẫu vật đất đá... Kích thước phòng địa lý hiện nay chưa có ý kiến thống nhất vì nó còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, số lượng thiết bị và quy mô của trường. d. Vườn địa lý: Là khu vườn dùng cho việc dạy, học địa lí - Tác dụng: + Giúp cho giáo viên nâng cao hiệu quả dạy học, đặc biệt phù hợp với chương trình địa lý tự nhiên. + Giúp học sinh nắm chắc được nội dung bài qua việc nhận thức các đối tượng, hiện tượng xung quanh một cách cụ thể, sinh động. + Phát triển khả năng quan sát các sự vật địa lý trong môi trường tự nhiên, rèn luyện kỹ năng sử dụng các thiết bị và dụng cụ trong thực hành. + Các bài dạy về địa lý tự nhiên Việt Nam và địa lý tự nhiên nên thực hiện ở vườn địa lý khi có điều kiện. 30
  7. - Khi thiết kế, xây dựng vườn địa lý cần lưu ý: Nên xây dựng ngay trong khu vực trường, xa nhà cửa và cây cối, thoáng, hướng nên chọn hướng B - N. Bề mặt vườn phải phẳng, mỗi chiều rộng 10 - 15m gồm các khu: Khu thiên văn: + Các dụng cụ để xác định phương vị, tìm phương hướng, bảng chỉ số kinh - vĩ tuyến địa phương, đồng hồ mặt trời... + Cột đo gió: Có thể kết hợp làm cột đo độ cao, để học sinh có thể xác định độ cao bằng mắt, cột cao khoảng 5m, chia m một, sơn màu khác nhau. + Lều khí tượng: nhiệt kế, ẩm kế, áp kế. Ngoài ra còn có bình đo mưa, nhật quang kế và nhiệt kế để xác định nhiệt độ của đất. Khu mô hình, sa bàn có: + Mô hình biểu hiện các dang đất và thuỷ văn (đồi, núi, thung lũng, đồng bằng...). + Một bàn cát nhỏ để giúp học sinh tự đắp lấy mô hình của các dạng địa hình đã và đang học. Khu vật hậu: Có thể nuôi trồng một số Đ - TV chỉ thị, có phản ứng nhạy với sự thay đổi của thời tiết. e. Quả cầu địa lý: - Là mô hình thu nhỏ trái đất theo một tỷ lệ nhất định nào đó. Quả địa cầu cho ta một khái niệm thực và rõ ràng về hình dạng, kích thước (đã thu nhỏ theo tỷ lệ) của các thành phần trên bề mặt trái đất. - Trên quả địa cầu những khái niệm như hình dạng, đường kinh tuyến, vĩ tuyến, khoảng cách, diện tích và tương quan về vị trí của các thành phần trên mặt đất (các lục địa, các đại dương...) cũng như các đối tượng khác được phản ánh chân thực và rõ ràng. f. Bản đồ giáo khoa: 31
  8. * Khái niệm: Bản đồ giáo khoa là một loại hình bản đồ thuộc hệ thống phân loại bản đồ địa lý, mục đích của chúng là dùng để dạy và học địa lý trong nhà trường. Nói một cách ngắn gọn: Những bản đồ nói chung được dùng vào việc dạy và học gọi là bản đồ giáo khoa. - Hiện nay bản đồ giáo khoa được coi là phương tiện, là nguồn tri thức, là cuốn sách giáo khoa địa lý thứ 2 cho giáo viên và học sinh. *Tính chất: - Tính khoa học: Thể hiện ở tính chất toán học, tính chất tổng quát hoá và lượng thông tin thích hợp. - Tính sư phạm: Thực hiện ở chỗ phải đảm bảo tính tương ứng giữa bản đồ với chương trình ở nhà trường phổ thông. Nội dung, phương pháp, màu sắc, ký hiệu, cách trình bày phương phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. - Tính mỹ thuật: Thể hiện cái đẹp, sức thu hút, hấp dẫn, chú ý học tập của học sinh cả về nội dung và hình thức. Ngoài ra nó còn có tác dụng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. * Nội dung của bản đồ giáo khoa: Người xem có thể nhận ra nội dung địa lý của bản đồ qua tên của bản đồ và bản chú giải của nó. - Tên bản đồ chứa đựng 2 nội dung: Hiện tượng địa lý và không gian bao quát. VD: Bản đồ khí hậu thế giới Bản đồ thuỷ văn Việt Nam.... - Bản chú giải: giúp nhận biết nội dung, phương pháp sử dụng chất lượng, số lượng cấu trúc, tính hệ thống và tính logic của hiện tượng địa lý biểu hiện trên bản đồ. 32
  9. - Ngoài ra, kỹ thuật thành lập bản đồ, những ký hiệu, phương pháp biểu hiện, cơ sở tính toán của bản đồ cũng như những quy định, nguyên tắc thiết kế bản đồ cũng là một nội dung của bản đồ. * Các loại hình bản đồ giáo khoa: - Bản đồ giáo khoa treo tường: sử dụng trong quá trình dạy học địa lý của học sinh và giáo viên, đặc biệt là ở trên lớp, kích thước phù hợp với lớp học. Bản đồ giáo khoa treo tường phải đảm bảo các yếu tố sau: + Đọc được dễ dàng các đối tượng trong phạm vi 5 - 8 m. + Nội dung chính được ưu tiên thể hiện, nội dung phụ đưa lên bản đồ đến mức độ nào đó không làm ảnh hưởng đến nội dung chính, vì vậy trên bản đồ treo tường, các đối tượng được biểu thị không nhiều. Thường thì chỉ có 4 - 5 đối tượng chính. + Bản chú giải phải ngắn gọn, rõ ràng. + Các ký hiệu, mã số phải thống nhất với bản đồ sách giáo khoa để học sinh dễ thấy, dễ đối chiếu khi học, nghe giảng. - Bản đồ giáo khoa trong sách giáo khoa: Dùng để minh hoạ cho nội dung bài giảng, là nguồn tri thức hỗ trợ cho kênh chữ trong mỗi bài địa lí. - Tập bản đồ địa lý giáo khoa: Đó là một hệ thống các bản đồ được xây dựng theo một chương trình địa lý, chương trình sách giáo khoa cụ thể. g. Át lát địa lý:- Là một hệ thống gồm nhiều bản đồ vẽ theo những mục đích và yêu cầu nhất định. Các bản đồ đó thường được xây dựng theo một phương pháp chung và có mối quan hệ hữu cơ với nhau. - Các loại Át lát địa lý hay thường thấy là: + Át lát địa lý tự nhiên đại cương. + Át lát địa lý tự nhiên các châu. + Át lát địa lý kinh tế - xã hội các nước. + Át lát địa lý kinh tế - xã hội một lãnh thổ. 33
  10. - Việc sử dụng Át lát phải đảm bảo tính tổng hợp của hệ thống các bản đồ, phải kết hợp với các bản đồ treo tường trong quá trình dạy học. - Hiện nay, Át lát được sử dụng nhiều trong quá trình dạy học địa lý ở nhà trường. - Ngoài ra cũng đã có nước xây dựng hệ thống Át lát dùng riêng cho giáo viên... h. Tủ sách địa lý: Tủ sách địa lý để phục vụ cho việc dạy học là rất quan trọng. Trong tủ sách đó cần có: + Sách dùng cho việc tra cứu chung: giáo trình địa lý, các từ điển địa lý, tạp chí địa lý... + Tác phẩm đọc thêm: Truyện vui địa lý, câu chuyện kể của các nhà thám hiểm... + Các phiếu tư liệu: Gồm những tư liệu thu thập được về các lĩnh vực địa lý. i. Những bộ sưu tập: - Anbum tranh ảnh các loại. - Mẫu đất đá và khoáng sản. - Bộ sưu tập về nông sản, lâm sản, những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, những đặc sản của địa phương. k. Những dụng cụ để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo - Những dụng cụ quan trắc khí tượng như: nhiệt kế, máy ghi khí áp... - Những dụng cụ đo đạc khác: Dụng cụ đo vẽ địa hình,, thước chữ A, chữ T... - Những vật liệu để chế tạo các phương tiện trực quan: gỗ mỏng, bìa catông... 5.3.2. Các phương tiện và thiết bị kỹ thuật dạy học hiện đại - Có vai trò quan trọng đối với việc dạy học địa lý trong thời đại hiện nay. Nó không những làm thay đổi phương pháp dạy học mà còn làm đổi mới 34
  11. cả nội dung dạy học, mở rộng khả năng lĩnh hội tri thức khoa học với chất lượng cao và tốc độ nhanh. - Các phương tiện đó gồm: các phương tiện nghe - nhìn (máy chiếu phim, vidio, vô tuyến) và máy vi tính. - Ưu điểm: + Cho phép xem xét các biểu tượng địa lý một cách toàn diện hoặc theo từng mặt riêng rẽ. + Cho phép so sánh các hiện tượng và quá trình địa lý xảy ra ở các nơi khác nhau trên bề mặt trái đất. + Trình bày diễn biến của những quá trình, hiện tượng địa lý cần quan sát trong một thời gian rất ngắn: núi lửa, xói mòn. - Lưu ý khi sử dụng: + Tuỳ theo điều kiện trang thiết bị của trường, xác định những phương tiện thiết bị cần phải sử dụng sao cho hợp lý và tối ưu. + Kiểm tra và sử dụng trước khi lên lớp để nắm rõ quy trình hoạt động của các phương tiện, thiết bị sẽ dùng. + Suy nghĩ, dự tính các phương pháp làm việc với các phương tiện, thiết bị kỹ thuật của thầy giáo và học sinh. + Xác định thời điểm sử dụng hợp lý. 5.4. Các khuynh hướng xây dựng hệ thống thiết bị dạy học địa lý ở trường phổ thông Có 5 khuynh hướng: 1/ Xác định các thiết bị tối thiểu cho từng môn, ở từng cấp học, từng lớp học Thiết bị tối thiểu: Là các thiết bị thật cần thiết để giáo viên và học sinh thực hiện tốt yêu cầu nắm kiến thức và rèn luyện kỹ năng. VD: Quả cầu địa lý, bản đồ địa lý, tranh ảnh. 35
  12. - Thiết bị tối ưu: Là các thiết bị rất cần thiết cho dạy học nhưng do điều kiện hạn chế nên không phải trường nào cũng có. VD: Máy chiếu phim, máy vi tính, tranh ảnh, băng video. 2/ Tăng cường các thiết bị có nhiều tính năng, sử dụng ở nhiều cấp, nhiều lớp, nhiều bài khác nhau VD: Tập át lát địa lý, các loại bản đồ trống, các bộ sưu tập... 3/ Tăng cường các thiết bị nghe nhìn VD: Các loại máy chiếu hình, máy videô, các mô hình nổi giúp học sinh hình thành các biểu tượng, khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo. 4/ Tăng cường các thiết bị giúp học sinh tự liên hệ kiến thức, tự rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, tự khai thác kiến thức VD: Máy trắc nghiệm đơn giản, các máy kiểm tra kiến thức , các tài liệu trắc nghiệm. 5/ Tăng cường các thiết bị đơn giản, rẻ tiền - Rất cần thiết trong điều kiện nhà trường hiện nay. Hầu như chưa có một bộ thiết bị làm sẵn nào có thể hoàn chỉnh tới mức tối đa cho tất cả nội dung kiến thức của chương trình. Người giáo viên trong quá trình dạy phải dần dần tìm cách tạo điều kiện cho môn học có một hệ thống thiết bị hoàn chỉnh. - Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cùng làm một số đồ dùng dạy học đơn giản như vẽ một số bản đồ, sơ đồ..., thu thập tranh ảnh. CÂU HỎI 1. Thế nào là phương tiện, thiết bị dạy học? Cho biết sự phân loại các phương tiện dạy học. 2. Hãy kể tên một số phương tiện dạy học truyền thống và cho biết: Khi sử dụng các phương tiện dạy học địa lí cần phải chú ý những nguyên tắc nào? 36
  13. Chương 6 HÌNH THƯC TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỊA LÍ *Mục tiêu: - Nắm vững cách thức tổ chức dạy học để từ đó lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp với từng loại bài học, từng đối tượng học sinh. 6.1. Khái niệm Hình thức dạy học là cách thức tổ chức học tập cho học sinh phù hợp với mục đích, nội dung của bài học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Dấu hiệu phân biệt các hình thức dạy học: - Số lượng học sinh tham gia trong quá trình học tập - Thời điểm thực hiện học tập - Không gian diễn ra buổi học - Đặc điểm, tính chất hoạt động nhận thức của HS - Mục tiêu cần đạt Xuất phát từ các dấu hiệu đó, có các hình thức dạy học khác nhau. Lựa chọn hình thức dạy học phù hợp là điều kiện để bì học đạt kết quả tốt. 6.2. Những hình thức tổ chức dạy học địa lý ở trường phổ thông 6.2.1. Hình thức dạy học trong lớp(lớp bài) Thường được tiến hành trong các phòng học, có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và sự tham gia của học sinh. Xuất hiện ở Châu Âu từ thế kỉ 16, ở Việt nam vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. - Đặc điểm: + Thuận tiện, dễ thích nghi với nhiều loại bài học: lý thuyết, thực hành. + Tổ chức lớp chặt chẽ, dễ quản lý. + Trong một thời gian có hạn có thể cung cấp, khai thác được lượng thông tin khá lớn, có thể hoàn thành đúng kế hoạch đề ra. + Không chịu ảnh hưởng của thời tiết. 37
  14. + Trong một vài bài học, việc hình thành biểu tượng, khái niệm địa lý bị hạn chế (vì chỉ hình thành qua lời giảng của giáo viên, thiếu trực quan). - Cải tiến: Sắp xếp chỗ ngồi theo các cách khác nhau. - Các loại bài lên lớp: Bài nghiên cứu tài liệu mới (lí thuyết), bài thực hành, bài ôn tập, bài kiểm tra. Mỗi loại bài có mục đích và công việc cụ thể khác nhau song đều có cấu trúc cơ bản như nhau. 6.2.2. Hình thức dạy học ngoài lớp Được tiến hành ngoài thực địa hoặc ở bất cứ một địa điểm nào khác ngoài lớp: nhà máy, trạm khí tượng thuỷ văn... có hiệu quả lớn đối với việc dạy học địa lý. VD: -Quan sát các dạng địa hình, hình thành cho học sinh các biểu tượng địa lý: sông, núi, biển, xói mòn. - Đặc điểm: + Phát huy được tính chủ động, sáng tạo, óc thẩm mĩ, tình yêu quê hương, đất nức của HS. + Mở rộng, hoàn thiện tri thức cho học sinh. Giúp học sinh nắm được kiến thức một cách sâu sắc, chắc chắn. Tuy nhiên: + Chỉ thích hợp với các bài học gắn liền với thực tế (không phù hợp với các bài học mang tính chất lý luận...). + Chỉ có thể tiến hành khi có những điều kiện nhất định: thời gian, kinh phí, địa điểm... 6.1.3. Hình thức thảo luận Là hình thức trung gian giữa dạy học trong lớp và ngoài lớp, nó có thể được tiến hành ngay trong hoặc ngoài lớp, sử dụng có hiệu quả nhất đối với học sinh lớn. - Có thể tiến hành như sau: + Giáo viên đưa trước cho học sinh một nội dung, một chủ đề nào đó để học sinh cùng chuẩn bị, rồi tiến hành thảo luận dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hoặc 1 học sinh khá, các ý kiến phát biểu được ghi nhận, trên cơ 38
  15. sở đó tổng hợp Æ rút ra những nhận định, những kết luận về một vấn đề nào đó. Có thể tiến hành theo từng nhóm học sinh hoặc cả lớp. Đặc điểm: + Giúp học sinh mở rộng kiến thức. + Rèn luyện kỹ năng nói, phân tích, lập luận vấn đề. + Phát triển tư duy khoa học. + Nếu tổ chức thảo luận không tốt thì hiệu quả không cao, không lôi cuốn được sự tham gia của các học sinh khác. Những kết luận cuối cùng có thể chỉ là ý kiến của một vài học sinh khá . + Tổ chức một buổi thảo luận thường mất nhiều thời gian. 6.2.4. Hình thức dạy học nội khoá và ngoại khoá - Dạy học nội khoá: những bài học, những hoạt động được ghi cụ thể trong chương trình, trong kế hoạch gọi là hoạt động nội khoá. Có tính chất bắt buộc đối với học sinh. - Hoạt động ngoại khoá: Những hoạt động không được ghi trong chương trình, kế hoạch, không có tính chất bắt buộc, là sự tự nguyện của học sinh. - Một số hình thức dạy học ngoài lớp và ngoại khoá: * Tham quan địa lý: Nếu buổi tham quan được ghi trong chương trình thì gọi là dạy học ngoài lớp; nếu không ghi trong chương trình thì gọi là hình thức ngoại khoá. * Vai trò, ý nghĩa: + Mở rộng và hoàn thiện tri thức cho học sinh. Nó giúp cụ thể hoá những kiến thức đã học được trong sách vở, tài liệu, khắc sâu những biểu tượng. + Phát huy được tính chủ động sáng tạo, óc thẩm mỹ, hứng thú học tập, nâng cao được hiểu biết về các hoạt động sản xuất của con người. + Góp phần cải tiến phương pháp dạy học 39
  16. * Chuẩn bị tham quan: + Xác định đối tượng tham quan: Phải dựa vào nội dung chương trình học để xác định đối tượng cho phù hợp: tham quan gì? ở đâu? +Xác định mục đích tham quan: Để làm gì? + Xác định cách tham quan * Tiến hành tham quan: - Tham quan như thế nào để đạt được tốt nhất mục đích đề ra? Phải làm được các yêu cầu: toàn tâm, toàn ý, toàn hoạt động cho cuộc tham quan: để mắt, để chân, để tay, để tâm, để mồm tới đối tượng. Cụ thể: + Quan sát cho nhiều: Dù đang đi hay đã đến đều yêu cầu học sinh phải nhìn, quan sát. Tức là "để mắt" tới. + Đi cho nhiều: Muốn quan sát được nhiều thì chân phải đi đến. Tức là "để chân" tới. + Suy nghĩ cho nhiều: Tham quan địa lý không phải là để ngắm cảnh mà để "nhận xét" về địa lý. Vì vậy với mọi sự vật, hiện tượng địa lý luôn luôn phải đặt câu hỏi "Tại sao lại như thế"? Tức là "để tâm" tới. + Hỏi cho nhiều: Luôn lắng nghe, trao đổi, thảo luận, nếu có vấn đề gì chưa rõ, cần thắc mắc, hỏi cho rõ, tức là "để mồm" tới. + Ghi chép nhiều: Trong các cuộc tham quan, luôn mang theo mình sổ, bút, ghi chép đầy đủ những gì nhận thức được. Tức là phải “để tay” tới. * Viết thu hoạch (sắp xếp tài liệu tham quan): Những gì quan sát được, học tập được sau buổi tham quan học sinh cần viết lại thành 1 bản báo cáo, có thể giáo viên nhận xét, đánh giá, có thể mang ra trao đổi dưới hình thức thảo luận. - Những mẫu vật thu thập được, cần phân loại vì lưu trữ để phục vụ cho học lý thuyết. * Khảo sát địa phương 40
  17. * Khái niệm: Khảo sát địa phương là khảo sát, nghiên cứu nhằm giải thích những sự vật, hiện tượng và quá trình địa lý (cả mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội) hiện có hoặc đang xảy ra trong phạm vi địa phương. - Địa phương: Được hiểu là khu vực đất đai xung quanh khu vực trường đang đóng hoặc đơn vị lãnh thổ hành chính trong đó có địa điểm trường đóng. * Vai trò của khảo sát địa phương: + Giúp học sinh hiểu rõ về thực tế địa phương (những khó khăn, thuận lợi), làm cho các biểu tượng, các khái niệm địa lý thêm sinh động, làm cơ sở để hình thành các biểu tượng tưởng tượng. + Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và địa phương. * Muốn thực hiện tốt khảo sát địa phương giáo viên cần: + Nắm vững các điều kiện địa lý của địa phương: tự nhiên, kinh tế - xã hội, các ngành trọng điểm. + Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học vào việc khảo sát, củng cố những kiến thức thực tế để bổ xung cho bài giảng lý thuyết. * Các cách tiến hành khảo sát địa phương: + Thực địa. + Điều tra, tìm hiểu qua nhân dân địa phương - Nghe báo cáo: Đây là một cách khảo sát địa phương rất thường gặp, thường sử dụng cho những buổi khảo sát đông người. Người báo cáo phải là người có chuyên môn, có hiểu biết về một lĩnh vực nào đó. Các thông tin được báo cáo cũng cần được ghi chép đầy đủ. + Sử dụng tài liệu: Có vai trò rất quan trọng trong khảo sát địa phương, vì các số liệu, biểu bảng, tranh ảnh được lưu trữ bao giờ cũng có độ chuẩn và tính chính xác, rất cần thiết khi viết các báo cáo, bảng thu hoạch về quá trình khảo sát địa phương. Dựa vào các tài liệu sưu tầm được có thể phân tích để rút ra những nhận xét cần thiết. 41
  18. * Tổ chức khảo sát địa phương: Gồm có 3 bước: + Chuẩn bị: Thời gian, địa điểm, những dụng cụ cần mang. + Khảo sát: Gồm các cách như trên. + Tổng kết: Viết báo cáo, nhận xét về những kết quả thu được, những hạn chế. * Các hoạt động ngoại khoá còn bao gồm: - Tổ chức câu bạc bộ: + Kể chuyện địa lý. + Hỏi đáp về địa lý. + Giới thiệu các địa danh nổi tiếng. + Thi vẽ, điền bản đồ... - Tổ chức triển lãm: + Trưng bày các mẫu vật, tranh ảnh, hình vẽ về địa lý. + Các sách, tài liệu địa lý. + Trưng bày các đồ dùng trực quan tự tạo. - Tổ chức cắm trại, du lịch: Rất bổ ích trong việc dạy học địa lý, giúp tăng cường khả năng quan sát, nhận xét, đánh giá các hiện tượng địa lý. Æ Dù là các hình thức nào, thì các hoạt động ngoại khoá về địa lý cũng cần đảm bảo: + Phù hợp với hoàn cảnh học tập của học sinh (thời gian, vật chất). + Có sự kết hợp chặt chẽ với hoạt động nội khoá. + Buổi hoạt động ngoại khoá được tiến hành có tổ chức, có kỷ luật. + Cần có sự giúp đỡ của giáo viên, nhà trường, địa phương, nơi đến. 6.2.5. Hình thức tự học - Là hình thức học tập chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh. Có thể là: + Củng cố lại bài học trên lớp, hoàn thiện tiết học ở trên lớp (1). + Tìm tòi, phát hiện kiến thức mới có liên quan tới bài học (2). + Tham khảo, tìm hiểu về một vấn đề mới (3). 42
  19. Trước đây việc tự học mới chỉ dừng lại ở (1) và (2) do điều kiện về phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất còn hạn chế. Muốn tự học có kết quả cao rất cần có sự hỗ trợ của các phương tiện, thiết bị kỹ thuật dạy học. Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, lượng tri thức và thông tin ngày càng lớn, các phương tiện dạy học ngày càng phong phú và đa dạng, đó là những điều kiện hết sức thuận lợi cho học sinh có thể tự học ở mức độ (3). 6.3. Tiết học 6.3.1. Khái niệm Tiết học là một khoảng thời gian của quá trình dạy học, trong đó học sinh tích cực, tự giác lĩnh hội nội dung giáo dục và học vấn dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên để hình thành nhân cách và phát triển năng lực trí tuệ. - Trong tiết học thì nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học và phương pháp dạy học đều được thực hiện. 6.3.2. Cấu trúc Cấu trúc tiết học truyền thống gồm 5 bước: - Ổn định lớp. - Kiểm tra bài cũ. - Giảng bài mới. - Củng cố bài. - Ra bài tập về nhà. Ưu điểm: Tiết học ổn định, thực hiện được khá đầy đủ các nhiệm vụ, nội dung dạy học, dễ thực hiện đặc biệt với những giáo viên mới ra trường. Nhược điểm: + Gò bó, tẻ nhạt, đơn điệu (các tiết, các môn giống nhau). + Mới chỉ chú ý vào hoạt động của giáo viên. 43
  20. + Quá trình chỉ đạo, nhận thức của giáo viên và học sinh nhiều khi bị rời rạc, gián đoạn vì một mục đích: phải hoàn thành nhiệm vụ cấu trúc của tiết giảng. - Hiện nay, đã có nhiều quan điểm cho rằng nên xoá bỏ ranh giới rạch ròi của các bước trong một tiết giảng. Các bước trên vẫn hoàn thành tốt song được thực hiện đan xen, lồng ghép với nhau một cách hợp lý. Mục đích cuối cùng là hiệu quả dạy học tốt. Như vậy, một tiết học sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ sau. + Nhiệm vụ 1: Tổ chức lớp: Trước đây thường được tiến hành vào những phút đầu của tiết học (tổng số:.....; vắng:.....). Thực ra đây là một công việc cần tiến hành thường xuyên trong một giờ học, mục đích là đảm bảo không khí làm việc thuận lợi cho học sinh và giáo viên trong suốt giờ học. + Nhiệm vụ 2: Định hướng hoạt động nhận thức của học sinh: Trước đây là việc thông báo tên của bài học và ghi lên bảng. Điều đó chưa đủ. Thực chất của việc này là giáo viên phải định hướng bài học cho học sinh. Giáo viên cũng có thể đặt ra những câu hỏi lớn để hướng sự tư duy của học sinh vào nội dung bài học, để trả lời được câu hỏi đó thì phải giải quyết được nội dung bài học. + Nhiệm vụ 3: Sinh động hoá hay tích cực hoá các kinh nghiệm, các kiến thức cũ của học sinh. Mục đích: - Yêu cầu học sinh tái hiện lại kiến thức cũ (những câu hỏi yêu cầu thuộc lòng). - Vận dụng kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó (Có thể là giải bài tập). - Liên hệ kiến thức cũ với kiến thức sắp học (định hướng). Mục đích quan trọng nhất của tiết học là làm cho học sinh nắm được kiến thức và kỹ năng mới, nắm được bản chất của vấn đề và biết vận dụng 44
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2