intTypePromotion=3

Đề cương ôn tập khuyến nông 2009

Chia sẻ: Phan Tien Diep | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
184
lượt xem
62
download

Đề cương ôn tập khuyến nông 2009

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khuyêń nông “Agricultural extension” là môṭ thuâṭ ngữ khó xać điṇ h thôń g nhât́ bơỉ vì để đạt đươc̣ muc̣ tiêu cơ ban̉ sao cho nông nghiêp̣ phat́ triên̉ , nông thôn phat́ triên̉ cać nươć khác nhau, cać nhà khuyêń nông khać nhau, nông dân khać nhau hiêủ khuyêń nông co ́ khać nhau, do bơỉ khuyêń nông:

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương ôn tập khuyến nông 2009

  1. TÀI LIỆU ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KHUYẾN NÔNG 2009 -1-
  2. MỤC LỤC MỤC LỤC ................................................................................................................................... - 2 - ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KHUYẾN NÔNG 2009 ........................................................................ - 3 - CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG VỀ KHUYẾN NÔNG ................................................................. - 3 - 1. Khái niệm khuyến nông theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng .................................................... - 3 - 2. Nhiệm vụ chức năng của khuyến nông Việt Nam (theo NĐ 13CP ngày 2/3/1993 và NĐ 56CP, ngày 24/06/2005).......................................................................................................................... - 3 - 3. Vai trò của khuyến nông........................................................................................................... - 4 - 4. Nguyên tắc của khuyến nông ................................................................................................... - 5 - 5. Một số khó khăn, thuận lợi và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác khuyến nông. ................................................................................................................................ - 7 - 1. Nhiệm vụ của trạm khuyến nông và khuyến nông viên cơ sở................................................ - 10 - 2. Mạng lưới khuyến nông làng xã............................................................................................. - 10 - 3. Yêu cầu của cán bộ khuyến nông ........................................................................................... - 10 - Nhìn chung cán bộ khuyến nông phải 3 biết: biết nói - biết làm - biết viết ............................... - 11 - CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN VIỆT NAM . - 11 - 1. Đặc điểm tâm lý của nông dân, phong tục tập quán............................................................... - 11 - Tầm quan trọng của nghiên cứu đặc điểm tâm lý phong tục tập quán ....................................... - 13 - 2. Quyền lực uy thế ở nông thôn ................................................................................................ - 13 - 1. Đặc điểm dạy và học của người lớn tuổi ................................................................................ - 14 - 2. Yêu cầu của giảng viên khuyến nông..................................................................................... - 15 - 3. Chất lượng truyền thông......................................................................................................... - 16 - Nguồn tin .................................................................................................................................... - 17 - Yêu cầu người (nguồn) truyền thông khuyến nông.................................................................... - 17 - Phương tiện thiết bị thông tin ..................................................................................................... - 17 - CHƯƠNG 5: PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG ............................................................... - 17 - Phương pháp thu thập thông tin.................................................................................................. - 18 - Xử lý thông tin............................................................................................................................ - 19 - Xây dựng viết dự án khuyến nông.............................................................................................. - 20 - Lập kế hoạch đào tạo .................................................................................................................. - 22 - -2-
  3. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KHUYẾN NÔNG 2009 CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG VỀ KHUYẾN NÔNG 1. Khái niệm khuyến nông theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng ∗ Khuyến nông “Agricultural extension” là một thuật ngữ khó xác định thống nhất bởi vì để đạt được mục tiêu cơ bản sao cho nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển các nước khác nhau, các nhà khuyến nông khác nhau, nông dân khác nhau hiểu khuyến nông có khác nhau, do bởi khuyến nông: - Tổ chức bằng nhiều cách. Mỗi quốc gia khác nhau có những cách tổ chức khuyến nông khác nhau. Mục tiêu cụ thể khuyến nông đối với các nước công nghiệp phát triển khác với các nước nông nghiệp và nông nghiệp lạc hậu có khác nhau… - Phục vụ cho nhiều mục đích: phát triển trồng trọt, chăn nuôi, chế biến bảo quản nông sản, thú ý, bảo vệ thực vật, tổ chức quản lý sản xuất có khác nhau. - Mỗi tầng lớp nông dân khác nhau hiểu nghĩa khuyến nông khác nhau. Người trồng trọt, chăn nuôi, người giàu, nghèo khác nhau hiểu khuyến nông khác nhau. Người giàu trình độ dân trí cao cần thông tin và kinh nghiệm tổ chức sản xuất, người nghèo mong muốn ở khuyến nông sự huấn luyện và tài trợ… Khuyến nông theo nghĩa hẹp: khuyến nông được hiểu là công việc khi có những tiến bộ kỹ thuật mới (TBKT) do các cơ quan nghiên cứu, cơ quan đào tạo, nhà nghiên cứu…sáng tạo ra làm thế nào để nhiều nông dân biết đến và áp dụng có hiệu quả. Có nghĩa: khuyến nông là chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Ví dụ giúp nông dân biết và áp dụng trồng giống ngô Bioseed, giống ngô VN10, giống táo Xuân 21, kỹ thuật nuôi gà Tam hoàng…. Theo nghĩa rộng: khuyến nông hoạt động trong nhiều lĩnh vực cho nhiều đối tượng khác nhau 2. Nhiệm vụ chức năng của khuyến nông Việt Nam (theo NĐ 13CP ngày 2/3/1993 và NĐ 56CP, ngày 24/06/2005). Nhiệm vụ chức năng của khuyến nông Việt Nam theo NĐ 13CP ngày 2/3/1993 - Phổ biến những tiến bộ trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản và những kinh nghiệm điển hình tiên tiến cho nông dân. - Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. - Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin về thị trường giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Nhiệm vụ chức năng của khuyến nông Việt Nam trong tình hình mới theo quyết định NĐ 56CP ngày 24/06/2005 - Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất. - Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. - Huy động nguồn lực từ các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông, khuyến ngư. -3-
  4. 3. Vai trò của khuyến nông Vai trò cầu nối - Cầu nối nông dân với Nhà nước: Đất nước ta có 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, nên mọi người dân không thể hiểu được mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng, chính phủ về nông nghiệp. Khuyến nông có vai trò giúp nông dân nâng cao nhận thức trong quá trình sản xuất sao cho sản xuất có hiệu quả và phù hợp với đường lối lãnh đạo của Nhà nước. Ngược lại, thông qua cấu nối khuyến nông Đảng và Chính phủ hiểu được tâm tư nguyện vọng của nông dân, những nhu cầu bức xúc của nông dân trong sản xuất, cuộc sống và phát triển nông thôn - Nhà nước - Nghiên cứu - Môi trường - Thị trường NÔNG DÂN - Nông dân sản xuất giỏi - Các doanh nghiệp - Các ngành - Các đoàn thể - Quốc tế - Cầu nối nông dân với nghiên cứu: khuyến nông giúp nông dân lựa chọn áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới phù hợp với địa phương mình, gia đình mình. Ngược lại qua quá trình nông dân áp dụng những sáng tạo kỹ thuật mới mà các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu khoa học biết nên nghiên cứu những gì cho phù hợp với sản xuất. - Cầu nối nông dân với môi trường: nông nghiệp một nước đang phát triển và phát triển phải quan tâm đến vấn đề môi trường. Sản xuất nông nghiệp theo mục tiêu sản xuất hàng hóa lại càng phải lưu ý tới môi trường để sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp an toàn cho đời sống và môi trường sống của mọi người dân trong cộng đồng và xã hội. - Cầu nối nông dân với thị trường: - Cầu nối nông dân với nông dân sản xuất giỏi - Cầu nối nông dân với các doanh nghiệp: các doanh nghiệp có tầm quan trọng giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp. Khuyến nông đã góp phần tăng cường mối iên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp. - Cầu nối nông dân với các tổ chức chính quyền, đoàn thể và các ngành hữu quan: khuyến nông không hiệu quả nếu hoạt động đơn độc. Hoạt động khuyến nông mang tính cộng đồng. Thực hiện một nội dung nào đó cần có sự giúp đỡ phối hợp chặt chẽ của mọi cấp, mọi ngành, mọi đoàn thể. - Cầu nối nông dân với quốc tế: để có được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, tiếp cận thị trường thế giới cần có vai trò của khuyến nông. Khuyến nông giúp nông dân nhận biết trong cơ chế kinh tế hội nhập hiện nay nên sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và thị trường tiêu sản phẩm… - Mối liên kết bốn nhà: một trong những cầu nối khuyến nông quan tâm hiện nay là mối Liên kết bốn nhà trong công tác khuyến nông là khá quan trọng có tác dụng nâng cao kết quả sản xuất nông nghiệp. ∗ Nhà nước trong mối liên kết này thể hiện xác định định hướng và kế hoạch thực hiện cho các hoạt động của các doanh nghiệp cũng như nghiên cứu của cơ quan khoa học, các nhà khoa học, Nhà nước xây dựng pháp chế, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngành. -4-
  5. ∗ Các nhà khoa học cần nghiên cứu những gì đáp ứng cho nhu cần sản xuất nông nghiệp của nông dân thì nghiên cứu đó mới có ý nghĩa. Họ cần liên kết với các doanh nghiệp để thu hút nguồn vốn phục vụ nghiên cứu thúc đẩy nhanh đưa TBKT học vào sản xuất. Các nhà khoa học cũng là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp triển khai đưa các TBKT vào sản xuất. ∗ Nhà doanh nghiệp thường phải phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học và khuyến nông công tác nghiên cứu cũng như chuyển giao kết quả TBKT vào sản xuất. Nhà doanh nghiệp còn có vai trò giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp của nông dân. Họ giải quyết vốn, vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp. ∗ Mọi tác động của Nhà nước, Nhà khoa học cũng như nhà doanh nghiệp ở mối liên kết này đều tác động đến nông dân mới thể hiện hiệu quả. Khuyến nông có vai trò cầu nối trong mối liên kết này. Nông dân là nhân tố bên trong quyết định nhưng khuyến nông là tác nhân bên ngoài rất quan trọng. Khuyến nông có vai trò trong chuyển đổi nền kinh tế của đất nước. - Thứ nhất: giai đoạn sản xuất nông nghiệp HTX, nông trường quốc doanh, nông dân làm ăn tập thể, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước. Mỗi hợp tác xã cũng như nông trường quốc doanh đều có tổ KHKT để thực thi những nhiệm vụ chỉ đạo của ban quản trị hợp tác xã…Mọ TBKT, tiến bộ trong tổ chức quản lý sản xuất từ cấp trên quán triệt đến HTX, nông trường quốc doanh được xem như hoàn thành. Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình “Khoán 10”, người nông dân tự do kinh doanh trên mảnh đất, chuồng trại…của mình nên khuyến nông cần đến từng hộ gia đình và thậm chí phải đến từng người lao động. - Thứ hai: chúng ta chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp, từ sản xuất nông nghiệp theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa đã gặp rất nhiều khó khăn rất cần vai trò cầu nối của khuyến nông. Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ trung ương đến địa phương. - Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ trung ương đến địa phương. Cơ cấu tổ chức hệ thống khuyến nông quốc gia có số lượng cán bộ khuyến nông của nhà nước rất hạn chế. Khuyến nông góp phần xóa đói giảm nghèo - Mục tiêu cơ bản của khuyến nông là làm thế nào để nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nông thôn, chúng ta đã phân biệt sự khác nhau rất cơ bản khuyến nông với khuyến mại nông nghiệp. Dựa án lớn 135 coi trọng vấn đề dân số, sinh đẻ có kế hoạch, nước sạch nông thôn… nhằm xóa đói giảm nghèo. Nhiều chương trìnhd dự án về an ninh lương thực ở các nơi, đặc biệt vùng sâu vùng xa được khuyến nông coi trọng… Khuyến nông đã liên kết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất: khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình ở nông thôn có sự phân hóa. Có những hộ gia đình sản xuất rất thành đạt do họ có trình độ nhận thức cao, có vốn, có lao động…có những hộ gia đình làm ăn yếu kém, gặp rủi ro dẫn đến cuộc sống khó khăn. Nhà nước ta không thể không lưu tâm đến tính tiêu cực: “Đèn nhà ai nhà đó rạng” của sản xuất kinh tế hộ. Khuyến nông đã làm tốt vai trò cầu nối giữa những nông dân sản xuất giỏi với mọi người dân, nhất là nông dân sản xuất yếu kém trong cộng đồng. Ví dụ khuyến nông coi trọng tổ chức các hội nghị, hội thảo, tham quan học tập các điển hình, tổ chức các câu lạc bộ khuyến nông…Những việc làm đó đã liên kết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất. 4. Nguyên tắc của khuyến nông Điều 3 NĐ số 56/2005/NĐ-CP đã quy định “Nguyên tắc hoạt động khuyến nông, khuyến ngư” gồm 5 điều sau: - Xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất và yêu cầu phát triển nông nghiệp, thủy sản. -5-
  6. - Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp với người sản xuất và giữa người sản xuất với nhau. - Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, khuyến ngư - Dân chủ, công khai, có sự tham gia tự nguyện sản xuất của người sản xuất. - Các hoạt động khuyến nông, khuyến ngư phải phù hợp và phục vụ chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sản xuất hàng hóa phục vụ yêu cầu sản xuất. Qua thực tế công tác tại địa phương, để nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông có thể cụ thế hóa một số nguyên tắc sau: ∗ Tự nguyện, dân chủ cùng có lợi - Nông dân tự nguyện: kinh tế hộ gia đình, trang trại và sản xuất theo hướng nông nghiệp hàng hóa là phương hướng phát triển nông nghiệp của nước ta. Người nông dân tự do kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình nên tính tự chủ của nông dân là yếu tố quyết định. Nông dân tự chủ và tự nguyện trong sản xuất. Thực tế những năm qua đã cho thấy những gì nông dân thấy có lợi họ tự quyết định thực hiện sẽ là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định sự thành công. - Cán bộ khuyến nông tự nguyện: công tác khuyến nông nhiều khi rất vất vả, nhất là khuyến nông vùng sâu vùng xa, trình độ dân trí thấp, điều kiện sống khó khăn thì lòng nhiệt tình, tự nguyện công tác của cán bộ khuyến nông rất quan trọng. Cán bộ khuyến nông có tự nguyện mới có ý thức và nhiệt tình, sáng tạo trong công tác. - Khuyến nông không nên áp đặt mệnh lệnh: tự nguyện là nguyên tắc cơ bản của khuyến nông nên khuyến nông không nên áp đặt mệnh lệnh. Khuyến nông không nên vì thành tích nào đó mà vận động hoặc gò ép cán bộ địa phương và nông dân thực hiện khi họ còn do dự nhận thấy việc họ làm chưa chắc có hiệu quả. - Khuyến nông không làm thay nông dân: khuyến nông làm tốt công tác đào tạo huấn luyện nông dân nhưng tuyệt nhiên không làm thay họ. Ví dụ khuyến nông giúp nông dân hiểu biết nguyên nhân, cách phòng chống bệnh cúm gà, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo cho nông dân biết cách phòng chống bệnh cúm gà để họ chủ động trong chăn nuôi chứ không làm thay người nông dân phòng chống bệnh cúm gà. ∗ Khuyến nông không bao cấp, nhưng có hỗ trợ, nông dân tự lực tự cường, nông dân là nhân tố bên trong quyết định, khuyến nông là nhân tố bên ngoài quan trọng. - Khuyến nông không nên bao cấp nhưng có hỗ trợ: bao cấp là cho không nông dân. Hiện nay để khích lệ nông dân, ở khâu này khâu khác khuyến nông còn có bao cấp. Khuyến nông không bao cấp mà chỉ có hỗ trợ một phần còn có cơ sở liên quan đến tâm lý con người. Những gì mà bản thân ta làm ra ta rất trân trọng, đồng tiền do mồ hôi nước mắt ta làm ra ta sử dụng nó rất cân nhắc sao cho hữu ích. - Sự nỗ lực của nông dân là hết sức quan trọng, nó là nhân tố bên trong mang tính quyết định. ∗ Khuyến nông làm tốt vai trò cấu nối và thông tin hai chiều - Điều kiện dân trí, kinh tế, văn hóa…của nông dân có nhiều hạn chế nên vấn đề thông tin đối với nông dân là rất quan trọng. - Khuyến nông phải làm tốt vai trò cầu nối và thông tin hai chiều. Có rất nhiều cầu nối nhưng khuyến nông cần đặc biệt coi trọng cầu nối giữa nông dân với nghiên cứu. - Vai trò cầu nối của khuyến nông trong mối liên kết bốn nhà. ∗ Khuyến nông phải đảm bảo tính công khai, công bằng. - Tính công bằng khuyến nông thể hiện ở chỗ công bằng giữa các địa phương và công bằng nông dân trong cùng địa phương. Các địa phương cùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa…như nhau cần được sự quan tâm của khuyến nông Nhà nước như nhau. Tâm lý của nông dân ta là khó khăn cùng chịu, quyền lợi cùng hưởng. Tuy nhiên với suy nghĩ “cào bằng” của -6-
  7. nông dân là không phù hợp trong công tác khuyến nông. Khuyến nông rất quan tâm đến những đối tượng nông dân nghèo khó làm ăn kém hiệu quả. Những đối tượng này cần giúp họ nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, địa vị xã hội…Trong điều kiện lực lượng, kinh phí có nhiều hạn chế chúng ta cần suy nghĩ những giải pháp hiệu quả tại một vùng nông thôn cụ thể. ∗ Khuyến nông phải phù hợp với đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ. - Đây là lẽ đương nhiên vì kinh nghiệm thực tiễn bao năm đấu tranh giành lại độc lập tự do cũng như xây dựng đất nước có vị thế như hiện nay chúng ta phải khẳng định tính lãnh đạo toàn diện của Đảng và Nhà nước ta. Khuyến nông phải thực hiện theo đường lối lãnh đạo của Đảng và Chính phủ. - Mọi chương trình dự án khuyến nông nếu phù hợp với đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ thì nội dung khuyến nông đó triển khai thuận lợi, có khả năng thành công. Hoặc ít ra nội dung khuyến nông không đối ngược với đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ thì mới có cơ hội thành công. Nếu nội dung khuyến nông đi ngược với đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ thì nội dung khuyến nông đó rất khó thực hiện. ∗ Khuyến nông không hoạt động độc lập mà phải phối hợp với các ngành, các cấp, các tổ chức và dịch vụ hỗ trợ. - Điều kiện dân trí, kinh tế, văn hóa…của nông dân có nhiều hạn chế nên vấn đề thông tin đối với nông dân là rất quan trọng. - Khuyến nông phải làm tốt vai trò cầu nối và thông tin hai chiều. Có rất nhiều cầu nối nhưng khuyến nông cần đặc biệt coi trọng cầu nối giữa nông dân với nghiên cứu. - Vai trò cầu nối của khuyến nông trong “liên kết bốn nhà”. Trong mối liên kết này khuyến nông phải làm tốt công tác thông tin hai chiều giữa nông dân với Nhà nước, nông dân với nghiên cứu, nông dân với các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu với các doanh nghiệp. 5. Một số khó khăn, thuận lợi và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác khuyến nông. Những khó khăn ∗ Do nền kinh tế tự chủ lâu dài - khó khăn sau hậu chiến chống Mỹ - Lịch sử phát triển xã hội gắn liền với lịch sử đấu tranh giữ nước và chống ngoại xâm triền miên của nhân dân ta. Hàng ngàn năm trước đây chúng ta phát huy cao độ nền kinh tế độc lập tự chủ. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu. Sau cách mạng tháng Tám, Đảng và Chính phủ rất quan tâm và nỗ lực phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên kết tiếp 9 năm kháng chiến trường kỳ rồi đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước không cho phép nông nghiệp có điều kiện phát triển. - Trong công cuộc đấu tranh chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng xây dựng miền Bắc là hậu phương vững chắc có tính khá quyết định đến thắng lợi giải phóng miền Nam đi đến thống nhất đất nước. Xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc giai đoạn 1960-1975 là một hướng đúng đắn và cấp thiết đã tạo cơ hội thuận lợi cho Đảng và Nhà nước huy động được mức tối đa sức người và của phục vụ cho tiền tuyến. Có thể nói không có tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc thì chưa chắc chúng ta đã giải phóng được miền Nam năm 1975. - Tuy nhiên, do sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp lâu dài, do sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước kèm theo bao cấp đã hình thành tư tưởng trì trệ trong sản xuất, trong đợi sự giúp đỡ của Nhà nước nên đã gây cản trở cho công tác khuyến nông. ∗ Khó khăn do chuyển đổi nền kinh tế của đất nước. - Sau nghị quyết 10 của Bộ chính trị, ban chấp hành TW Đảng khóa V, thực hiện “chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp” là một bước ngoặt lớn trong sản xuất nông nghiệp của đất nước. Chúng ta đã chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình, sản xuất theo hướng nông -7-
  8. nghiệp hàng hóa có sự lãnh đạo điều phối của Nhà nước. Công tác khuyến nông có 2 khó khăn lớn: - Thứ nhất: nếu như trước đây công tác khuyến nông đến HTX được xem như khâu cuối cùng thì nay công tác khuyến nông phải khuyến nông đến từng hộ gia đình và thậm chí khuyến nông đến từng người lao động. - Thứ hai: chúng ta chưa quen với sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Để sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa cần: • Số lượng sản phẩm lớn, không thể sản xuất manh mún quy mô nhỏ, lượng sản phẩm ít ỏi theo nhu cầu cần thiết hàng ngày của nông dân. Vấn đề này liên quan đến định hướng sản xuất, sản xuất cái gì, tổ chức sản xuất như thế nào… • Chất lượng sản phẩm tốt, ngoài sản xuất những cái người nông dân cần còn phải sản xuất cái có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ. • Bao bì mẫu mã sản phẩm đẹp, sử dụng tiện lợi. • Tiếp cận, tiếp thị thị trường là khâu không kém phần quan trọng. ∗ Đời sống nông dân thấp, trình độ dân trí chưa cao - Từ nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu chúng ta đã phấn đấu vươn lên là một nước nông nghiệp đang phát triển, từ nước thiếu lương thực triền miên trong nhiều năm đã trở thành một nước thừa lương thực, xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 trên thế giới. Nhiều sản phẩm lương thực, thực phẩm đã và đang chiếm lĩnh thị trường thế giới như cao su, cà phê, tôm cá…có thể nói đời sống nông dân còn nhiều khó khăn hơn so với các tầng lớp khác trong xã hội. Nguyên nhân do bởi: - Dân đông, dân trí còn nhiều hạn chế: dân đông là một khó khăn lớn vì như ta đã biết một trong những mục tiêu của khuyến nông là nâng cao đời sống kinh tế nông dân. Dân càng đông, tốc độ tăng dân số càng lớn khó khăn trong việc nâng cao mức sống cho nông dân. Cho đến nay theo kết quả thống kê của chương trình 135 cho thấy cả nước còn trên 3000 xã nghèo. Trong số này phần lớn những gia đình nghèo thuộc diện đông con. Với mức tăng năng suất lao động không đáp ứng được mức tăng dân số. Chính vì thế tuyền truyền hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch là một nội dung cần đặc biệt quan tâm trong công tác khuyến nông - Dân trí thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo khó và khó khăn cho công tác khuyến nông. Những năm gần đây trình độ dân trí ở nông thôn đã được nâng cao đáng kể. Trình độ dân trí của nông dân miền núi, vùng sâu vùng xa cũng được nâng cao nhưng còn hạn chế. Dân trí thấp thể hiện ở nhiều mặt như: trình độ văn hóa còn thấp, không đồng đều. Ở miền núi rẻo cao, lớp người trung niên trở lên còn nhiều người chưa biết chữ, không nói được tiếng phổ thông. Dân trí thấp còn do thiếu thông tin… ∗ Cơ sở hạ tầng còn thấp kém: - Cơ sở hạ tầng nông thôn là đường giao thông, phương tiện giao thông, kho tàng bến bãi, là trạm xã, điện, nước…Nhiều nơi miền núi cơ sở hạ tầng quá thấp kém. Cơ sở hạ tầng đã gây khó khăn trực tiếp đến đời sống nông dân, hạn chế lao động sản xuất, khó khăn đến thực hiện các chương trình dự án khuyến nông ∗ Đội ngũ cán bộ khuyến nông còn nhiều hạn chế: - Hệ thống khuyến nông của nước ta mới thành lập năm 1993, năm 1996 một số trường đại học mới đưa môn học khuyến nông vào chương trình đào tạo, năm 2000 trường Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học sớm nhất của nước ta mới bắt đầu đào tạo chuyên ngành khuyến nông và phát triển nông thôn…nên chúng ta chưa có kỹ sư chuyên ngành khuyến nông. Mặt khác do kinh phí đầu tư cho công tác khuyến nông của nước ta còn rất nhiều hạn chế nên biên chế cán bộ khuyến nông cho các cấp khuyến nông rất ít ỏi. Nghĩa là chúng ta còn thiếu cán bộ khuyến nông so với nhu cầu sản xuất và chưa có được đội ngũ cán bộ khuyến nông giỏi nghiệp vụ khuyến nông. Nhiều năm trước đây cán bộ khuyến nông viên cơ sở thôn -8-
  9. xã là những khuyến nông tự nguyện không có phụ cấp hoặc phụ cấp do dân đóng góp, do địa phương tài trợ. Những cái đó ít nhiều có hạn chế đến kết quả của công tác khuyến nông. - Gần đây Nhà nước (TW và địa phương) đã có chính sách khích lệ khuyến nông cơ sở như: tăng cường đội ngũ cán bộ khuyến nông cấp huyện cho những vùng núi 6-9 cán bộ khuyến nông/Trạm khuyến nông, Nhà nước phụ cấp cho mỗi xã có 1 câu lạc bộ khuyến nông…Môn học khuyến nông được xếp là môn học cứng trong chương trình đào tạo của các trường đại học, một số trường mở đào tạo chuyên ngành khuyến nông và phát triển nông thôn, đào tạo trên đại học khuyến nông và phát triển nông thôn. Thuận lợi - Nông dân Việt Nam rất cần cù lao động - Đời sống của nông dân thấp: dân đông, dân trí thấp là khó khăn cho hoạt động khuyến nông nhưng nó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của người nông dân. Sự nghèo khó, đời sống thấp lại là thuận lợi cho công tác khuyến nông. Do cuộc sống còn nghèo khó người nông dân luôn mong muốn cuộc sống có sự đổi mới đó chính là thuận lợi cho công tác khuyến nông. - Nông dân Việt Nam rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ: Nông dân ta rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ. Sau những năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế nước nhà gặp rất nhiều khó khăn, đời sống thiếu thốn trong xã hội lúc đó xuất hiện luồng tư tưởng hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, cho rằng Đảng ta chỉ có tài lãnh đạo chống giặc ngoại xâm mà không có tài lãnh đạo kinh tế. Thống kê cho thấy luồng tư tưởng hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng ít thấy ở tầng lớp nông dân mà chủ yếu ở một số tầng lớp phi nông nghiệp. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác khuyến nông - Tăng cường khuyến nông cộng đồng - xã hội hóa khuyến nông Thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, để phát triển nông nghiệp nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho nông dân, bộ mặt nông thôn ngày càng văn minh hiện đại, mối quan hệ giữa những người nông dân sống trong cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn thì công tác khuyến nông không phải chỉ là nhiệm vụ của các tổ chức khuyến nông, cán bộ khuyến nông mà là trách nhiệm chung tổng hợp của mọi ngành, mọi tổ chức xã hội và dịch vụ hỗ trợ. Công tác khuyến nông cần được xã hội hóa: ∗ Khuyến nông cần phát huy vai trò cầu nối và thông tin hai chiều tới nông dân. Khuyến nông Nhà nước là trụ cột tăng cường sự phối hợp giữa các cá nhân, các tổ chức và dịch vụ hỗ trợ giúp nông dân sản xuất có hiệu quả. ∗ Nông dân tự do kinh doanh trên mảnh đất của mình. Họ cần năng động, chủ động trong sản xuất, tìm kiếm sự trợ giúp và thiết lập các mối liên kết trong sản xuất. Ví dụ nông dân liên kết với cơ quan khoa học trong công tác bảo vệ thực vật, nông dân liên kết với một đại lý tư nhân cung cấp vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vốn đầu tư và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp… ∗ Tăng cường khuyến nông tự nguyện của các ngành, các cơ quan cũng như khuyến nông tự nguyện của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước. - Tăng cường đội ngũ, tổ chức quản lý, nâng cao vị thế hệ thống khuyến nông quốc gia: công tác này trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ. Sự thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý khuyến nông ở cấp trung ương là thể hiện sự hợp lý trong công tác quản lý. Mạng lưới khuyến nông làng xã được mở rộng cũng với trách nhiệm và quyền lợi khuyến nông viên làng xã được quan tâm. Công tác quản lý các chương trình khuyến nông được coi trọng… - Nội dung và phương pháp khuyến nông: hoạt động của hệ thống khuyến nông tập trung vào các nhiệm vụ: ∗ Xây dựng mô hình trình diễn -9-
  10. ∗ Tập huấn, đào tạo cho nông dân ∗ Hội thảo tham quan CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC, QUẢN LÝ KHUYẾN NÔNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA KHYẾN NÔNG VIỆT NAM 1. Nhiệm vụ của trạm khuyến nông và khuyến nông viên cơ sở Nhiệm vụ của trạm khuyến nông - Đưa những tiến bộ kỹ thuật theo các chương trình, dự án khuyến nông, lâm, ngư và sản xuất đại trà trên địa bàn phụ trách - Xây dựng mô hình trình diễn - Hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, lâm, ngư dân - Tổ chức tham quan học tập các điển hình tiên tiến - Bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn kỹ thuật, kinh tế, thị trường cho cán bộ khuyến nông cơ sở. - Xây dựng các câu lạc bộ khuyến nông sản xuất giỏi hoặc nhóm hộ, nông, lâm ngư cùng sở thích Nhiệm vụ của khuyến nông viên cơ sở - Thực tế trong công tác khuyến nông, để đạt được hiệu quả công tác, các cán bộ khuyến nông cơ sở của nhiều lãng xã thảo luận và đã thống nhất đưa ra 5 nhiệm vụ cơ bản của khuyến nông viên. - Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết về chuyên môn, kinh tế, xã hội và nghiệp vụ khuyến nông - Là cố vấn kỹ thuật và thông tin cho nông dân - Thực thi các chương trình, dự án khuyến nông trên địa bàn mình phụ trách - Thực hiện tổ chức và theo dõi các mô hình sản xuất trình diễn. - Điều tra thu thập thông tin làm cở sở để xây dựng các dự án khuyến nông 2. Mạng lưới khuyến nông làng xã Khuyến nông viên lãng xã - Cán bộ khuyến nông viên cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng vì họ là những người dân sống trong cộng đồng, họ hiểu sâu sắc tâm tự nguyện vọng của người dân hơn ai hết. Họ là nhân tố thúc đẩy cao tác dụng nông dân khuyến nông nông dân. Lực lượng này đã phát huy vai trò cầu nối của khuyến nông giữa nông dân với các nhà khoa học các cơ quan, các ngành… - Để khích lệ cán bộ khuyến nông nông viên cơ sở có nơi giải quyết sáng tạo bằng cách cho phép họ mở các dịch vụ khuyến nông mua bán nông sản phẩm và vật tư nông nghiệp. Công việc mở các đại lý như trên được xem như kinh doanh hợp pháp nhưng họ phải quan tâm đến công tác khuyến nông. Ví dụ họ cung ứng giống cây trồng, vật nuôi phải theo chỉ đạo của khuyến nông, đảm bảo số lượng, chất lượng tốt, đúng chủng loại và hướng dẫn theo dõi của nông dân thực hiện có hiệu quả. - Giải phải trên có kết quả tốt. Tuy nhiên, có một số cán bộ khuyến nông đã nặng về kinh doanh, khuyến mại nông nghiệp nên họ không được phép hoạt động. 3. Yêu cầu của cán bộ khuyến nông Cán bộ khuyến nông là người trực tiếp đào tạo các tiểu giáo viên khuyến nông hoặc đào tạo trực tiếp nông dân họ phải có 6 biết: ∗ Biết mình: mình cần biết những thế mạnh và thế yếu của bản thân ∗ Biết người: đối phương có những thế mạnh, yếu ra sao. Cần biết đặc điểm tâm lý, nguyện vọng của đối phương ∗ Biết thời: biết thời cơ cho hành động của ta ∗ Biết đủ: cần nhận biết tổng hợp mọi diễn biến và các tình huống có thể xảy ra. - 10 -
  11. ∗ Biết dùng: cần có khả năng dùng người và sử dụng tổng hợp mọi thế mạnh, khắc phục những điểm yếu. ∗ Biết biến: Nhìn chung cán bộ khuyến nông phải 3 biết: biết nói - biết làm - biết viết Cán bộ khuyến nông phải biết nói: nói chính xác, nói sao cho nông dân dễ hiểu, nói sao cho người nghe thích nghe, chăm chú theo dõi. Cán bộ khuyến nông phải là người thực hành tốt, tay nghề vững vàng, là người miệng nói tay làm, cầm tay chỉ việc Cán bộ khuyến nông phải biết viết, tức là biết viết báo cáo, biết phân tích và tổng hợp vấn đề, biết tuyên truyền quảng bá nhân những đổi mới ra diện rộng. Để làm tốt công tác khuyến nông cán bộ khuyến nông cần có một số yêu cầu cụ thể sau: Trình độ chuyên môn: chuyên môn thể hiện trong khuyến nông gồm nhiều lĩnh vực: - Kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, thú y, thủy sản, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản… - Kinh doanh và quản lý kinh tế nông nghiệp - Khoa học phát triển nông thôn - Xã hội học nông thôn, phong tục tập quán và ngôn ngữ. - Hiểu biết tâm lý của nông dân và phương pháp đào tạo phi chính quy đối với người lớn tuổi Một cán bộ khuyến nông ít có khả năng và không nhất thiết phải giỏi tất cả mọi lĩnh vực nhưng cần giỏi ít nhất một trong những lĩnh vực trên. Phẩm chất đạo đức: ngoài yêu cầu chung về phẩm chất đạo đức của một con người, cán bộ khuyến nông cần nhấn mạnh: - Là người luôn biết yêu quý nông thôn, gắn bó với nông thôn, tôn trọng nông dân, tôn trọng những tri thức của nông dân - Tự nguyện, nhiệt tình công tác, không quản ngại gian khó. Thấu cảm với cuộc sống nông dân. Cán bộ khuyến nông phải sống hòa đồng với nông dân, thực hiện cuộc sống 3 cùng với nông dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc). Nghiệp vụ và chất lượng của khuyến nông - Phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, có nghĩa là cán bộ khuyến nông phải am hiểu chuyên môn rộng, đặc biệt là lĩnh vực chuyên môn bản thân đang thực hiện khuyến nông. Nghĩa là cán bộ khuyến nông thực sự là chuyên gia cố vấn cho nông dân - Phụ thuộc vào lòng tính nhiệm đối với nông dân. Tín nhiệm của một cán bộ khuyến nông đối với nông dân lại phụ thuộc khá nhiều yếu tố như: tuổi tác, trình độ học vấn, địa vị và sự thành đạt của bản thân… - Phụ thuộc vào nghiệp vụ khuyến nông, tức là năng lực và kinh nghiệm khuyến nông như: ∗ Am hiểu nông dân và nông thôn ∗ Khả năng tiếp cận, xâm nhập quần chúng. ∗ Khả năng truyền đạt thông tin ∗ Khả năng đào tạo phi chính quy đối với nông dân, biết lựa chọn phương pháp khuyến nông hợp lý. ∗ Khả năng đề xướng và giải quyết vấn đề CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN VIỆT NAM 1. Đặc điểm tâm lý của nông dân, phong tục tập quán. Đặc điểm tâm lý của nông dân Gia trưởng, độc đoán: ∗ Hệ tư tưởng thời kỳ phong kiến coi thường phụ nữ, địa vị của người phụ nữ trong xã hội rất thấp kém: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Chủ gia đình là cha, - 11 -
  12. chồng những người trai trưởng. Họ là chủ quyết định mọi hoạt động của gia đình, làng xóm. Hệ tư tưởng này kéo dài hàng ngàn năm nên xuất hiện tính độc đoán, gia trưởng của nhiều chủ gia đình, chủ làng xóm, chủ cơ quan và một số người lớn tuổi trong xã hội. ∗ Chủ gia đình có những ưu điểm duy trì tôn ty trật tự trong một gia đình và xã hội. Song đó cũng là khó khăn cho công tác khuyến nông. Khuyến nông cần quan tâm tác động đến chủ gia đình vì họ quyết định mọi hoạt động trong gia đình. Chủ một gia đình không chấp nhận đổi mới áp dụng một công việc khuyến nông nào đó thì công việc khuyến nông khó áp dụng được. Định mệnh, bảo thủ, thiếu óc sáng tạo. ∗ Con người ta, đặc biệt là nông dân rất tin vào số mệnh. Mỗi con người có một số mệnh đã định. Sống chết có số, sướng khổ có số, may rủi có số, vất vả nhàn hạ có số… ∗ Đặc điểm tâm lý này xuất hiện phần lớn do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp - Thứ nhất: hàng nhiều ngàn năm thực tiễn nông nghiệp cho thấy thành quả của sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng khá lớn của điều kiện tự nhiên. Từ đó rất nhiều nông dân cho rằng nhờ trời, trời cho ăn thì được không cho ăn thì chịu - Thứ hai: thực tiễn sản xuất nông nghiệp cho thấy những biến đổi nông nghiệp chậm chạp không “đột biến nhảy vọt” như các lĩnh vực khoa học khác. Nông dân, nhất là nông dân những nước nông nghiệp vẫn là tầng lớp lao động vất vả và cuộc sống khó khăn hơn các tầng lớp khác trong xã hội. ∗ Tin vào số phận đã dẫn đến trong sản xuất nông dân có tính bảo thủ, thiếu óc sáng tạo, không mạnh dạn đổi mới, sợ rủi ro. Đặc điểm này trở ngại cho công tác khuyến nông. Khuyến nông cần duy trì và cần có giải pháp khắc phụ. Truyền thống: quá trình sống, đấu tranh và lao động sản xuất trải qua nhiều năm, nông dân ta, nông thôn ta hình thành nhiều truyền thống. Truyền thống đã chi phối hoạt động sống, lao động sản xuất và đấu tranh của mỗi con người, mỗi gia đình mỗi dòng họ và mỗi quê hương làng xóm. Tính giản dị, chất phác, đoàn kết thương yêu nhau: nhu cầu sống của nhân dân rất giản dị. Đặc điểm này tạo nên bởi thực tế lao động vất vả “một nắng hai sương” lo cái ăn, cái mặc, lo sao cho cuộc sống bình yên, đủ ăn đủ tiêu…Chất phác, đoàn kết thương yêu nhau “sớm tối đêm ngày, tắt lửa tối đèn có nhau” trong cuộc sống là một bản sắc tốt đẹp của nông dân Việt Nam. Nhiều câu phương ngôn, tục ngữ về đặc điểm này đã được truyền dạy từ đời này sang đời khác như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng một giống nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước thì thương nhau cùng”. Tính giản dị, chất phác, đoàn kết thương yêu nhau là đặc điểm tâm lý rất thuận lợi cho công tác khuyến nông. Tùy tiện, xuê xoa - Do đặc điểm lao động nông nghiệp vất vả “trăm công nghìn việc” do biểu hiện ảnh hưởng tính chuẩn xác đến thành quả lao động của nông dân không thấy rõ ngay như những lĩnh vực sản xuất khác đã tạo nên đặc đểm nông dân có tính tùy tiện, xuê xoa. Ví dụ sản xuất công nghiệp yêu cầu người lao động phải đảm bảo tính kỷ luật cao và chuẩn xác trong lao động. Thời gian lao động của cán bộ công nhân trong công nghiệp, nhất là sản xuất theo dây truyền không thể cho phép đi muộn về sớm. Trong khi đó sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tính chuẩn xác không cao, không rõ rệt bởi vì thành quả của sản xuất nông nghiệp chi phối bởi nhiều điều kiện chủ quan và khách quan. Chính vì những lý do trên qua nhiều năm đã hình thành ý thức tùy tiện xuê xoa ở nông dân. Tùy tiện, xuê xoa trong sinh hoạt, trong giờ giấc hội họp, sản xuất… - 12 -
  13. - Đặc điểm tùy tiện xuê của nông dân không có lợi cho công tác khuyến nông. Có thể nói nhiều nơi TBKT nông dân áp dụng không thành công là do tính tùy tiện xuê xoa trong sản xuất, nhất là TBKT áp dụng quy trình công nghệ cao. Gắn bó với quê hương làng xóm - Xóm làng quê hương làng xóm đã gắn bó sâu sắc đối với mỗi người nông dân. Nơi chôn rau cắt rốn, quê hương là cái gì đó rất thiêng liêng đối với mỗi người. - Tình cảm quê hương của mỗi người nông dân sâu nặng hơn nhiều so với các tầng lớp khác trong xã hội. Nó thể hiện: ∗ Sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất quê cha đất tổ đã có hàng trăm hàng nghìn năm\ ∗ Đó là tình nghĩa xóm làng sâu nặng, đó là sự đoàn kết thương yêu nhau, “sớm tối đêm ngày tắt lửa tối đèn có nhau” Tâm lý nông dân nghèo: Phong tục tập quán: bao gồm phong tục tập quán văn hóa và phong tục tập quán sản xuất Phong tục tập quán văn hóa: - Phong tục tập quán xã hội phản ánh quan hệ vua tôi trong xã hội phong kiến, quan hệ quan và dân, người lãnh đạo và người bị lãnh đạo, hàng xóm láng giềng - Phong tục tập quán gia tộc: phản ánh mối quan hệ giữa cha mẹ con cái, phong tục tập quán ma cháy, cưới xin - Phong tục tập quán hương đẳng do dân làng quy định nhằm duy trì trật tự trị an trong thời kỳ phong kiến biểu hiện tính tự trị của làng xã. Phong tục tập quán sản xuất - Phong tục tập quán trồng trọt: bảo quản chế biến thu hoạch - Phong tục tập quán chăn nuôi. Tầm quan trọng của nghiên cứu đặc điểm tâm lý phong tục tập quán Hiểu được tâm lý nông dân, cách nghĩ cách làm, cách học của họ để có phương pháp khuyến nông phù hợp Cán bộ khuyến nông cần tránh những điều nông dân không muốn Lựa chọn dự án khuyến nông phù hợp 2. Quyền lực uy thế ở nông thôn Khái niệm: đó là những cá nhân hay nhóm người mà lời nói cũng như việc làm của họ có tính chất thuyết phục hơn lời nói cũng như lời nói và việc làm của người khác thì ta nói những cá nhân hay nhóm người đó có quyền lực uy thế ở nông thôn. Người có quyền lực uy thế - Lãnh đạo của Đảng, chính quyền, ngành, đoàn thể: người có quyền lực ở nông thôn có thể là chủ tịch xã, phó chủ tịch xã, xã đội trưởng, bí thư Đảng ủy… - Người đứng đầu dòng họ, dòng tộc: trưởng họ, trưởng tộc thường là những người có uy thế trong dòng họ, dòng tộc. - Đứng đầu tôn giáo: ví dụ như các cha đạo nhà thờ công giáo. Lời cha dạy là lời của chúa dạy các con chiên nên ai cũng nghe theo. Sư cụ trên chùa cũng là người có quyền uy đối với các tín đồ... - Người có học vấn cao: xưa kia ở nông thôn thầy đồ thường được xem là những người có học vấn cao. Lời thầy đồ khuyên bảo dễ lọt tai dân làng. Trong công tác khuyến nông, thông thường một cán bộ có học vị kỹ sư nói có tính thuyết phục hơn cán bộ trung cấp, một cán bộ có học vị tiến sỹ có tiếng nói thuyết phục hơn kỹ sư… - Người làm ăn thành đạt: có những người chỉ là nông dân bình thường nhưng làm gì cũng thành đạt, lời nói cũng như việc làm có tính thuyết phục người khác làm theo. Lời nói của họ đôi khi có tính thuyết phục cao hơn nhiều so với những cán bộ lãnh đạo ở địa phương. - 13 -
  14. - Lời những thầy cúng, thầy bói, thầy phù thủy, thầy mo…xưa kia những đối tượng này rất có uy thế. Cách phát hiện những người có quyền lực uy thế - Tiếp xúc với lãnh đạo địa phương: như trên đã nói thông thường những người có quyền lực uy thế ở địa phương là những lãnh đạo của Đảng, chính quyền…một cán bộ khuyến nông mới về liên hệ công tác nên tiếp cận họ. Qua giao tiếp có thể phát hiện người thực sự có quyền lực uy thế ở địa phương - Tiếp xúc với dân: tiếp xúc trực tiếp với dân cũng cho ta biết được những cán bộ thực sự có quyền lực uy thế ở địa phương. - Xem xét, tham khảo các văn bản khuyến nông trước ai ký duyệt, những ai trong ban lãnh đạo điều hành các chương trình khuyến nông hay các chương trình sản xuất nông nghiệp cũng như xây dựng phát triển nông thôn. Thường họ là những người có quyền lực uy thế ở địa phương. Mục đích của khuyến nông nghiên cứu quyền lực uy thế và sự phân tầng xã hội ở nông thôn - Đưa người có quyền lực uy thế của địa phương vào ban lãnh đạo khuyến nông để lời nói cũng như việc làm khuyến nông do họ thể hiện ra có tính thuyết phục nông dân - Báo cáo xin ý kiến những người có quyền lực uy thế khi họ từ chối bận công việc không thể tham gia vào ban lãnh đạo khuyến nông do cơ cấu ban lãnh đạo khuyến nông có hạn chế. Báo cáo xin ý kiến những người có quyền lực uy thế tức là tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của họ thì thuận lợi cho việc triển khai khuyến nông. - Trấn áp những phần tử tiêu cực khi cần thiết để họ không thể hiện những lời nói cũng như hành động chống phá khuyến nông CHƯƠNG IV: PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGƯỜI LỚN TUỔI VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG KHUYẾN NÔNG 1. Đặc điểm dạy và học của người lớn tuổi Sự khác nhau giữa đào tạo chính quy và phi chính quy TT Nội dung-Tiêu chí Đào tạo chính quy Đào tạo phi chính quy 1 Tên gọi người dạy Thầy (cô) giáo viên, giảng viên Giảng viên 2 Tên gọi người học Học sinh, sinh viên, học viên Học viên Tiêu chuẩn tuyển 3 Có tiêu chuẩn rất chặt chẽ Không có tiêu chuẩn chặt chẽ người học Có trường lớp, có ban giám hiệu, Không có trường, không có ban 4 Nơi học có hệ thống tổ chức quản lý đào giám hiệu. Công tác tổ chức tạo quản lý đơn giản Không có quy định mà dựa vào 5 Thời gian học tập Quy định chặt chẽ và cụ thể nội dung và yêu cầu của học viên Tài liệu, chương Phải có giáo trình, bài giảng, Không có giáo trình. Bài giảng 6 trình đào tạo giáo án theo quy định chặt chẽ do giảng viên biên soạn Người dạy quyết định và chủ Người dạy không hoàn toàn Vai trò người dạy, động truyền thụ kiến thức theo quyết định, người dạy vừa chủ 7 cách dạy trong quá nội dung chương trình đã quy động vừa bị động theo yêu cầu trình đào tạo định của học viên Phương pháp Dạy lý thuyết là chủ yếu. Thời Dạy thực hành, thảo luận, minh 8 truyền thụ kiến gian thực tập, thực thành < 1/3 họa..là chủ yếu. Thời gian thực thức tổng thời gian đào tạo tập, thực hành > 1/2 - 14 -
  15. Người học thụ động học những Người học chủ động bằng chính 9 Cách học gì theo yêu cầu của người dạy và tư duy của mỗi học viên, học theo nội dung đào tạo những gì họ mong muốn Có văn bằng, có chứng chỉ. Có Không có văn bằng. Có hoặc Văn bằng chứng 10 những chứng chỉ có giá trị quốc không có chứng chỉ. Chứng chỉ chỉ gia không có giá trị quốc gia Phương pháp đào tạo khuyến nông theo những nguyên tắc cơ bản của phương pháp đào tạo phi chính quy đối với người lớn tuổi. Đó là người dạy phải bình đẳng với học viên, coi trọng thực hành, thực tiễn, không áp đặt…Người học học chủ động, học bằng tư duy của chính mình. Đặc điểm đào tạo nông dân: Nơi học: học tập khuyến nông không có trường, không có ban giám hiệu, không có phòng đào tạo quy định như đào tạo chính quy. Nơi học là hội trường HTX, hội trường UBND, là nhà dân, học ngay trên dồng ruộng, ao hồ, học ngay trong chuồng trại chăn nuôi… Người dạy (giảng viên khuyến nông): giảng viên khuyến nông là những cán bộ khuyến nông, những nhà giáo của các trường đại học và trung cấp, các nhà khoa học của các trường đại học, các học viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu, trạm trại nghiên cứu, giảng viên khuyến nông cũng có thể chỉ là những người nông dân năng động sáng tạo, nông dân sản xuất giỏi. Nghĩa là trình độ học vấn của giảng viên khuyến nông không có quy định cụ thể mà là những người am hiểu sâu sắc, có kinh nghiệm về vấn đề đang thực hiện khuyến nông. Tuy nhiên giảng viên khuyến nông phải là những người 3 biết. Biết nói, biết làm, biết viết. Người học (học viên): - Người học là những nông dân và cán bộ khuyến nông viên. Học viên là nông dân, tức là những người lớn tuổi. Nông dân có nhiều điểm không đồng nhất về tuổi tác, về trình độ văn hóa, về trình độ dân trí, về kinh tế…Đây là điểm khó khăn khi đào tạo nông dân. - Học tập và kết quả học tập của người lớn tuổi nói chung, nông dân nói riêng có những điểm sau: ∗ Tự định hướng học tập. Họ tự nguyện và nhiệt tình học tập những gì đáp ứng nhu cầu công việc trước mắt họ cần. Họ học về để áp dụng ngay. Họ ít quan tâm đến mở mang kiến thức cho những hành động lâu dài trong tương lai ∗ Kinh nghiệm là điểm mạnh trong học tập của nông dân. Kinh nghiệm kết hợp với những tri thức mới giúp người nông dân học tốt hơn. Trong quá trình học tập họ so sánh đối chiếu những gì họ đã làm đúng, làm tốt. Họ tự điều chỉnh những gì họ làm chưa tốt. ∗ Họ học có kết quả tốt trong điều kiện không khí học tập thoải mái, phương tiện hỗ trợ tốt. Họ có minh học thực tế, họ có thực hành, thảo luận, giao lưu sẽ đạt kết quả tốt hơn nhiều so với cách đào tạo chính quy cho học sinh, sinh viên. ∗ Học học tập tốt hơn nếu các học viên được chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm giữa các học viên với nhau và giữa các học viên với giảng viên. Người học đóng vai trò chủ động, giảng viên đống vai trò điều khiển hướng dẫn. Thời gian học: tùy thuộc nội dung và nhu cầu đào tạo, thời gian học có thể 1-2 ngày, 1 ngày học nhiều ngày. 2. Yêu cầu của giảng viên khuyến nông Có tính xác thực: - Là chuyên gia cố vấn đào tạo nông dân nên giảng viên khuyến nông phải rèn luyện cho mình tính chuẩn xác. Nghĩa là nói và làm chính xác. Giảng viên khuyến nông không thể nói không chính làm không chính xác. - Để có được tính chuẩn xác, cán bộ khuyến nông phải thực sự có trình độ là “cố vấn” của nông dân. Cán bộ khuyến nông phải “tai dài, lưỡi ngắn”. Nghĩa là cán bộ khuyến nông phải chịu khó - 15 -
  16. nghe nhiều, đọc nhiều, làm thực tế nhiều, tích cực thu thập thông tin để hiểu sâu, mở rộng kiến thức nhưng nói ít, nói có chọn lọc, nói chính xác, làm chính xác. Biết lợi dụng điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của bản thân: - Điểm mạnh của một giảng viên khuyến nông là lĩnh vực cán bộ khuyến nông đang thực hiện, thực sự là chuyên gia cố vấn của nông dân. Lĩnh vực này người giảng viên nói và làm chính xác nên cần phát huy để gây tín nhiệm đối với nông dân. Mỗi cán bộ khuyến nông đều có những điểm mạnh và không thể không có những điểm yếu vì lĩnh vực khuyến nông rất rộng. Một cán bộ khuyến nông có thể giỏi về chăn nuôi nhưng không giỏi về thú y…Những điểm yếu đó người giảng viên phải biết cách khắc phục để giúp dân giải quyết vấn đề tại chỗ, thỏa mãn lòng mong muốn học tập của nông dân. Tránh bao biện để nông dân ỷ lại: giảng viên khuyến nông cần tránh phô trương kiến thức, bao biện khi tiếp xúc với nông dân, đào tạo huấn luyện nông dân. Mặc dù ngay trong những trường hợp lĩnh vực khuyến nông tri thức của cán bộ khuyến nông thật sự là chuyên gia cũng không nên bao biện cho là mình am hiểu giỏi hơn nông dân. Mặt khác nông dân là những người có thực tiễn. Tri thức của họ là rất phong phú, cán bộ khuyến nông cần nghiên cứu, chắt lọc học tập. Cán bộ khuyến nông cần khích lệ nông dân học tập chủ động có động não bằng chính tư duy của họ. Băn khoăn thắc mắc hoặc gặp khó khăn giải quyết một vấn đề gì đó nông dân tìm hỏi cán bộ khuyến nông. Trong nhiều trường hợp cán bộ khuyến nông không nên tư vấn ngay mà khích lệ họ suy nghĩ: ông (bà) nghĩ làm như thế nào? Theo ông (bà) tại sao công việc vẫn chưa đạt kết quả. Phải tạo không khí để nông dân thoải mái trong quá trình học tập: cán bộ khuyến nông phải coi trọng nông dân và những tri thức của họ. Nông dân có tính tự trọng cao. Giảng viên không nên có thái độ bề trên với học viên, hãy trao đổi với học viên như những người bạn với nhau, không chỉ biết nói mà phải biết lắng nghe. Giảng viên khuyến nông phải hiểu biết nông dân, biết lựa chọn phương pháp đào tạo nông dân tùy theo mục đích và yêu cầu học tập của nông dân. Các truyền đạt dễ hiểu, tốt nhất với nông dân là bằng minh họa, coi trọng thực tế, thực hành không diễn thuyết nói câu dài. Giảng viên cần tôn trọng và nuôi dưỡng những kinh nghiệm sống, lao động sản xuất của mỗi học viên. Giảng viên khuyến nông cần động viên khích lệ nông dân khi họ có những sáng tạo, hiểu đúng, làm đúng không chê bai khi họ hiểu sai, làm sai, mà phải kiên trì giáo dục thuyết phục…quan hệ bình đẳng không có rào cản ngăn cách giữa giảng viên khuyến nông và nông dân. Giảng viên khuyến nông phải quan tâm đến điều kiện phương tiện hỗ trợ trong quá trình đào tạo. Trong quá trình đào tạo cần đan xen văn nghệ kể chuyện vui… Giảng viên khuyến nông phải có khả năng sư phạm và lựa chọn phương pháp huấn luyện khuyến nông 3. Chất lượng truyền thông Kết quả truyền thông phụ thuộc vào: Nguồn tin, tính chuẩn xác và tính thuyết phục của nguồn tin Nguồn (người) truyền thông Phương tiện, thiết bị truyền tin. Quá trình truyền thông tin đến nông dân có thể minh họa bằng sơ đồ sau: Người nhận - Người nhận Kênh truyền thông Nguồn thông truyền thông thông tin (nông Xử lý thông tin tin tin mới tin (CBKN…) dân) - 16 -
  17. Nguồn tin Nguồn thông tin (người cung cấp thông tin) đến nông dân có thể là cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức nào đó tham gia quá trình truyền thông, truyền thông khuyến nông. Nguồn thông tin có thể là chính sách, tiến bộ kỹ thuật, cách thức làm ăn mới, kinh nghiệm sản xuất tốt… Nội dung thông tin có tính chuẩn xác, cập nhật và cấp thiết. Tính cấp thiết của thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng có tác dụng thúc đẩy nâng cao kết quả hoạt động truyền thông khuyến nông. Tính cấp thiết thể hiện ở nội dung thông tin đáp ứng lòng mong muốn học tập của người tiếp nhận thông tin. Để đảm bảo tính cấp thiết thông tin đến người nhận thông tin còn cần chú ý tới xác định thông tin đó cần đưa tới những ai, đối tượng nào. Yêu cầu người (nguồn) truyền thông khuyến nông Người nhận và truyền tin (CBKN…) có được có thể từ một hoặc nhiều nguồn cung cấp kiến thức vốn có, tiếp thu từ thực tế sản xuất, từ sách báo hay các kênh truyền thông…Các thông tin này có thể một chiều hay hai chiều cần được xử lý sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Thông tin cần đến nông dân cần chuẩn xác, đơn giản có tính thuyết phục cao. Vấn đề này phụ thuộc rất lớn vào người nhận và truyền tin đến nông dân. Người truyền thông tin cần có phương pháp và sử dụng các phương tiện, thiết bị thông tin tốt. Phương tiện thiết bị thông tin Kênh truyền tin có thể áp dụng các phương tiện nghe nhìn, đọc viết…thực hiện kênh thông tin hai chiều đối với nông dân có thể là trao đổi trực tiếp, đơn thư, nêu và giải đáp thắc mắc…Những phương tiện kỹ thuật phục vụ cho quá trình truyền thông rất quan trọng. CHƯƠNG 5: PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG 1. Những bước tiến hành xây dựng chương trình dự án khuyến nông (điều tra khảo sát nông thôn, phương pháp thu thập thông tin, xử lý thông tin (trình bày dưới dạng bảng biểu, phân loại thông tin theo thứ tự quan trọng, phương pháp SWOT, biểu đồ, đồ thị, sơ đồ (Venn, mặt cắt), bản đồ mô tả chân dung), xây dựng (viết) dự án khuyến nông Điều tra khảo sát nông thôn Điều kiện tự nhiên - Khí hậu, nhiệt độ, vũ lượng và sự phân phối trong năm, ẩm độ - Gió bão - Địa lý, địa hình, đất đai - Nguồn nước và khả năng tưới tiêu - Hệ động vật… Điều kiện kinh tế xã hội - Cấu trúc xã hội làng xóm - Các tổ chức đoàn thể xã hội - Cơ sở hạ tầng: đường giao thông, kho tàng bến bãi, điện nước, trường, trạm - Cơ sở chế biến nông sản - Lao động và thị trường lao động - Chủ trương chính sách, chế độ đất đai - Phong tục tập quán - Nguồn vốn tự có, ngân hàng tín dụng - Nguồn thu thập kinh tế cua địa phương - …. Sản xuất - Hệ thống sản xuất, ngành nghề… - Cơ cấu sản xuất và vị trí các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế địa phương - 17 -
  18. - Điều kiện tự nhiên, lao động, kinh tế nông hộ…Chiến lược kinh tế của các nông hộ - Mối liên kết giữa các lĩnh vực sản xuất - Kỹ thuật sản xuất: trồng trọt, chăn nuôi, thú y, bảo vệ thực vật, bảo quản chế biến nông lâm thủy sản. - Thị trường đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, tính ổn định của thị trường… Văn hóa giáo dục và sức khỏe cộng đồng - Trình độ văn hóa, dân trí - Các tổ chức giáo dục - Nhu cầu văn hóa thiết yếu của nông dân - Sức khỏe, tuổi thọ - Bệnh tật và khả năng phòng chống bệnh tật thường xuyên xảy ra - Hoạt động của y tế… Những chương trình dự án đã triển khai trên địa bàn: phân loại các dự án, kết quả những dự án trước đây. Tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi cũng như thất bại của các dự án trước. Những kết quả dự án trước ảnh hưởng nhiều đến tâm lý nông dân khi triển khai nội dung khuyến nông mới. Mỗi nhóm/loại lại có nhiều thông tin chi tiết cần thiết thu thập. Nhà nước thu thập thong tin tổng thể. Để xây dựng các chương trình dự án khuyến nông thường tập trung thu thập những thông tin liên quan đến xây dựng và thực hiện dự án cụ thể. Phương pháp thu thập thông tin Tổng hợp các loại thông tin cần thiết thu thập có 2 loại: thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp. Thông tin thứ cấp là những thông tin đã được công bố như: báo cáo tổng kết, báo cáo khoa học, số liệu thống kê dân số, diện tích….Thông tin sơ cấp là những thông tin quan sát trực tiếp, điều tra đo đếm, phỏng vấn nông dân… Phương pháp thu thập thông tin truyền thống: thu thập thông tin bằng cách tổ chức các đoàn điều tra quy mô lớn, thời gian dài. - Ưu điểm của phương pháp này là thu thập được khá đầy đủ mọi loại thông tin giúp cho chính phủ hoạch định vùng sản xuất nông nghiệp… - Nhược điểm của phương pháp này là: ∗ Rất tốn kém, thường do Nhà nước thực hiện vì quy mô lớn cần đội ngũ cán bộ điều tra lớn, thời gian dài và cần có nhiều cấp, nhiều ngành tham gia theo một hệ thống từ trên xuống dưới. ∗ Nhiều thông tin không cần thiết được thu thập chi tiết nhưng lại bỏ qua những thông tin cần thiết cho một chương trình khuyến nông cụ thể. Thông thiếu tính cập nhật thường xuyên. Phương pháp RRA (phương pháp điều nhanh nông thôn Rapid rural appraisal) (Particippatory rural appraisal). - Để khắc phục những hạn chế của phương pháp thu thập thông tin truyền thống người ta thường lợi dụng những thông tin thu thập theo phương pháp truyền thống trước đây kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia PRA - Hai cơ sở của các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn dựa trên: ∗ Lựa chọn tối ưu các thông tin, đa ngành có chuyên môn sâu. Các thông tin thu thập liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu xây dựng dự án cần triển khai. ∗ Sử dụng nhiều nguồn thông tin thứ cấp, sơ cấp, phỏng vấn không chính xác và phỏng vấn chính thức nông dân, phỏng vấn những người am hiểu biết nhất về một vấn đề nào đó (nhóm KIP - Key informal panel). Những thông tin thu thập được rất đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau có tính thực tế cao nên khá chính xác, giúp xây dựng dự án có tính khả thi cao. - 18 -
  19. ∗ Đặc điểm: - Có tính lặp lại và cập nhật, thường xuyên, điều tra phù hợp chính xác - Có tính đổi mới, không có sự áp đặt tiêu chuẩn cứng nhắc tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương - Có tính liên ngành thông tin nằm trong mối liên hệ của các lĩnh vực có liên hệ với nhau. - Có tính chính xác - Các thông tin có thể kiểm tra chéo lại với nhau - Tính cộng đồng cao thông tin thu từ nhóm nông dân ∗ Các bước trong RRA - B1: Tổng kết tham khảo các tài liệu thứ cấp: ưu điểm: ít tốn kém, rút ngắn thời gian, giúp cán bộ dự án nắm được thực trạng kinh tế cán bộ của địa phương - B2: Quan sát thực tiễn: quan sát cộng đồng, làng xóm, những kỹ thuật nông dân áp dụng trong sản xuất, cây trồng vật nuôi, hệ thống tưới tiêu. - B3: Điều tra phỏng vấn nông dân Xây dựng phiếu điều tra căn cứ vào mục đích, nội dung cần điều tra - Tên phiếu điều tra - Địa điểm điều tra - Người phỏng vấn Phỏng vấn nông dân - Phỏng vấn không chính thức: nhanh, khá chính xác, để đánh giá nhanh nông thôn, người được phỏng vấn không cần được chuẩn bị trước nội dung trả lời, có thể phỏng vấn bất kỳ ai mà cán bộ khuyến nông gặp - Phỏng vấn nhóm nông dân: cần 2-4 người có trình độ chuyên môn sâu, bầu ra nhóm trưởng để điều khiển phỏng vấn, mọi người đều có quyền hỏi và ghi chép câu trả lời tuy nhiên trách nhiệm hỏi của nhóm trưởng, ghi kết quả trả lời của nhóm viên. - Phỏng vấn nhóm KIP với người am hiểu biết các vấn đề phỏng vấn đưa ra liên quan với địa phương. Xử lý thông tin Trình bày dưới dạng bảng biểu và số thực Đồ thị dạng đường và dạng cột Xếp hạng thông tin theo thứ tự quan trọng - Bỏ phiếu - Bình điểm: 1 - ít quan trọng nhất, …, 5 - quan trọng nhất - Phương pháp so sánh cặp đôi Xử lý thông tin theo kiểu SWOT: đây là phép phân tích hoàn cảnh môi trường bên ngoài và bên trong ngoài quy hoạch dự án nào đấy. Ví dụ Mô hình S W O T Nuôi gà công - Gần HN - Tập quán - Dịch bệnh ở - Dễ xảy ra nghiệp ở Hà Tây - Có kinh chăn thả dễ lợn nhu cầu dịch bệnh cũ nghiệm lây bệnh lớn với quy mô - Có giống tại - Ô nhiễm môi - Rất nhiều dự lớn chỗ trường án chăn nuôi - … - Điều kiện - …. - …. kinh tế mạnh - … Xử lý thông tin dạng Web: xác định nguyên nhân và hiệu quả của vấn đề - 19 -
  20. Mạng lưới thú ý kém phát triển Sản Chưa biết phối Sử dụng giống địa lượng trộn thức ăn cho phương thịt thấp lợn Diện tích trồng ngô hạn chế Xử lý thông tin theo kiểu mô tả chân dung Theo sơ đồ mặt cắt Sơ đồ Venn Xây dựng viết dự án khuyến nông ∗ Tên dự án ∗ Cơ quan quản lý, dự thầu ∗ Tính cấp thiết của đề tài Dự án là một bộ các hoạt động liên quan tuân theo sự quản lý đồng nhất nhằm đạt được mục tiêu cụ thể trong phạm vi kinh phí và thời gian cho phép (theo chương trình phát triển liên hợp quốc UNDP) Phần I: Khái quát chung - Tên dự án - Cấp quản lý - Cơ quản chủ quản là cơ quan có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo thực hiện dự án - Cơ quan chủ trì cơ quan có nhiệm vụ xây dựng dự án thực hiện dự án, báo cáo kết quả thực hiện dự án, - Cán bộ chủ trì: là cán bộ của cơ quan chủ trì có kinh nghiệm, có uy tín làm chủ trì dự án - Cơ quan chuyển giao là cơ quan nghiên cứu khoa học có đủ năng lực do cơ quan chủ trì tuyển lựa ký hợp đồng chuyển giao kỹ thuật, công nghệ. Cơ quan chuyển giao thường được cơ quan chủ trì mời phối kết hợp từ khi xây dựng dự án. - Cơ quan phối hợp - Thời gian thực hiện: thông thường dự án cấp bộ là 2 năm, cấp bộ trọng điểm là 3 năm, 5 năm. Các chương trình khuyến nông nhỏ thực hiện trong 1 năm. Phần II: thuyết minh dự án - Cơ sở khoa học và thực tiễn, tính cấp thiết - 20 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản