intTypePromotion=1

Đề tài: "Kinh tế tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp”

Chia sẻ: Sâu Hư | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:77

0
462
lượt xem
172
download

Đề tài: "Kinh tế tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong điều kiện toàn cầu hoá diễn ra như hiện nay, kinh tế tư nhân (KTTN) ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực của mình trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong những năm thập niên cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, khi Thuyết tự do hoá được vận dụng rộng rãi ở nhiều nước và trào lưu cải cách, mở cửa, thúc đẩy kinh tế thị trường trở thành phương thức chính thức thúc đẩy tăng trưởng của nhiều nước đang phát triển và đặc biệt là các nền kinh tế chuyển đổi,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: "Kinh tế tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp”

  1. Khoá luận tốt nghiệp Luận văn Kinh tế tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  2. Khoá luận tốt nghiệp MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU................................ ................................ ................................ ...... 1 CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN ............... 5 1. 1. Khái niệm và đặc điểm: ................................ ................................ ............. 5 1.1.1 Khái niệm: ....................................................................................................5 1.1.2 Đặc Điểm:.....................................................................................................7 1.2.Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân. ............................ 11 1. 3 Kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số quốc gia: ................................ ... 14 1. 3. 1 Phát triển kinh tế tư nhân ở một số nước:.................................................14 1.3.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân cho Việt Nam:..............................23 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM................................ ................................ ................................ ................... 27 2. 1. Quan điểm của Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân từ 1986 đến nay. . 27 2.2 Thực trạng Kinh tế tư nhân ở việt nam từ đổi mới đến nay. ...................... 32 2.2.1 Sự phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam từ đổi mới đến nay: ...................32 2.2.2 Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào nền kinh tế quốc dân: ..43 2.2.2.1.Khu vực tư nhân tại nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động:................................ ................................ ....................... 43 2.2.2.2.Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vào phát triển kinh tế – xã hội:................................ ................................ ................................ ..... 45 2.2.2.3. Đóng góp quan trọng vào GDP, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội: ................................ ................................ ...................... 47 2.2.2.4 Kinh tế tư nhân góp phần quan trọng tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trường ,đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ................................ ................................ . 52 2.3 Các khó khăn cản trở sự phát triển của khu vực KTTN: ........................... 53 2.3.1. Kinh tế tư nhân khó khăn trong tiếp cận vốn: ............................................53 2.3.2.Khó khăn trong tiếp cận nguồn nhân lực: ..................................................54 Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  3. Khoá luận tốt nghiệp 2.3.3.Khó khăn trong việc tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh: .....................55 2.3.4.Khó khăn trong việc thu hút và đào tạo nguồn nhân lực: ............................56 2.3.5. Khó khăn trong việc tiếp cận khoa học công nghệ.....................................52 2.3.6. Một số khó khăn khác:...............................................................................57 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM ................................ ................................ 60 3. 1. Định hướng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh mới. .. 60 3. 1. 1. Bối cảnh kinh tế mới: ..............................................................................60 3. 1. 2. Quan điểm định hướng Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân: ................63 3. 2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian tới................................. ................................ ........................... 64 3. 2. 1. Về phía Nhà Nước: .................................................................................64 3. 2. 2. Về phía doanh nghiệp: ............................................................................70 KẾT LUẬN................................ ................................ ................................ ........ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................ ................................ ................ 75 LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện toàn cầu hoá diễn ra như hiện nay, kinh tế tư nhân (KTTN) ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực của mình trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong những năm thập niên cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, khi Thuyết tự do hoá được vận dụng rộng rãi ở nhiều nước và trào lưu cải cách, mở cửa, thúc đẩy kinh tế thị trường trở thành phương thức chính thức thúc đẩy tăng trưởng của nhiều nước đang phát triển và đặc biệt là các nền kinh tế chuyển đổi, KTTN một lần nữa khẳng định là một trong những cấu thành quan trọng của mọi nền kinh tế quốc dân. Điều này cũng không ngoại lệ với Việt Nam. Việt Nam chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, do vậy vai trò của khu vực KTTN đang được chú trọng rất nghiêm túc và đúng đắn. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) đã chỉ rõ: “ Hơn 10 năm qua, thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, KTTN gồm kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  4. Khoá luận tốt nghiệp nhân, đã phát triển rộng khắp trong cả nước đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị- xã hội của đất nước”. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, còn nhiều rào cản hạn chế sự phát triển và hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế này. Để tạo điều kiện cho KTTN phát triển đúng với tiềm năng của nó cần phải có nhận thức đúng, cũng như có đánh giá đúng về những đóng góp của khu vực KTTN với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam. Chính vì vậy, em chọn đề tài “ Kinh tế tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp” làm khoá luận tốt nghiệp. Mục đích nghiên cứu đề tài là phân tích KTTN trên phương diện lý luận và thực tiễn để tìm ra những nguyên nhân cụ thể và những rào cản cản trở sự phát triển của khu vự kinh tế tư nhân, qua đó có thể đưa ra các giải pháp cũng như phương hướng giúp thành phần kinh tế này có sự phát triển đúng hướng đạt hiệu quả cao trong nền kinh tế đất nước. Đề tài có kết cấu ba chương: Chương1: Những vấn đề chung về KTTN Chương2: Thực trạng phát triển KTTN ở Việt Nam. Chương3: Định hướng và giải pháp cơ bản để phát triển KTTN ở Việt Nam. Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  5. Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1. 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM: 1.1.1 Khái niệm: Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau và chưa thống nhất về kinh tế tư nhân, điều này xuất phát từ quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về sở hữu. Nếu chia sở hữu ra hai loại hình là sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân thì nền kinh tế có hai bộ phận cấu thành là khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân. Sở hữu Nhà nước được hiểu là hình thức sở hữu mà nhà nước là người đại diện cho nhân dân nắm giữ các tư liệu sản xuất, còn sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân của người sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước. Theo cách phân chia nà y thì khu vực KTTN bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu ta chia kinh tế ra thành ba khu vực: khu vực quốc doanh, ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy theo cách này, thì Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  6. Khoá luận tốt nghiệp KTTN, gồm loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2000, các hộ kinh doanh cá thể, người sản xuất nhỏ. Tuy nhiên trong Đại hội Đảng toàn quốc lần IX của Đảng Cộng Sản, trong sáu thành phần kinh tế đó có thể hiểu kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là thuộc về KTTN. Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất và kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê. Trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội thành phần kinh tế này đóng góp vai trò đáng kể. Xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất, đặc điểm của thành phần kinh tế này do một nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế sở hữu mà thu nhập dựa hoàn toàn vào lao động, vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế tư hữu nhưng có thuê lao động, tuy nhiên thu nhập chủ yếu dựa vào sức lao động vốn có của bản thân và gia đình. Thành phần kinh tế này cũng giữ một vị trí quan trọng trong nhiều ngành nghề. Có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình. Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân theo quan điểm chính thức ở Việt Nam bao gồm các hình thức kinh tế sau đây: - Kinh tế cá thể được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê. - Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  7. Khoá luận tốt nghiệp của các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. - Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các doanh nghiệp đang hoạt động theo luật doanh nghiệp của Việt Nam và chúng bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau: +Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. +Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. +Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. +Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó ít nhất hai thành viên hợp danh. Ngoài hai thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận về khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bao gồm các đơn vị, cơ sở và cá nhân sản xuất—kinh doanh dựa trên hình thức sở hữu tư nhân trong nước. Các khái niệm về KTTN sẽ cho chúng ta một cái nhìn đúng đắn và có sự phân tích chọn lọc về khu vực KTTN. 1.1.2 Đặc Điểm: Thứ nhất: Kinh tế tư nhân là các đơn vị kinh doanh, hoạt động vì mục đích hàng đầu là lợi nhuận. Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  8. Khoá luận tốt nghiệp Trong một số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước hay kinh tế tập thể, mục tiêu lợi nhuận với họ không phải là hàng đầu và có một số doanh nghiệp trong lĩnh vực công cộng hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận. Trong khi đó kinh tế tư nhân luôn coi mục tiêu sinh lời đặt lên vi trí hàng đầu, nếu không sinh lời thì đồng nghĩa với việc phá sản. Chính vì vậy, thước đo về mức độ sinh lời cũng phản ánh được sự phát triển lớn mạnh của khu vực kinh tế này. Đương nhiên để sinh lời thì kinh tế tư nhân phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phải luôn đổi mới công nghệ và quản lý…và đây chính là điều khiến cho kinh tế tư nhân luôn năng động, linh hoạt và là động lực phát triển cho nền kinh tế. Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận là hàng đầu, chính vì vậy đây là đặc điểm khác biệt so với một số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước. Thứ hai: Kinh tế tư nhân có quy mô đa dạng và khả năng tối ưu hoá tổ chức sản xuất. Với đặc điểm hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên kinh tế tư nhân luôn phải lựa chọn các quy mô phù hợp để tối ưu hoá tổ chức sản xuất, cũng chính vì lẽ đó mà kinh tế tư nhân tồn tại với quy mô rất đa dạng, từ các công ty xuyên quốc gia khổng lồ cho tới doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thường có quy mô khá lớn, rất ít các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Lý do tồn tại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn ở một số nước bởi lẽ, một số doanh nghiệp cung cấp hàng hoá công cộng hoặc vì một lý do nào đó mà doanh nghiệp đó được tồn tại độc quyền nên quy mô lớn mới hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp quy mô lớn thuộc sở hữu nhà nước thường mở rộng quy mô không vì sự tối ưu hoá sản xuất mà vì động cơ muốn mở rộng doanh nghiệp để có thêm các đặc quyền và u y lực của người lãnh đạo. Điều này khác với kinh tế tư nhân, quy mô sản xuất có thể mở rộng hoặc thu hẹp để đạt mục tiêu tối ưu hoá sản xuất. Cũng chính vì khả năng lựa chọn quy mô sản xuất hợp lý mà các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng lao động một cách hiệu quả. Các chủ Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  9. Khoá luận tốt nghiệp doanh nghiệp tư nhân thường căn cứ vào yêu cầu thực sự của công việc để tuyển chọn người và căn cứ vào năng lực đóng góp của người lao động để có cơ chế trả công hợp lý, khuyến khích được người lao động và đào tạo được một đội ngũ doanh nhân và công nhân kỹ thuật lành nghề cho nền kinh tế. Đồng thời chủ doanh nghiệp cũng có thể sa thải ngay tức thì những lao động yếu kém, không hiệu quả. Đây cũng là điểm khác biệt với cơ chế trả công một cách bình quân chủ nghĩa trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, và đó là một vật cản lớn cho tính hiệu quả của các doanh nghiệp này. Thứ ba: Kinh tế tư nhân là các đơn vị kinh tế có tính năng động và linh hoạt cao trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Kinh tế tư nhân ra đời cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hoá, nó phát triển một cách tự nhiên và đây là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước hay sở hữu tập thể, các doanh nghiệp này thường được ra đời với sự nỗ lực nhân tạo của Nhà nước và tập thể, tiếp theo là hàng loạt các ưu đãi để chúng tồn tại và phát triển. Sức sống của nền kinh tế tư nhân thể hiện ở tính năng động và linh hoạt. Với một ý tưởng kinh doanh khả thi sẽ có thể tức thì được hiện thực hoá bởi các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực tư nhân. Quá trình ra quyết định nhanh chóng và gọn nhẹ đó chỉ có được ở các tổ chức kinh doanh thuộc khu vực tư nhân. Cũng vì sự ra đời là khách quan và tính năng động, linh hoạt cao nên kinh tế tư nhân có khả năng tồn tại và thích ứng với mọi hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của nền kinh tế. Thực tế cho thấy trong thời gian dài, ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây kinh tế tư nhân vẫn tồn tại ở những loại hình và mức độ khác nhau trong một số lĩnh vực cho dù nó bị Nhà nước cấm đoán và phong toả ở mọi phương diện. Thực tế cũng cho thấy khi các chính sách cấm đoán ở các quốc gia này được nới lỏng đôi chút thì kinh tế tư nhân hồi sinh và phát triển mạnh mẽ như “ nấm sau mưa”. Trong thời kỳ trước đổi mới, khu vực tư nhân ở Việt Nam vẫn tồn tại xét ở góc độ khu vực tư nhân phi chính thức. Sau đổi mới kinh tế, khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ mà không nhận được sự ưu ái của Nhà nước. Các chủ doanh nghiệp Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  10. Khoá luận tốt nghiệp tư nhân chỉ yêu cầu được đối xử công bằng và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác chứ họ không yêu cầu sự ưu ái của Nhà nước đối với họ. Điều này minh chứng rõ tính năng động và linh hoạt của kinh tế tư nhân trong bất kỳ hoàn cảnh kinh tế nào. Thứ tư: Kinh tế tư nhân hoạt động dựa trên sự thống nhất giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản. Vì kinh tế tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cho nên sự tồn tại dưới hình thức là các loại hình doanh nghiệp hay hộ gia đình, người sản xuất nhỏ thì về bản chất nó vẫn thuộc sở hữu tư nhân. Người chủ sở hữu có quyền quyết định hoàn toàn mọi quá trình sản xuất kinh doanh và đương nhiên các quyết định đó đi liền với quyền lợi và trách nhiệm của chính họ. Nguyên tắc hoạt động của kinh tế tư nhân là “bốn tự”, đó là tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ. Đây là cơ chế để gắn kết kết quả hoạt động (lợi ích) với năng lực hoạt động của chính các chủ doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế tư nhân hoạt động bởi chính vốn liếng của mình (cho dù là vốn vay) nên mọi quyết định phải được cân nhắc kỹ lưỡng và mang lại hiệu quả, tức phải sinh lời, phải làm cho hoạt động kinh doanh luôn phát triển, đồng vốn phải không ngừng lớn lên. Điều này khác biệt với các giám đốc doanh nghiệp Nhà nước hay nhà quản lý trong kinh tế tập thể, họ hoạt động không dựa trên vốn hay không hoàn toàn trên đồng vốn của chính mình mà đó là vốn liếng của Nhà nước, của tập thể. Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản trong các đơn vị kinh tế này không có sự thống nhất, chính vì vậ y mà trách nhiệm và quyền lợi thường không đi liền với nhau, do đó các quyết định của họ sẽ có thể không phản ánh sự thận trọng, kỹ lưỡng và tính hiệu quả. Mục đích lãnh đạo của họ có thể không chỉ là làm cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận mà là các mục đích khác như thăng tiến ở một chức vụ quản lý khác cao hơn. Trên đây là các đặc điểm rõ nét nhất về khu vực kinh tế tư nhân ở các nước khi so sánh với khu vực kinh tế công cộng và đây cũng là những ưu thế của kinh tế tư nhân so với kinh tế công cộng trong tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  11. Khoá luận tốt nghiệp doanh. Tuy nhiên kinh tế tư nhân cũng có mặt trái của nó mà chính vì lẽ đó, sự tồn tại khu vực kinh tế công cộng ở mọi quốc gia là khách quan và cần thiết bởi vai trò của chúng trong việc cung cấp hàng hoá công cộng và một số hàng hoá - dịch vụ khác mà khu vực tư nhân cung cấp không hiệu quả xét về khía cạnh hiệu quả xã hội. Đối với các nước đang phát triển và đang chuyển đổi, khu vực kinh tế tư nhân có một số đặc điểm sau: + Kinh tế tư nhân ở các nước chuyển đổi được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, ngoài hình thức tự phát triển, thành lập mới các doanh nghiệp tư nhân thì còn một con đường khác là chuyển đổi sở hữu, tư nhân hoá các xí nghiệp do Nhà nước sở hữu. + Quy mô của khu vực kinh tế tư nhân ở các nước đang phát triển còn nhỏ bé, chiếm tỷ trọng không nhiều trong GDP, trình độ công nghệ lạc hậu và thiếu kỹ năng quản trị và kinh nghiệm kinh doanh… + Đa phần các doanh nghiệp tư nhân ở các nước đang phát triển có quy mô vừa và nhỏ, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp và năng lực cạnh tranh yếu kém. Đây cũng là đặc điểm chung của nền kinh tế các nước đang phát triển, số các doanh nghiệp tư nhân ở các nước này có quy mô lớn là rất ít. 1.2. VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN. Trong một nền kinh tế thị trường, sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân và sự phát triển của cộng đồng gắn liền với nhau trong một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân sẽ đem lại thu nhập cao hơn, y tế và giáo dục tốt hơn cho người dân và cộng đồng. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp, thu nhập cao hơn có nghĩa là thị trường rộng lớn hơn. Sức khỏe và giáo dục tốt hơn thì lực lượng lao động có năng suất cao hơn và năng suất cao hơn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận. Vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trên nhiều khía cạnh như đóng góp quan trọng vào ngân sách Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  12. Khoá luận tốt nghiệp nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, huy động nguồn lực trong xã hội vào sản xuất kinh doanh cho sản xuất kinh doanh… Thứ nhất: Huy động mọi nguồn lực trong xã hội vào sản xuất kinh doanh, là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế –xã hội đất nước. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong việc huy động mọi nguồn lực tiềm ẩn trong xã hội cho phát triển kinh tế. Nguồn lực này có thể tồn tại dưới các thức khác nhau như: tài chính, đất đai, thiết bị máy móc, kinh nghiệm quản lý, kỹ năng lao động…sự phát triển kinh tế tư nhân sẽ khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm năng đó và xã hội hoá các yếu tố sản xuất tập trung vào phát triển kinh tế xã hội. Có thể khẳng định ở mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, khu vực kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Do tính năng động, linh hoạt và hiệu quả nên kinh tế tư nhân luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn khu vực kinh tế công cộng và sự đóng góp này tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế các nước. Mức độ đóng góp của khu vực kinh tế này vào GDP thường dao động từ 40-70% GDP của nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia. Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Trong một nền kinh tế đang phát triển nguồn vốn rất khan hiếm và đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn, khi các tổ chức tài chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư. Do đó khả năng huy động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng. Nếu các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN được đặt trong môi trường kinh doanh bình đẳng và được tạo cơ hội thuận lợi thì các chủ doanh nghiệp có thể tự tin mạo hiểm với khoản tiền tiết kiệm quý giá của bản thân họ, thậm chí của họ hàng và bạn bè họ để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Môi trường kinh doanh bình Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  13. Khoá luận tốt nghiệp đẳng sẽ khiến các chủ doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó các hoạt động và số phận kinh doanh của họ. Tuy nhiên do hệ thống tài chính kém phát triển nên các khoản tiền tiết kiệm có thể trở thành vốn sẵn có của các doanh nghiệp nhưng lại tồn tại dưới hình thức khác nhau nằm ngoài các thể chế tài chính chính thức. Thứ hai: Phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo ra các cơ hội việc làm. Một kết quả của việc huy động vốn và hình thành vốn của các doanh nghiệp tư nhân là tạo ra cơ hội việc làm cho các thành viên khác trong cộng đồng. Việc làm sẽ mạng lại thu nhập cao cho những người lao động và nâng cao mức sống của gia đình họ. Nhìn chung, chủ doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN khác với các nhà quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước ở chỗ họ có quyền quyết định lớn hơn trong việc thuê mướn lao động (số lượng, kỹ năng cần thiết của người lao động). Vì vậ y không những các doanh nhân hoàn toàn có thể tăng số lượng lao động làm thuê theo ý họ mà còn có thể nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn nhân lực trong cộng đồng. Thứ ba: Phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo nguồn thu thuế cho chính phủ đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước, làm gia tăng tổng sản phẩm quốc dân, thông qua các khoản thu thuế mà các doanh nghiệp tư nhân phải đóng góp cho nhà nước. Những năm gần đây khu vực kinh tế tư nhân chiếm tới 49% vào GDP cả nước. Điều đó chứng tỏ rằng khu vực kinh tế này đang phát triển rất mạnh trong nền kinh tế và tạo cho nền kinh tế ngày càng mạnh mẽ. Cùng với những ưu thế, sức sống tự phát mãnh liệt, và có khả năng lựa chọn quy mô phù hợp, KTTN là một khu vực năng động, dễ thích nghi. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế và với vai trò riêng của mình KTTN tạo ra cho mỗi quốc gia nhiều cơ hội phát triển nền kinh tế của mình. Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  14. Khoá luận tốt nghiệp Tuy nhiên bên cạnh những ưu thế vốn có đó thì KTTN vẫn còn những mặt hạn chế của mình. KTTN có thể phá vỡ cơ cấu kinh tế hợp lý của nền kinh tế, do KTTN thường đầu tư vào ngành thương mại, dịch vụ, sản xuất ở những vùng đông dân cư như thị xã, thành phố… tức là lượng doanh nghiệp xuất hiện ở thành phố là rất lớn. KTTN có thể tạo ra sự phân hoá giàu nghèo lớn trong xã hội. Vì đặc điểm của KTTN là “ mạnh ai nấy chạy” tạo ra sư giãn cách lớn trong thu nhập. Với quy mô còn nhỏ, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ chưa cao vì vậy trong qúa trình hội nhập kinh tế KTTN rất khó cạnh tranh với các chủ thể kinh tế bên ngoài. Vì mục tiêu của KTTN luôn là tối đa hoá lợi nhuận, chạy theo lợi nhuận do đó họ sẵn sàng bất chấp mọi điều kiện để tăng doanh thu. Nhưng hạn chế mà khu vực KTTN này mang lại là cũng rất đáng kể. KTTN phát triển mạnh dẫn đến sự tập trung tài sản vào tay một số cá nhân. Điều này vừa tạo ra sự phân hoá về thu nhập vừa có thể tạo điều kiện cho một số kẻ lũng đoạn thị trường, rồi chạy theo thu nhập sẽ làm họ bỏ qua vấn đề môi trường tạo ô nhiễm môi trường và vấn đề công bằng xã hội mà nền kinh tế nào cũng mong muốn đạt tới. Như vậy KTTN có vai trò rất tích cực trong qúa trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những mặt tiêu cực mang tính chất kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế và của khu vực này. Để hạn chế những tiêu cực này đòi hỏi Nhà Nước phải có biện pháp can thiệp thích hợp và những chính sách cụ thể để có thể làm cho khu vực KTTN phát huy hết những vai trò tích cực của nó và hạn chế tối đa những mặt tiêu cực mà nó có thể gây ra. 1. 3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KTTN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA: 1. 3. 1 Phát triển kinh tế tư nhân ở một số nước: * Hungary: Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  15. Khoá luận tốt nghiệp Trên thế giới hiện nay có hơn 180 quốc gia có nền kinh tế thị trường với khu vực tư nhân làm nòng cốt. Tuy nhiên chỉ có hơn 30 quốc gia trong số đó trở nên giàu có một số nước trước đây đi theo mô hình kế hoạch hoá tập trung, phủ nhận sự tồn tại của khu vực KTTN do đó mà nền kinh tế đã lâm vào tình trạng trì trệ kém phát triển. Sự tồn tại của KTTN trong nền kinh tế thị trường là tất yếu. Tuy nhiên để phát triển bền vững cần có các điều kiện sau: - Tự do hoá nền kinh tế, mở rộng tự do cạnh tranh, phát huy tối đa thế mạnh của cơ chế thị trường tạo điều kiện phát triển KTTN phát huy được vai trò định hướng điều tiết của Nhà Nước bằng chiến lược và các công cụ chính sách. - Các nước có khu vực KTTN phát triển đã đạt được những thành công lớn trong phát triển kinh tế là các nước NIC, Tây Âu, các nước thuộc Châu Á Thái Bình Dương. Đây là những nước có khu vực KTTN phát triển năng động nhất. Hungary là nước đầu tiên ở Trung Âu thực hiện cải cách kinh tế và chính trị, tiên phong trong số các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện công cuộc cải cách sang nền kinh tế thị trường. Về mặt lịch sử, Hungary đã thực hiện những bước đi đầu tiên trong việc tự do hoá chính sách kinh tế của mình bằng việc đưa ra một “cơ chế kinh tế mới” với nhiều lần thử nghiệm cải cách vào năm 1953, 1956 và 1968. Hungary cũng là nước đầu tiên trong khối Đông Âu thực hiện tư nhân hoá trên cơ sở thị trường (kể cả khu vực mang tính chiến lược như năng lượng và ngân hàng). Những cải cách khu vực công (y tế, giáo dục) cũng bắt đầu được thực hiện. Hai thành quả quan trọng trong thời kỳ chuyển đổi luôn được nhắc tới ở Hungary là: Tư nhân hoá và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chiến lược tư nhân hoá ở Hungary là bán tài sản của nhà nước theo nguyên tắc thị trường. Trong giai đoạn 90 -91 chỉ có 10% tổng số tài sản nhà nước được tư nhân hoá, trong giai đoạn 1992 – 1994 là hơn 40%. Năm 1989, thị phần của khu vực tư nhân tính theo GDP chiếm 18% nhưng tốc độ tư nhân hoá tăng lên, đến cuối năm 1993 khu vực Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  16. Khoá luận tốt nghiệp KTTN đóng góp 50% GDP và cuối năm 1997 là 80%. Đến cuối 1990 quá trình tư nhân hoá coi như đã hoàn thành: Tài sản của nhà nước chỉ còn chưa đến 20% chủ yếu là trong ngành công nghiệp mang tính chiến lược. Tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước là yếu tố quan trọng nhất trong chuyển đổi thể chế do nó tạo ra cơ sở vật chất cho kinh tế thị trường, đồng thời tạo ra sự thay đổi tư duy về sở hữu (chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân). Nhờ có sự thống nhất giữa nhà nước và dân chúng nên quá trình tư nhân hoá ở Hungary diễn ra thuận lợi, không có xung đột gay gắt và kéo theo các chuyển đổi hoà bình khác trong xã hội. Trong số các nước Đông Âu, Hungary là nước thực hiện quá trình chuyển đổi sở hữu nhanh và toàn diện hơn cả. Trước năm 1990, hầu hết các phương tiện sản xuất đều nằm trong tay chính phủ: có 1850 doanh nghiệp nhà nước với tổng giá trị ghi trên sổ sách vào khoảng 20-25 tỷ USD (khoảng 3000 tỷ HUF theo tỷ giá hiện nay). Năm 1989 – 1990 lĩnh vực này đóng góp 10 – 15% GDP, hiện nay là 70-75% GDP, tỷ lệ này tương đương với các nước trong liên minh Châu Âu. Tuy nhiên quá trình tư nhân hoá ở Hungary không diễn ra đều đặn. Đầu thập kỷ 90, Hungary đã tiến hành tư nhân hoá những cơ sở kinh doanh nhỏ sau đó mới tiến hành tư nhân hoá các doanh nghiệp lớn của nhà nước. Kinh nghiệm tư nhân hoá những doanh nghiệp nhỏ đã giúp cho việc tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn suôn sẻ. Quá trình chuẩn bị tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn thực hiện tốt do đã lựa chọn được đối tượng có đủ khả năng vật chất để tiếp tục duy trì hoạt động có hiệu quả trên cơ sở đổi mới công nghệ. Việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước lớn được thực hiện từ 1993 – 1996 (ngân hàng, doanh nghiệp ngành năng lượng… ) Tư nhân hoá ở Hungary được thực hiện đại trà từ 1993 – 1997. Năm 1994 do có bầu cử một số thay đổi cơ cấu chính trị nên quá trình tư nhân hoá chậm lại. Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  17. Khoá luận tốt nghiệp Đỉnh cao của quá trình tư nhân hoá là năm 1995: 1/3 số doanh nghiệp được tư nhân hoá trong năm 1995, kể cả các ngành chiến lược như điện, năng lượng… Chính phủ Hungary đã xâ y dựng cơ sở pháp lý cho việc tư nhân hoá bằng việc ban hành một số luật. Luật công ty đảm bảo cơ sở cho các công ty cổ phần và các loại hình công ty hoạt động. Năm 1995, Hungary ban hành luật tư nhân hoá, luật tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Toàn bộ doanh nghiệp nhà nước của Hungary đều được chuyển sang hoạt động theo luật công ty trước khi tư nhân hoá. Từ năm 1992 – 1995, các quy định của nhà nước đã thay đổi nhiều lần: Nội dung điều chỉnh chủ yếu là những doanh nghiệp nhà nước cần duy trì mức sở hữu 50%, 60% hay 100%. Đến năm 1995 đã định nghĩa chính xác doanh nghiệp không tư nhân hoá bao gồm một số công ty dịch vụ công cộng, chiến lược hoặc quốc phòng. Hiện nay đã xác định nhà nước sẽ nắm giữ cổ phần lâu dài trong các công ty điện lực (duy trì mức sở hữu 51%) công ty bán buôn, bán lẻ dược phẩm, công ty thép và sẽ duy trì lâu dài sở hữu nhà nước trong 3 doanh nghiệp thuộc ngành năng lượng, 3 doanh nghiệp hàng không, 27 nông trường, 17 lâm trường, 24 doanh nghiệp giao thông liên tỉnh và một ngân hàng… Các hình thức tư nhân hoá ở Hungary được quy định rõ ràng trong luật tư nhân hoá cụ thể: - Đấu thầu công khai là hình thức chủ yếu được áp dụng. Hơn 90% tài sản nhà nước được tư nhân hoá thông qua đấu thầu công khai. Nhờ đó đã đạt được tính chất minh bạch rõ ràng. Trên thực tế, việc tư nhân hoá những công ty lớn được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu để lựa chọn đối tác đầu tư. - Thông báo bán công khai: Các điều kiện bán được thông báo để người mua biết bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: Một phần nhỏ doanh nghiệp áp dụng hình thức này. Một thành quả lớn là có doanh nghiệp được đưa ra bán trên thị trường chứng khoán London và Newyork. Khi mới bắt đầu tư nhân hoá thông Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  18. Khoá luận tốt nghiệp qua thị trường chứng khoán (1995), các tổ chức môi giới hưởng tỷ lệ 5 – 10% hoa hồng, đến năm 1999 tỷ lệ này giảm còn 1 – 1,5%. - Bán cho nhà đầu tư chiến lược: Hình thức này áp dụng đối với những doanh nghiệp có tầm quan trọng về quốc phòng hoặc chính trị đặc biệt hoặc có nguy cơ sẽ có đối thủ cạnh tranh mua lại nhằm mục đích thôn tính chiếm lĩnh thị trường. Chỉ có 1-2 trường hợp thông qua mời thầu (an ninh, quốc phòng). - Bán gọn, bán trả góp, khoán, cho thuê lâu dài đối với các nhà quản lý và tập thể cán bộ công nhân viên doanh nghiệp đối với mỗi doanh nghiệp nhỏ: Hình thức này không thành công nên không phổ biến. Hungary không áp dụng hình thức cho không tài sản, trừ trường hợp di chuyển tài sản từ trung ương cho chính quyền địa phương. Hungary không dùng phiếu chứng nhận (voucher) như Tiệp khắc, Ba Lan là đúng đắn vì đây chỉ là biện pháp phân chia lại tài sản của nhà nước; không phải là hình thức tư nhân hoá mang lại hiệu quả. Ý đồ của các nhà chính trị ở Hungary là chuyển tài sản vào tay những người có vốn và tiếp tục sử dụng tài sản đó vào sản xuất kinh doanh. - Phiếu đền bù: chủ yếu được phát hành cho những người bị thiệt hại trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, được lấy từ tài khoản thu do tư nhân hoá. Trong luật tư nhân hoá quy định các đối tượng không được phép tham gia mua cổ phần, nhưng về cơ bản không hạn chế đối tượng mua cổ phần. Do trước thời kỳ xã hội chủ nghĩa không có tư sản tư nhân nội địa để tham gia mua tài sản này, do người Hungary nghèo nên chỉ tham gia những lĩnh vực yêu cầu ít vốn như thương nghiệp bán lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không những thế những doanh nghiệp này chỉ có khả năng tồn tại chứ không để đổi mới công nghệ do thiếu vốn. Hungary không có chiến lược quá ưu đãi cho người mua nội địa thông qua phiếu đền bù và tín dụng ngân hàng. Hungary có chương trình cổ phần hoá cho Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  19. Khoá luận tốt nghiệp người lao động nhưng thực ra quy mô không lớn vì tư nhân hoá nhằm mục tiêu hiệu quả và chọn đối tượng có vốn nhiều nhất. Hungary có chính sách khuyến khích người nước ngoài tham gia cổ phần hoá. Khoảng 60 -62% tài sản doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá cho người nước ngoài. Sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 30% GDP. Tuy nhiên trong quá trình tư nhân hoá ở Hungary nổi lên một vấn đề quan trọng là nợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp nhà nước và nợ ngân hàng rất lớn. Sau đây là hình ảnh mà khu vực kinh tế tư nhân Hungary có được trong những năm cuối 1980. Bảng 1.1: Tăng trưởng công nghiệp tư nhân vừa và nhỏ và của thương nghiệp bán lẻ tư nhân ở Hungary. Số lượng thợ Số công nhân Số lao động Số tư thương Nă m thủ công làm của các thợ của các tư bán lẻ (%) riêng(%) thủ công(%) thương (%) 1984 100 100 100 100 1985 104. 8 108. 1 113. 7 121. 5 1986 108. 4 116. 1 113. 7 121. 5 1987 110. 8 183. 1 142. 1 169. 5 1988 121. 1 263. 3 154. 2 188. 1 1989 125. 8 346. 3 176. 9 208. 8 Nguồn: K. Balazs và M. laki (199. trang504) Số liệu trên cho thấy khu vực KTTN ở Hungary có tốc độ tăng trưởng khá nhịp nhàng năm sau luôn cao hơn năm trước điều đó thể hiện khu vực KTTN vừa và nhỏ này đang được để ý và phát triển. Tuy nhiên đa số các xí nghiệp là những doanh nghiệp tư bản nhỏ, các xí nghiệp tư bản quy mô vừa cũng nổi lên nhưng có thưa thớt. Các xí nghiệp tư bản quy mô lớn cũng được phát triển nhưng Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
  20. Khoá luận tốt nghiệp số lượng rất ít. Để cho việc hình thành các xí nghiệp tư bản quy mô vừa và lớn có thể trở thành phổ biến hơn, đất nước, trên phương diện chính trị, phải tiến tới cách mạng dân chủ và bước vào giai đoạn hậu xã hội chủ nghĩa hoặc ít nhất cũng đạt trạng thái trong đó các yếu tố của quá trình cải cách và của sự thay đổi cách mạng và hệ thống đã được hoà quyện vào nhau. Xác định cho mình các yếu tố cơ bản đó. Hungary bắt đầu chuyển đổi kinh tế vào những năm 1990. Trong quá trình chuyển đổi, nước này rất chú trọng phát triển KTTN, xoá bỏ ý tưởng sở hữu Nhà nước phải giữ ưu thế, thiết lập một nền kinh tế thị trường tự do. Hungary đã lựa chọn con đường phát triển hữu cơ của khu vực KTTN bằng cách tạo điều kiện cho sự phát triển từ dưới lên trên của khu vực tư nhân bằng cách xoá bỏ những rào cản, cản trở sự phát triển vủa khu vực kinh tế này, phải tôn trọng sở hữu tư bản, đưa ra các chính sách hỗ trợ cho khu vực KTTN phát triển, thực hiện quá trình tư nhân hoá các công ty thuộc sở hữu nhà nước không hiệu quả băng cách bán cho tư nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp không có khả năng tồn tại thì cho phá sản, có hệ thống pháp luật rõ ràng, đồng bộ tạo hành lang pháp lý cho khu vực KTTN phát triển, thực hiện ràng buộc ngân sách đối với các doanh nghiệp thuộc khu vưc tư nhân . Với các chính sách đó, KTTN của Hugarry đã có sự phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to lớn hàng năm doanh nghiệp tư nhân mới xuất hiện, đồng thời các doanh nghiệp yếu kém lại đào thải, giải quyết nhiều công ăn việc làm, kích thích tính cạnh tranh trong nền kinh tế, hoàn thiện thị truờng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. * Trung Quốc: Bước vào đột phá Trung Quốc hướng vào kinh doanh hộ gia đình quy mô nhỏ và đặc biệt trong nông nghiệp. Tầm quan trọng của các hộ kinh doanh qui mô ngoài nông nghiệp cũng đã tăng lên rất đáng kể ( số liệu dưới đây sẽ cho ta thấy điều này). Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản