intTypePromotion=1

Đề tài: Một số vấn đề về công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chia sẻ: Thursday | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:38

0
99
lượt xem
27
download

Đề tài: Một số vấn đề về công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra. Tiểu luận nghiên cứu thực trạng việc thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng do Cục Thuế TP Đà Nẵng quản lý từ năm 2002 - 2007 để đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng cường chống thất thu ngân sách nhà nước đối với thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Một số vấn đề về công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

  1. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được Quốc hội nước Cộng hòa xã  hội chủ  nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ  ngày   01/01/1999 thay cho Luật thuế  lợi tức. Ngoài chức năng đảm bảo nguồn thu quan  trọng của ngân sách Nhà nước (NSNN), thuế TNDN còn là công cụ thực hiện chức   năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội; khuyến khích, thúc đẩy  sản xuất (SX), kinh doanh (KD) phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược  và toàn diện của Nhà nước.  Ngoài vị trí địa lý là một thành phố (TP) trung tâm của miền Trung, Đà Nẵng  còn là một trung tâm kinh tế  của đất nước. Số  thu thuế  TNDN trong các năm qua   đạt khoảng 37% ­ 40% trong tổng thu thuế  từ  doanh nghiệp (DN).  Đặc biệt khi   Việt Nam gia nhập vào WTO và thực hiện cắt giảm thuế quan (CFPT), khi đó thuế  nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (GTGT) hàng nhập khẩu cũng giảm theo, thì thuế  TNDN trở  thành nguồn thu quan trọng của NSNN. Tuy nhiên, số  thu thuế  TNDN  qua các năm 2002 ­ 2007 chiếm tỷ trọng giảm dần trong tổng thu ngân sách. Nguyên  nhân do tình trạng trốn thuế  TNDN ngày càng phổ  biến dưới nhiều hình thức tinh   vi, khó phát hiện, số thuế TNDN bị thất thoát ngày càng lớn; hơn nữa việc thanh tra,  kiểm tra đối tượng nộp thuế  (ĐTNT) là công cụ  chủ  yếu để  chống thất thu ngân   sách theo cơ chế tự khai, tự nộp chưa được xem trọng; mặt khác, các thủ tục thanh  tra, kiểm tra thuế  TNDN còn nhiều bất cập dẫn đến việc thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN của cơ quan Thuế với ĐTNT chưa đạt được hiệu quả như dự kiến. Xuất phát từ  chức năng, vai trò của của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN   tại TP Đà Nẵng, Tác giả  đã chọn đề  tài:  "Một số  vấn đề  về  công tác thanh tra,   kiểm tra thuế  thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn thành phố  Đà Nẵng"  làm đề  tài  cho Tiểu luận môn học Nghiệp vụ Thanh tra của mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra . Tiểu luận nghiên cứu thực trạng việc   thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng do Cục Thuế TP Đà Nẵng  quản lý từ năm 2002 ­ 2007 để đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của   công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN, tăng cường chống thất thu NSNN đối với  thuế TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ­ Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về  thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa  bàn TP Đà Nẵng trên cơ sở cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế của ĐTNT trong mối liên  hệ với quy trình quản lý thu thuế TNDN, quy trình thanh tra, kiểm tra do Tổng cục   Thuế ban hành áp dụng trên toàn quốc. ­ Phạm vi nghiên cứu: Văn phòng Cục Thuế TP Đà Nẵng và 7 Chi cục Thuế.
  2. 2 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Dựa   trên   cơ   sở   phương   pháp   luận   duy   vật   biện   chứng   kết   hợp   với   các  phương pháp cụ thể như: phương pháp mô tả, phân tích tỷ lệ, kiểm định thống kê,   kiểm tra, đối chiếu so sánh và tổng hợp để phân tích thực trạng việc thanh tra, kiểm   tra thuế TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Từ đó có thể đưa ra những kết luận cần   thiết từ thực tế, đưa ra các giải pháp hoàn thiện phù hợp với khả năng áp dụng tại   TP Đà Nẵng.  5. Những đóng góp của Tiểu luận Tiểu luận nêu lên thực trạng của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN  trên địa bàn TP Đà Nẵng, những tồn tại và nguyên nhân, đồng thời đưa ra những   giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. 6. Kết cấu của Tiểu luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt và tài liệu tham khảo,  Tiểu luận được chia làm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. Chương 2: Thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN trên địa bàn TP Đà  Nẵng. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả  công tác thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng.
  3. 3 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA,  KIỂM TRA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1. Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế TNDN 1.1.1. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra Quản lý là một quá trình định hướng và tổ  chức thực hiện các mục tiêu đã  định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả  cao nhất. Đặc điểm   của quản lý là tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ  giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.  Hoạt động quản lý bao gồm các chức năng cơ  bản: dự  báo, hoạch định, tổ  chức, điều hành, kiểm tra và đánh giá. Trong đó kiểm tra là chức năng quan trọng,  được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Đó là việc xem xét để  đánh giá, phân loại, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với  mục tiêu, kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu hay định hướng cho các hoạt  động.  Thanh tra ­ tiếng Anh “ Inspect” xuất phát từ  gốc Latinh “In­Spectare” có  nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ  “một sự  xem xét từ  bên ngoài vào một đối tượng  nhất định”.    Theo từ  điển tiếng Việt: “Thanh tra (người thuộc cơ  quan có thẩm quyền)  kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa   này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn  những gì trái với quy định” [12 , tr 9]. Thanh tra được hiểu là một chức năng thiết yếu cuả  cơ  quan quản lý nhà  nước, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện   chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thường được được  thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ  tục luật định, nhằm  phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật,  phát hiện những sơ  hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện  pháp khắc phục; phát huy nhân tố  tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực  của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ  lợi ích cuả  Nhà nước, các quyền và lợi  ích hợp pháp cuả cơ quan, tổ chức và cá nhân [12 , tr 12]. 1.1.2. Thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp 1.1.2.1. Những vấn đề cơ bản về thuế TNDN  Thuế TNDN là loại thuế trực thu, thu vào thu nhập chịu thuế (TNCT) sau khi   trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở SXKD.
  4. 4 * Đối tượng nộp thuế  TNDN: Theo quy định của Luật thuế TNDN thì các  tổ  chức, cá nhân SX, KD hàng hóa, dịch vụ  dưới  đây có TNCT phải nộp thuế  TNDN: ­ Các tổ chức SX, KD hàng hóa, dịch vụ: ­ Cá nhân trong nước và nước ngoài SX, KD hàng hóa, dịch vụ  có thu nhập  phát sinh tại Việt Nam bao gồm: cá nhân và nhóm cá nhân KD; hộ  KD cá thể; cá  nhân cho thuê tài sản như  nhà, đất, máy móc thiết bị; cá nhân hành nghề  độc lập   thuộc đối tượng KD phải đăng ký nộp thuế TNDN như: bác sỹ, luật sư, kế toán, ... ­ Công ty  ở  nước ngoài hoạt động KD thông qua cơ  sở  thường trú tại Việt  Nam mang lại thu nhập.  *  Căn cứ tính thuế TNDN Thuế TNDN phải nộp  =  TNCT trong kỳ tính thuế  *  thuế suất thuế TNDN   Thu nhập chịu thuế:  TNCT trong kỳ  tính thuế  bao gồm TNCT của hoạt  động SX, KD, dịch vụ và TNCT khác, kể cả TNCT từ hoạt động SX, KD, dịch vụ ở  nước ngoài. TNCT trong kỳ tính thuế được xác định theo công thức sau: Thu nhập chịu  Doanh thu để  Chi phí hợp  Thu  nhập  tính thu nhập  chịu thuế  thu                       =                               ­                             + ế trong kỳ  chịu thuế  lý trong kỳ  khác trong  tính thuế trong kỳ tính  tính thuế kỳ tính thuế Sau khi xác định TNCT theo công thức trên, CSKD được trừ  số  lỗ  của các  năm trước chuyển sang trước khi xác định số thuế TNDN phải nộp theo quy định.  Doanh thu để  tính thu nhập chịu thuế  trong kỳ  tính thuế:   là toàn bộ  tiền  bán hàng, tiền cung cấp dịch vụ  bao gồm cả  trợ  giá, phụ  thu, phụ  trội mà CSKD   được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.    Các khoản chi phí hợp lý được trừ  để  tính thu nhập chịu thuế:  l à   c ác  khoản chi phí hợp lý liên quan đến doanh thu và TNCT trong kỳ tính thuế.  Các khoản thu nhập chịu thuế khác: Các khoản TNCT khác trong kỳ tính thuế bao gồm: + Chênh lệch về mua, bán chứng khoán. Lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay, lãi bán  hàng trả chậm; lãi do bán ngoại tệ, lãi về chênh lệch tỷ giá hối đoái.  + Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản;  + Thu nhập từ  hoạt động liên quan đến quyền sở  hữu công nghiệp, quyền   tác giả; thu nhập khác về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. + Kết dư  cuối năm các khoản dự  phòng giảm giá hàng tồn kho, dự  phòng  công nợ khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán. 
  5. 5 + Thu các khoản nợ  khó đòi đã xóa sổ  kế toán nay đòi được; thu các khoản   nợ phải trả không xác định được chủ nợ. + Thu về tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế  sau khi đã trừ  tiền bị  phạt vi   phạm hợp đồng kinh tế. + Các khoản thu nhập từ  hoạt động SX, KD hàng hóa, dịch vụ  của những   năm trước bị bỏ sót mới phát hiện ra. + Thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất.  + Thu nhập nhận được từ  hoạt động SX, KD hàng hóa, dịch vụ   ở  nước   ngoài.  + Các khoản thu nhập liên quan đến việc tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ  không tính trong doanh thu. + Các khoản thu nhập từ các hoạt động góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết  kinh tế trong nước chưa nộp thuế TNDN.  + Quà biếu, quà tặng bằng hiện vật, bằng tiền và các khoản thu nhập khác.  Thuế  suất thuế  TNDN: Thuế  suất thuế TNDN áp dụng đối với CSKD là  28%.  1.1.2.2. Nội dung của thanh tra, kiểm tra thuế TNDN Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN là hoạt động thanh tra chuyên  ngành, chủ yếu do cơ quan Thuế thực hiện, có sự phối hợp của nhiều cơ quan hữu   quan như:  Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước,.. trên cơ sở ĐTNT tự tính, tự  khai và tự nộp vào NSNN. Do đó, việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN có đặc điểm   ngoại kiểm của hoạt động kiểm toán thuế  TNDN, tức là kiểm soát việc tuân thủ  pháp luật thuế TNDN đối với ĐTNT. Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là việc kiểm tra để xác định chính xác số thuế  TNDN mà ĐTNT phải nộp thông qua các căn cứ tính thuế TNDN như: xác định doanh   thu tính thuế  TNDN phát sinh trong kỳ, các khoản chi phi hợp lý, hợp lệ được tính   giảm trừ  khi xác định TNCT theo quy định của Luật thuế TNDN, các khoản TNCT  khác (nếu có), thuế suất thuế TNDN ... nhằm quản lý chặt chẽ được nguồn thu này.  Có thể  tóm tắt việc thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN với ĐTNT bằng hình 1.1 như  sau: Các chuẩn mực: Kiểm  soát  việc  ­ Luật thuế TNDN và các  tuân  thủ  luật  văn bản hướng dẫn. CƠ QUAN  thuế TNDN với  ­  Quy  trình  quản  lý  thuế  các  đối  tượng  THUẾ TNDN,  quy  trình  thanh  nộp thuế. tra, kiểm tra thuế TNDN. Hình 1.1: Sơ đồ thanh tra, kiểm tra thuế TNDN
  6. 6 1.1.2.3. Quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế là công cụ chủ yếu để  thực hiện thanh tra,  kiểm tra thuế TNDN. Thực chất của thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp  hành pháp luật thuế của ĐTNT và xử lý vi phạm. Nội dung quy trình được thể hiện   bảng sau: Bảng 1.1: Quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT STT Bước công  Các công việc cụ thể Bộ phận thực hiện việc 1 Lập   kế  ­ Thu thập thông tin về DN Phòng thanh tra, quản lý  hoạch   thanh  ­ Lập kế hoạch thanh tra: DN thuộc Cục Thuế, Tổ  tra, kiểm tra. + Dự tính nguồn nhân lực thanh   tra,   quản   lý   DN  +   Lập   kế   hoạch   tháng,   quý,  thuộc Chi cục Thuế. năm. Tổng cục, Cục Thuế. ­ Duyệt kế hoạch thanh tra 2 Tổ   chức  ­ Chuẩn bị thanh tra, kiểm tra: Đoàn kiểm tra, thanh tra phân tích sâu   + Tập hợp, phân tích thông tin;  các DN trong  kiểm   tra   hồ   sơ   tại   cơ   quan  kế   hoạch  Thuế thanh   tra,   + Xác định nội dung, phạm vi,  kiểm tra, hình thức kiểm tra. Cục   Thuế,   Chi   cục  ­ Thành lập đoàn thanh tra. Thuế 3 Thanh   tra,  ­ Ban hành QĐ thanh tra, kiểm tra: Đoàn thanh tra, kiểm tra kiểm   tra   tại   + Công bố QĐ kiểm tra. DN  + Lập nhật ký kiểm tra. ­ Thực hiện thanh tra, kiểm tra  Đoàn thanh tra, kiểm tra bằng   việc   xem   xét   số   liệu   và  xác lập hồ sơ chứng lý:   + Kiểm tra, đối chiếu số  liệu  tổng hợp; kiểm tra chi tiết, lập  hồ sơ chứng lý.   + Lập biên bản thanh tra, kiểm  tra. Đoàn thanh tra, kiểm tra ­ Xử  lý kết quả  thanh tra, kiểm  Đoàn thanh tra, kiểm tra tra. Phòng, Tổ thanh tra. ­   Báo   cáo   kết   quả   cuộc   kiểm   tra. ­ Lưu trữ hồ sơ và theo dõi việc  thực hiện Quyết định xử lý. 4 Báo cáo thực  ­ Lập báo cáo tổng hơp kết quả  Cục   Thuế,   Chi   cục  hiện   kế  thanh tra, kiểm tra. Thuế hoạch   thanh  tra.
  7. 7 1.2. Những mục tiêu cơ bản của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN Thứ  nhất, thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN phải giúp cho công tác quản lý   nguồn thu ngân sách được thực hiện một cách tốt nhất, tập trung và huy động đầy đủ  số thu cho NSNN. Đây là mục tiêu chủ yếu vì với mục tiêu này, việc thanh tra, kiểm   tra thuế  TNDN mới thể  hiện đầy đủ  vai trò của nó trong việc quản lý nguồn thu   NSNN.  Thứ  hai, đề  cao ý thức tự  giác chấp hành chính sách, pháp luật về  thuế  và   tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thực hiện tốt nghĩa vụ về thuế. Mục tiêu này có   tính chất thường xuyên, lâu dài và tác động tới ý thức tự giác của DN. Để thực hiện   được mục tiêu này thì việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN phải tuân thủ  một cách  nghiêm chỉnh quy trình quản lý thuế và quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT.   Thứ  ba, nhằm điều chỉnh những bất hợp lý, những kẽ  hở  của chính sách  pháp luật trong quá trình thực hiện Luật thuế  TNDN, hạn chế các tình trạng tránh  thuế, trốn thuế của ĐTNT; phát hiện và xử  lý kịp thời đối với các hành vi gian lận   về  thuế. Góp phần tạo ra môi trường KD  ổn định, đảm bảo sự  cạnh tranh lành   mạnh trong hoạt động KD giữa các thành phần kinh tế.  Thứ tư, cải tiến thủ tục quản lý thuế, phân công, phân nhiệm rõ ràng, chuẩn  hóa dần công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ  máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ thuế. Thứ  năm, việc thanh tra thuế TNDN phải góp phần phát huy tốt nhất vai trò  của thuế  TNDN trong nền kinh tế; bởi vì thông qua việc thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN mới cung cấp đầy đủ và kịp thời những thông tin chính xác cho công tác quản  lý thuế, từ đó giúp cho Luật thuế TNDN thực sự phát huy được hiệu quả trong nền  kinh tế.   Để đạt được những mục tiêu cơ bản nêu trên, đòi hỏi phải có những yêu cầu  cụ thể đối với cơ quan Thuế và công chức thuế như sau: Một là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý thuế, sắp xếp tổ chức bộ máy quản  lý thuế, phân rõ chức năng, nhiệm vụ  của từng bộ  phận tại Cục Thuế, Chi cục   Thuế.  Hai là,  tăng cường công tác phân tích thông tin, phát hiện các dấu hiệu nghi  ngờ vi phạm về thuế để kịp thời thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi   phạm pháp luật về thuế. Ba là, phải phân định rõ ràng giữa nghĩa vụ  kê khai thuế, nộp thuế của DN   với trách nhiệm phát hiện hành vi vi phạm về thuế để thực hiện kiểm tra, thanh tra   thuế của cơ quan Thuế. Bốn là, cán bộ thuế phải nắm vững chính sách, chế độ thuế; có ý thức trách   nhiệm cao, tuân thủ đúng quy định nghiệp vụ và các bước công việc trong quy trình. Năm là, tăng cường trang bị  cơ  sở  vật chất, thiết bị  làm việc để  đảm bảo  khai thác thông tin phục vụ kịp thời cho công tác quản lý và chỉ đạo thu thuế TNDN.
  8. 8 1.3.   Các   nhân   tố   ảnh   hưởng   đến   công   tác   thanh   tra,   kiểm   tra   thuế  TNDN Từ  mục tiêu, nội dung của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN nêu trên thì  các nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là: 1.3.1. Các nhân tố từ các cơ quan quản lý  Nhà nước ­ Về việc thay đổi chính sách pháp luật của Nhà nước: thể  hiện  ở  việc sửa   đổi, bổ  sung, điều chỉnh thường xuyên hoặc thay đổi Luật thuế  TNDN của Nhà   nước dẫn đến việc nắm bắt và thích nghi những nội dung mới của cả  ĐTNT và  công chức thuế  chưa kịp thời, gây khó khăn cho quá trình thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN. Ngoài ra, việc ban hành các văn bản có cùng đối tượng áp dụng nhưng khác   về  tính chất, nội dung cơ bản hoặc chồng chéo lên nhau của các cơ  quan quản lý  Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN.  ­ Về  vấn đề  thanh toán qua ngân hàng: Luật thuế  TNDN chỉ  quy định bắt  buộc việc thanh toán qua ngân hàng đối với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa;   mọi tiêu dùng khác đều chưa quy định bắt buộc. Đây chính là kẽ  hở để  các CSKD  thực hiện gian lận thương mại, mua bán khống hóa đơn nhằm hợp thức hóa chi phí  không có thực để làm giảm TNCT dẫn đến giảm số thuế TNDN phải nộp. 1.3.2. Các nhân tố từ phía cơ quan Thuế ­ Việc bố trí bộ máy quản lý thuế  tại cơ quan Thuế chưa hợp lý, việc phân  công nhiệm vụ  của các bộ  phận theo quy trình chưa đồng bộ  dẫn đến nhiều chức  năng còn chồng chéo (như: chức năng thanh tra, kiểm tra ĐTNT; giải quyết đơn   khiếu nại; hướng dẫn, chỉ  đạo công tác quản lý thuế, ...); một số  chức năng lại   chưa có bộ  phận chuyên trách đảm nhiệm (như: chức năng cưỡng chế  thuế, chức   năng pháp chế, ...) cũng gây ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. ­ Về tổ chức mạng nội bộ: thực hiện tốt việc nối mạng nội bộ ngành Thuế  trong cả nước tạo điều kiện cho cơ quan Thuế thực hiện các chương trình quản lý  thuế đạt hiệu quả cũng như việc thu thập mọi thông tin về ĐTNT được đầy đủ  và  kịp thời, giúp cho công tác chống gian lận về thuế TNDN đạt được hiệu quả.  ­ Về  nhân tố  con người: công chức thuế  hạn chế  về  trình độ  chuyên môn,   chưa thực hiện đúng nội dung, yêu cầu của các quy trình, chưa thực hiện đúng chức   trách được giao gây hậu quả thất thu thuế TNDN. ­ Trang thiết bị  phục vụ  cho việc quản lý thu thuế  bị  hạn chế  cũng là một  nhân tố ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. 1.3.3. Các nhân tố từ phía đối tượng nộp thuế  ­ Về công tác hạch toán kế toán của ĐTNT: ngày càng có nhiều DN mà tập   trung chủ yếu ở loại hình DN ngoài quốc doanh và hợp tác xã, thường có bộ máy kế  toán được tổ  chức và hạch toán theo ý kiến chủ  quan của chủ  DN, luôn có ý thức  trốn thuế TNDN bằng cách bỏ ngoài sổ sách các khoản doanh thu và thu nhập tính 
  9. 9 thuế TNDN, hạch toán các khoản chi phí không phục vụ SXKD, các khoản chi phí   bất hợp lý, hợp lệ, chi không có chứng từ hóa đơn theo quy định ... vào chi phí khi   xác định TNCT để làm giảm số thuế TNDN phải nộp nên đã gây khó khăn cho việc  kiểm tra, thanh tra, kiểm tra thuế TNDN của cơ quan Thuế;  ­ Về việc sử dụng hóa đơn, chứng từ: do người tiêu dùng chưa có thói quen  lấy hóa đơn khi mua hàng hóa, dịch vụ  dẫn đến nhiều ĐTNT cố  tình không kê khai   hoặc   kê   khai   doanh   số   thấp   hơn   thực   tế   làm   giảm   TNCT   dẫn   đến   trốn   thuế  TNDN; ... Tóm lại, Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là một yêu cầu tất yếu của quản lý   Nhà nước về  thuế. Việc thực hiện phải tuân thủ  chặt chẽ  quy trình quản lý thu  thuế TNDN, quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT cũng như các quy chế làm việc của  từng bộ phận chức năng trong cơ quan Thuế. Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN có đối   tượng riêng, mục đích, yêu cầu và phương pháp riêng, nhưng để  thực hiện có hiệu  quả thì Nhà nước cần trang bị cơ sở vật chất cho ngành Thuế, tăng cường đào tạo   và bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ, chuyên môn cho công chức thuế. Mặt  khác hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế TNDN chịu nhiều tác động của môi trường  bên trong cũng như  môi trường bên ngoài có thể  là tích cực hoặc tiêu cực. Do vậy   hệ thống luật pháp của Nhà nước cần phải thực sự chặt chẽ và có hiệu lực. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ  THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng TP Đà Nẵng nằm  ở  15o55' đến 16o14' vĩ Bắc, 107o18' đến 108o20' kinh  Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông   giáp Biển Đông. Diện tích 1.248,4 km2 với dân số  gần 800.000 người, GDP bình  quân đầu người 424.7 USD, tốc độ tăng GDP hàng năm 10,5%/năm. TP có 6 quận  và 2 huyện.  Cho đến nay, Đà Nẵng đã có  Cơ  sở  hạ  tầng và hệ  thống giao thông hoàn  chỉnh với đủ  4 loại đường giao thông thông dụng là đường bộ, đường sắt, đường   biển và đường hàng không quốc tế. Với 5 khu công nghiệp đã hoàn thiện cơ sở hạ  tầng cùng những chính sách ưu đãi đầu tư, Đà Nẵng được đánh giá rất cao về vị trí   thuận tiện, thủ tục đơn giản, nhanh gọn. Ngoài ra, Đà Nẵng còn có chính sách thông   thoáng và cơ chế một cửa, hệ thống tài chính, tín dụng phát triển đa dạng cộng với   nhiều dịch vụ tiện ích khác  giúp cho DN thuận tiện trong SX KD trên mọi lĩnh vực.  Với những đặc điểm nêu trên, TP Đà Nẵng hiện đang có 10.136 DN và hợp  tác xã đang hoạt động được phân chia theo từng loại hình sở hữu vốn như sau: Bảng 2.1 Thống kê loại hình DN đang hoạt động đến 31/12/2007
  10. 10 Cục Thuế  7 Chi cục  STT Loại hình DN Tổng cộng quản lý Thuế quản lý 1 DN Nhà nước 450 5 455 2 Công ty TNHH 1 thành viên 17 0 17 3 DN Nhà nước cổ phần hoá 226 0 226 4 DN   có   vốn   đầu   tư   nước  202 0 202 ngoài 5 Đơn vị sự nghiệp, vũ trang 156 32 188 6 Công ty trách nhiêm hữu hạn 508 6.353 6.861 7 Công ty cổ phần (dân doanh) 147 285 432 8 DN tư nhân 90 1.328 1418 9 DN khác 44 176 220 10 Hợp tác xã 0 117 117 Tổng cộng 1.840 8.296 10.136 (Nguồn: số liệu trên Chương trình quản lý thuế của Cục Thuế TP Đà Nẵng) 2.2. Tình hình thanh tra, kiểm tra thuế TNDN tại địa bàn TP Đà Nẵng 2.2.1. Việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế TNDN Việc lập kế  hoạch thanh tra được tiến hành vào tháng 11 năm trước. Căn cứ  thông tin chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT, định hướng của Tổng cục Thuế và lực  lượng cán bộ thanh tra thuế để lựa chọn những ĐTNT cần phải kiểm tra, xác định rõ  hình thức thanh tra, kiểm tra cần áp dụng. Đây là bước quan trọng vì phải lựa chọn  chính xác số ĐTNT có vi phạm lớn để kiểm tra thu hồi ngay số tiền thuế có nguy cơ bị  thất thoát, xử lý nghiêm minh, làm gương cho các ĐTNT khác; tránh lãng phí nhân lực   và vật chất do việc lập kế hoạch không chính xác. Kế hoạch phải đảm bảo phù hợp,  tránh trùng lắp với kế hoạch của các cơ  quan khác như: Kiểm toán, Thanh tra Chính  phủ ... Tuy nhiên, các thông tin lịch sử của DN chưa được cập nhật kịp thời, số liệu   trên quyết toán thuế TNDN và báo cáo tài chính của phần lớn DN ngoài quốc doanh   được phản ánh không chính xác và trung thực, việc phân tích các thông tin về  dấu  hiệu khai man, trốn thuế  thường được làm rất sơ  sài, dẫn đến công tác lập kế  hoạch thanh tra nhiều khi không chính xác, không tập trung vào các DN có hành vi vi   phạm về thuế. Do vậy, chất lượng của một số cuộc thanh tra còn hạn chế.  Việc phân tích các thông tin về dấu hiệu khai man, trốn thuế chưa được quan  tâm, dẫn đến công tác lập kế  hoạch thanh tra đôi khi không chính xác, không tập  trung vào các DN có hành vi vi phạm về thuế. Do vậy, chất lượng của một số cuộc   thanh tra còn hạn chế. Có thể thấy mối liên hệ giữa việc phân tích thông tin, lập kế  hoạch thanh tra và kết quả thanh tra qua các năm gần đây tại Cục Thuế TP Đà Nẵng. Bảng 2.2: Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra 2005 ­ 2007
  11. 11 STT Chỉ tiêu ĐVT 2005 2006 2007 1 Kế hoạch thanh tra, kiểm tra cuộc 500 500 400 2 Số đã thực hiện cuộc 681 565 397 3 Tỷ lệ thực hiện kế hoạch  =  (2) : (1) % 136% 113% 99% 4 Số cuộc phát hiện có vi phạm cuộc 516 428 316 5 Tỷ lệ DN vi phạm  =  (4) : (2) % 76% 76% 80% 6 Số thuế tăng thêm qua kiểm tra Triệu 22.990 34.485 45.980 7 Số thuế tăng bình quân/ cuộc  = (6) : (2) Triệu 34 61 116 8 Số thuế bình quân vụ vi phạm = (6) : (4) Triệu 44 81 146 (Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra năm 2005 ­ 2007) Từ  số liệu trên có thể  thấy rằng: năm 2005 mặc dù thực hiện đạt 136% kế  hoạch thanh tra, kiểm tra nhưng số vụ phát hiện chỉ  đạt 76%, tức là kiểm tra 165   DN tương  ứng với tỷ lệ  24% không phát hiện ra sai phạm; tương tự năm 2006 có  137 DN không sai phạm đạt 24%; năm 2007 có 81 DN không sai phạm chiếm tỷ lệ  20%. Tổng số thuế gian lận phát hiện qua kiểm tra cũng thấp: năm 2005 bình quân   34 triệu đồng/vụ, năm 2006 bình quân 61 triệu đồng/vụ, năm 2007 bình quân 116   triệu đồng/vụ.  Kết quả  trên đã chứng minh việc phân tích thông tin, việc lập kế  hoạch thanh tra, kiểm tra không sát với thực tế, không đi sâu vào các hành vi vi  phạm dẫn đến chất lượng công tác thanh tra và kiểm soát thuế  chưa đạt hiệu quả  và yêu cầu đặt ra.   Chưa có quy định cụ  thể  về  quy mô và mức độ  ĐTNT như  thế  nào do các  Phòng Quản lý DN kiểm tra, đối tượng nào do Phòng Thanh tra thực hiện kiểm tra.   Do vậy trong các năm qua, các ĐTNT có địa chỉ  KD  ở  địa bàn xa xôi; hoặc làm ăn  thua lỗ kéo dài lâm vào giải thể, phá sản; các ĐTNT chây  ỳ  trong việc nộp NSNN;   các ĐTNT có bộ máy kế toán yếu ... đều được các Phòng Quản lý DN đùn đẩy trách  nhiệm cho Phòng Thanh tra giải quyết. Do đó có rất nhiều ĐTNT hàng năm đều  được kiểm tra nhưng không phát hiện ra sai phạm, một số  ĐTNT khác chưa được  kiểm tra lần nào kể  từ  khi thực hiện Luật thuế  TNDN đến nay; từ  đó vai trò của  công tác thanh tra, kiểm tra yếu đi, chưa bao quát hết các ĐTNT vi phạm do không đi   vào trọng tâm các hành vi gian lận thuế. Vì vậy đã  ảnh hưởng đến chất lượng của   công tác thanh tra, kiểm tra; làm giảm sút hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN. 2.2.2. Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế TNDN tại CSKD 2.2.2.1. Công tác chuẩn bị thanh tra Công tác chuẩn bị  kiểm tra gồm: việc tập hợp, phân tích các tài liệu về  ĐTNT như số liệu trên báo cáo quyết toán thuế TNDN, báo cáo tài chính nhằm tìm   ra những khả  năng rủi ro về  thuế, những sai sót, gian lận của ĐTNT. Nhóm phân  tích kiểm tra tính xác thực đối với các hồ  sơ, thông tin và các nghi vấn về ĐTNT, 
  12. 12 đề xuất kiến nghị, giải pháp xử lý sau khi làm rõ các nội dung nghi vấn. Xác định rõ  nội dung và thời kỳ thanh tra đối với trường hợp cần phải thanh tra tại CSKD. Tuy nhiên, những năm qua Công tác chuẩn bị  thanh tra vẫn còn bị  xem nhẹ,  cụ  thể: việc thu thập và xử  lý các thông tin cần thiết còn sơ  sài, thiếu nội dung;  việc xây dựng và trình duyệt kế  hoạch tiến hành thanh tra còn qua loa, đại khái;  việc chuẩn bị đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo chưa được thực hiện   một cách bài bản dẫn đến thời gian tiến hành cuộc thanh tra thường dài nhưng hiệu  quả không cao. 2.2.2.2. Trực tiếp tiến hành thanh tra tại CSKD Việc tiến hành thanh tra tại CSKD được tiến hành sau khi đã hoàn thành   bước chuẩn bị  kiểm tra và quyết định cần phải kiểm tra tại CSKD. Bao gồm các  nội dung:  ­ Công bố Quyết định thanh tra. ­ Thực hiện các nghiệp vụ thanh ra, kiểm tra: + Kiểm tra tính trung thực của các nội dung trên tờ khai thuế, quyết toán thuế  TNDN, trên cơ sở các sổ sách, hóa đơn, chứng từ, báo cáo tài chính,…  +  Kiểm tra tính hợp pháp của các biểu mẫu, trình tự  lập và luân chuyển  chứng từ, phương pháp tính toán, phân bổ và hạch toán kế toán.  + Kiểm tra tính hợp lý của các đối tượng kế  toán, nội dung nghiệp vụ  kinh   tế phát sinh và tính pháp lý trong việc thực hiện chế độ tài chính DN. ­ Xác lập các biên bản chi tiết, các bản sao chụp, các hồ sơ từng phần,… làm   căn cứ cho việc thiết lập các hồ sơ chứng lý để xử lý sau thanh tra. 2.2.2.3. Kết thúc cuộc thanh tra tại CSKD Sau khi kết thúc cuộc thanh tra, Đoàn thanh tra phải thực hiện các nội dung: ­ Lập biên bản kết thúc thanh tra, kiểm tra; biên bản đảm bảo yêu cầu ngắn  gọn, rõ ràng, chính xác, phản ánh đầy đủ  kết quả  của cuộc thanh tra, kiểm tra và  những kiến nghị xử lý vi phạm. ­ Xây dựng báo cáo kết quả cuộc thanh tra. ­ Lập dự thảo kết luận thanh tra trình lãnh đạo Cục Thuế phụ trách công tác   thanh tra xem xét và cho ý kiến chỉ đạo xử lý. ­ Gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra. ­ Xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra: Trong thời hạn 10 kể từ sau ngày công bố  biên bản thanh tra, kiểm tra; cơ quan Thuế phải ban hành quyết định xử lý gửi DN.   Đây là văn bản thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc kiểm soát thuế nhằm xử lý   và thu hồi số  thuế  khai man, nợ  đọng kịp thời vào NSNN; nâng cao ý thức chấp   hành luật thuế của các DN và cho người thi hành công vụ.  Việc xử lý kết quả thanh tra là bước rất quan trọng trong một cuộc thanh tra.  Khi xử  lý phải hoàn toàn tuân thủ  theo pháp luật thuế, chế  độ  sử  dụng hóa đơn 
  13. 13 chứng từ. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay hệ  thống pháp luật chưa đồng bộ,  chưa thống nhất, một hành vi vi phạm có thể  được quy định  ở  nhiều văn bản có  những chế tài khác nhau hoặc được vận dụng ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, dẫn đến  tùy tiện trong xử lý có thể dẫn đến thất thoát thuế TNDN và không công bằng.  ­ Đánh giá kết quả  cuộc thanh tra, lưu trữ  hồ  sơ; theo dõi việc thực hiện  Quyết định xử lý và báo cáo thực hiện kế hoạch:  Quy định này nhằm tổng kết kinh   nghiệm, tìm ra những dạng hành vi vi phạm, phương thức trốn thuế,... và phương   pháp phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm đó; thực hiện lưu trữ hồ sơ; theo dõi  đôn đốc thu ngay vào NSNN các khoản phải truy thu và tiền phạt theo quy định.  Ngoài ra, Cục Thuế  TP Đà Nẵng còn xây dựng các đề  án chống thất thu   NSNN trên các lĩnh vực KD như: vận tải công cộng, KD ô tô, xe máy, xây dựng cơ  bản,…đặc biệt từ  năm 2003 đến nay, Cục Thuế  đã chủ  động cùng với cơ  quan   Công an xây dựng Đề  án phối hợp chống hành vi thành lập DN với mục đích mua  bán hóa đơn bất hợp pháp để gian lận và chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT, tiếp tay   cho một số  DN hợp thức hóa chi phí khống làm giảm TNCT dẫn đến trốn thuế  TNDN. Qua thanh tra, kiểm tra ĐTNT, Cục Thuế TP Đà Nẵng đã phát hiện nhiều sai  phạm, nhầm lẫn của DN trong quá trình lập tờ khai quyết toán thuế TNDN dẫn đến   khai thác tăng thu cho NSNN. Sau đây là kết quả  thanh tra, kiểm tra của Phòng   Thanh tra và các Tổ thanh tra của 7 Chi cục Thuế trực thuộc từ năm 2003 ­ 2007: Bảng 2.3 : Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế TNDN từ năm 2003 ­ 2007 Đơn vị tính: Triệu đồng. STT Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 A DN Nhà nước 1 Số đơn vị kiểm tra 155 126 84 75 61 2 Số đơn vị có vi phạm 112 91 66 63 45 3 Số thuế tăng qua kiểm tra 10.280 14.071 12.52 18.78 25.040 0 0 ­ Trong đó thuế TNDN 4.670 6.069 7.345 11.01 14.190 8 B DN đầu tư nước ngoài 1 Số đơn vị kiểm tra 93 62 29 63 33 2 Số đơn vị có vi phạm 38 25 18 9 16 3 Số thuế tăng qua kiểm tra 920 613 657 986 1.314 ­ Trong đó thuế TNDN 644 429 301 456 597 C DN ngoài quốc doanh 1 Số đơn vị kiểm tra 262 447 448 437 273 2 Số đơn vị có vi phạm 138 305 364 338 244 3 Số thuế tăng qua kiểm tra 3.279 7.139 8.957 13.43 17.914 5
  14. 14 ­ Trong đó thuế TNDN 1.967 3.570 4.479 6.719 8.962 D DN khác, hợp tác xã  1 Số đơn vị kiểm tra 810 1.300 120 21 30 2 Số đơn vị có vi phạm 131 117 68 18 11 3 Số thuế tăng qua kiểm tra 1.142 1.022 856 1.533 1.712 ­ Trong đó thuế TNDN 400 358 300 450 1.100 E Tổng cộng: 1 Số đơn vị kiểm tra 1.320 1.935 681 565 397 2 Số đơn vị có vi phạm 418 538 516 428 316 3 Số thuế tăng qua kiểm tra 15.621 22.845 22.99 34.48 45.980 0 5 ­ Trong đó thuế TNDN 7.681 10.245 12.42 18.63 24.849 4 6   Cụ  thể:+  Do vi phạm chế   độ  kế  1.067 4.532 6.359 9.539 6.798 toán:                       + Vi phạm sử  dụng hóa  149 691 1.251 876 2.579 đơn:            + Vi phạm việc kê khai và   918 2.458 2.815 8.221 15.472 quyết toán thuế TNDN:  (Nguồn: Báo cáo kết quả công tác thanh tra, kiểm tra của Cục Thuế từ 2003 ­   2007)  Số  thuế  TNDN đã thu hồi số  vào NSNN qua thanh tra, kiểm tra ngày càng   tăng: chẳng hạn  ở  lĩnh vực DN Nhà nước tăng từ  4.670 triệu đồng năm 2003 lên   14.190 triệu đồng năm 2007, chiếm 57 % trên tổng số thuế gian lận ở lĩnh vực này;  tương tự ở lĩnh vực DN ngoài quốc doanh, số thuế TNDN thu hồi đã tăng từ  1.967  triệu đồng lên 8.962 triệu đồng, chiếm 50 % số thuế  gian lận của DN ngoài quốc   doanh phát hiện năm 2007. Ngoài ra, trong quá trình thanh tra, kiểm tra tại CSKD, cơ quan Thuế đã lập  biên bản, đôn đốc thu nợ đọng làm tăng thu cho NSNN, cụ thể năm 2003: 463 triệu  đồng, năm 2004: 783 triệu đồng, năm 2005: 50.835 triệu đồng, năm 2006: 38.981   triệu đồng và năm 2007: 19.890 triệu đồng. Nhìn chung, công tác thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN tại TP Đà Nẵng trong   những năm qua đã đạt được nhưng kết quả khả quan, góp phần tăng thu cho NSNN  và tạo tiền đề  để  nâng cao ý thức, trách nhiệm của ĐTNT trong việc thực hiện   pháp luật thuế, phát huy được chức năng và quyền hạn của cơ  quan Thuế  trong  công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. Tuy nhiên do lực lượng cán bộ làm công tác  thanh tra còn thấp, chỉ  chiếm khoảng 10% ­ 14% trên tổng số  công chức nên số  lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra chỉ mới đạt 15% trên tổng số ĐTNT, có nghĩa là  sau 7 năm cơ quan Thuế mới quay lại kiểm tra tiếp, điều này gây khó khăn cho việc  thanh tra, kiểm tra thuế TNDN vì Luật thuế TNDN chỉ cho phép truy thu và xử lý vi 
  15. 15 phạm trong vòng 5 năm kể  từ  khi phát hiện sai phạm của ĐTNT. Thêm nữa, do   trình độ của cán bộ còn nhiều hạn chế, có không ít cán bộ thuế không biết đọc báo   cáo tài chính và phân tích số liệu trên báo cáo tài chính, không thực hiện đúng trình   tự và phương pháp kiểm tra dẫn đến chất lượng một số cuộc kiểm tra không cao và   không có hiệu quả. 2.3. Các nhân tố   ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng Việc thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN theo cơ chế  ĐTNT tự  kê khai, tự  nộp   thuế  tại địa bàn TP Đà Nẵng trong các năm qua bước đầu đã phát huy được hiệu  quả, tỷ trọng số thuế TNDN trong tổng thu từ DN ngày càng tăng nhất là lĩnh vực  DN Nhà nước Trung  ương và DN ngoài quốc doanh; số thuế TNDN phát hiện qua   thanh tra, kiểm tra  ở 2 lĩnh vực này cũng tăng đáng kể  và chiếm tỷ  trọng lớn trong  tổng số thuế truy thu và tiền phạt. Tuy nhiên các hành vi gian lận thuế TNDN ngày  càng phổ  biến, số thuế TNDN thất thu ngày càng lớn, điều đó thể  hiện việc thanh   tra, kiểm tra thuế TNDN vẫn còn chưa chặt chẽ bởi vì các nguyên nhân:  2.3.1. Các nhân tố từ các cơ quan quản lý Nhà nước ­ Hệ thống chính sách thuế chưa bao quát hết ĐTNT, còn nhiều mức thuế ưu  đãi; còn có sự phân biệt về loại hình DN, điều kiện ưu đãi, mức và thời gian miễn,   giảm thuế; còn lồng ghép nhiều chính sách xã hội; cơ chế quản lý thuế  chưa được   quy định rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật.  ­ Môi trường pháp lý chưa đồng bộ và nhất quán: nội dung Luật thuế TNDN  còn phức tạp, chưa đồng bộ cách hạch toán kế toán với các văn bản khác như Luật  Kế  toán, Chuẩn mực kế  toán, Chế  độ  hạch toán kế  toán; nhiều quy định còn có   nhiều điểm trái với quy định tại Luật thuế  TNDN như  Thông tư  số  33/TT­BTC   ngày 29/4/2005 của Bộ Tài chính “hướng dẫn một số điều tại Quy chế quản lý tài  chính đối với công ty Nhà nước”  đã gây khó khăn không nhỏ cho công tác thanh tra,   kiểm tra thuế TNDN của cơ quan Thuế.  ­ Các giải pháp quản lý kinh tế xã hội chưa được cải cách đồng bộ để hỗ trợ  cho công tác quản lý thuế  như: quản lý thanh toán không dùng tiền mặt, quản lý  xuất nhập khẩu, quản lý cấp giấy chứng nhận đăng ký KD... đã làm hạn chế  rất   nhiều đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. ­ Một số  chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức và chưa thực sự  coi công tác quản lý thuế là nhiệm vụ của địa phương mình. Các cơ quan chức năng,  các tổ chức, cá nhân có liên quan (như Địa chính, Giao thông, Công an, Ngân hàng, ...)  thiếu sự  phối hợp chặt chẽ, đồng bộ  và có hiệu quả  với cơ quan Thuế  trong việc  cung cấp thông tin và các biện pháp hỗ  trợ  để  thu đầy đủ, kịp thời tiền thuế  vào  NSNN. 2.3.2. Các nhân tố từ phía cơ quan Thuế
  16. 16 * Về quy trình quản lý thuế TNDN ­ Quy trình quản lý thuế TNDN hiện nay vẫn còn chưa hợp lý dẫn đến nhiều   chức năng còn chồng chéo (chức năng thanh tra, kiểm tra ĐTNT; chỉ  đạo, kiểm tra   công tác quản lý thuế   ở  các Chi cục Thuế, ...); một số  chức năng lại chưa có bộ  phận chuyên trách đảm nhiệm như: chức năng cưỡng chế thuế, chức năng pháp chế  về  thuế,... từ  đó dẫn đến chưa bao quát hết toàn bộ  công việc.  Điều này dẫn đến  việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN chưa được đồng bộ và chuyên môn hóa, do vậy  hiệu quả của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN không cao. Ta có thể thấy qua tình  hình nợ thuế TNDN từng năm tại Cục Thuế TP Đà Nẵng tại bảng 2.4: Bảng 2.4: Tình hình nợ đọng thuế đến ngày 31/12 hàng năm Đơn vị tính: Triệu đồng  STT Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 1 DN Trung ương: 46.107 50.447 60.881 63.496 61.739 Trong đó thuế TNDN: 15.454 8.376 8.241 14.040 13.119 2 DN địa phương: 32.475 41.191 46.459 44.498 38.432 Trong đó thuế TNDN: 9.091 7.718 9.332 7.750 7.243 3 DN đầu tư nước ngoài: 24.766 12.322 30.015 10.852 13.193 Trong đó thuế TNDN: 914 599 1.040 934 453 4 DN ngoài quốc doanh: 12.330 22.335 28.935 26.053 27.925 Trong đó thuế TNDN: 3.175 3.630 7.820 6.132 10.773 Tổng thuế nợ đọng: 115.678 126.295 166.290 144.899 141.289 Trong đó thuế TNDN: 28.634 20.683 26.433 28.856 31.558 Tỷ lệ %: 25% 16% 16% 20% 22% (Nguồn: báo cáo nợ đọng thuế BC 6 của Cục Thuế TP Đà Nẵng 2003 ­ 2007) Tổng số  nợ  thuế  đến 31/12/2007 là 141 tỷ  đồng, chiếm 12% trên tổng số  thuế  thu trong năm từ  DN, cao gấp 6 lần số thuế truy thu qua thanh tra, ki ểm tra;   trong đó nợ  thuế  TNDN chiếm 9% trên tổng thu trong năm, cao gấp 2 lần số thuế  TNDN phát hiện qua thanh tra, kiểm tra. ­ Quy trình quản lý thuế  TNDN vẫn còn nhiều hạn chế do chưa bao quát hết  các chức năng. Đến nay, Luật quản lý thuế vẫn chưa áp dụng nhằm quy định quản lý   thống nhất giữa các loại thuế; quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá  nhân nộp thuế  có liên quan nhằm đảm bảo cho Luật thuế  TNDN được thực thi tốt  hơn. ­ Việc  ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý thuế  còn ở  mức thấp, mới   chỉ tập trung chủ yếu vào việc đăng ký mã số  thuế, xử  lý tờ  khai và chứng từ  nộp   thuế, quản lý ấn chỉ. Đại bộ phận công việc trong quy trình quản lý thuế vẫn là thủ  công, năng suất thấp dẫn đến hạn chế khả năng thanh tra, kiểm tra thuế TNDN của   cơ quan Thuế.
  17. 17 ­ Việc tuyên truyền, hướng dẫn chính sách thuế chưa thường xuyên, liên tục;  Hình thức còn đơn điệu, chưa áp dụng công nghệ  thông tin như: tư  vấn qua fax,   mạng Internet.. ; Nội dung mới chỉ bó hẹp ở thông tin về đăng ký, kê khai nộp thuế,   thuế suất. Do đó chưa thực sự thể hiện bản chất của việc hỗ trợ DN từ khâu lập sổ  sách kế  toán đến tính toán thuế  TNDN phải nộp, giúp lành mạnh quan hệ tài chính  của DN, vì vậy chưa nâng cao tính tuân thủ, tự nguyện và trách nhiệm pháp luật của   ĐTNT. * Về quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT ­ Công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN chưa có giải pháp cụ thể trong việc  phát hiện các hành vi vi phạm; phạm vi kiểm tra còn tràn lan, không trọng tâm nên  chất lượng kiểm tra còn hạn chế; việc xử lý vi phạm đôi khi còn theo cảm tính, xuê   xoa nên chưa có tác dụng răn đe, ngăn chặn kịp thời hành vi gian lận thuế TNDN. ­ Về lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra: việc xác định các hành vi vi phạm và  ĐTNT có nghi vấn thông qua phân tích Báo cáo tài chính DN để lập kế hoạch thanh  tra chưa được chú trọng dẫn đến hiệu quả  công tác thanh tra, kiểm tra ĐTNT còn  thấp, do vậy đã  ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN của cơ quan  Thuế.  * Về công chức thuế thực hiện việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN ­ Hiện tại số lượng cán bộ  làm công tác thanh tra, kiểm tra  ở  Cục Thuế  TP   Đà Nẵng mới chỉ có 72 người, chiếm 14% trên tổng số cán bộ  công chức, trong đó  cán bộ  có trình độ  đại học (thuộc tất cả  các ngành và hình thức đào tạo) chiếm   khoảng 65%. Vì vậy, trong những năm gần đây Cục Thuế TP Đà Nẵng đã tổ  chức  đào tạo lại cán bộ để có trình độ tương xứng với nhiệm vụ; tuy nhiên vẫn còn một   bộ phận công chức thuế có trình độ hạn chế về chuyên môn, chưa nắm bắt, hiểu rõ   Luật thuế  TNDN cũng như  chưa thực hiện đúng nội dung, yêu cầu của các quy   trình, chưa thực hiện đúng chức trách được giao gây hậu quả thất thu thuế TNDN,  ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. ­ Việc đào tạo lại chủ  yếu tập trung  ở  ngành Luật (mục đích là xử  lý vi   phạm), chưa chú trọng đến việc đào tạo cán bộ ở các ngành Kinh tế, Tài chính, Kế  toán để  có thể  phát hiện ra những hành vi vi phạm; chưa có kế hoạch tuyển chọn,  sắp xếp, bổ  nhiệm, bố trí sử  dụng và đánh giá cán bộ  một cách chuẩn xác và hợp   lý.  ­ Về việc thực hiện điều động, luân phiên, luân chuyển công việc: Trên thực   tế, việc luân phiên, luân chuyển chủ yếu thực hiện ở cán bộ nghiệp vụ chuyên môn   mà không thực hiện  ở  cán bộ  lãnh đạo, việc luân chuyển không tính đến mức độ  phù hợp từ  công việc chuyên môn này sang công việc chuyên môn khác dẫn đến  trình độ chuyên môn hóa nghiệp vụ không cao, thời gian để thích ứng với công việc   mới thường khá dài từ  1 ­ 5 năm. Việc này dẫn đến sự  không đồng bộ  trong việc   thực hiện các quy trình quản lý thu thuế, quy trình thanh tra, kiểm tra, ... gây  ảnh  hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. 
  18. 18 ­ Về  chế  độ  đãi ngộ  và chính sách thi đua khen thưởng: Chế  độ  đãi ngộ  cho   công chức trong ngành Thuế  hiện nay chưa cao, chưa thực sự  động viên để  cán bộ  thuế yên tâm làm việc; việc khen thưởng vẫn còn mang tính hình thức, không xây dựng  tiêu chí xét thi đua theo chức năng, nhiệm vụ và kết quả đạt được của từng cá nhân, bộ  phận, từng vị  trí của cán bộ  lãnh đạo. Từ  đó dẫn đến chế  độ  bình quân chủ  nghĩa;  không thực sự động viên cán bộ có năng lực, có phẩm chất, tâm huyết với ngành Thuế,   phát huy toàn bộ năng lực và sở trường trong công tác kiểm soát thuế. ­ Một bộ  phận cán bộ  quản lý thuế  trình độ  hiểu biết và thực thi về  Luật  thuế  TNDN, hạch toán kế  toán, phân tích tài chính DN còn hạn chế. Thái độ  và  phong cách ứng xử của một số cán bộ thuế còn chưa thật tận tụy, công tâm, khách  quan. 2.3.3. Các nhân tố từ phía đối tượng nộp thuế  ­ Tình trạng trốn thuế, lậu thuế, gian lận về thuế TNDN, nợ đọng thuế xảy  ra  ở  tất cả  DN thuộc mọi ngành nghề  KD ngày càng tăng, vừa làm thất thu cho  NSNN, vừa không bảo đảm công bằng xã hội; ­ Các hành vi trốn thuế, lách thuế  TNDN thông qua việc hạch toán kế  toán   xảy ra  ở  tất cả mọi ngành nghề  KD mà thường ở  loại hình DN ngoài quốc doanh  đang trở nên phổ biến. Các hành vi cụ thể: • Về hạch toán doanh thu: bỏ ngoài sổ sách, không hạch toán hoặc hạch toán  thiếu các khoản doanh thu và thu nhập khác phát sinh trong kỳ để xác định TNCT,... • Về chi phí: hạch toán trực tiếp hoặc gián tiếp để kết chuyển các khoản chi  phí không được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ để xác định TNCT trong kỳ như: + Tiền lương, tiền công do CSKD không thực hiện đúng chế độ hợp đồng lao  động theo quy định của pháp luật về lao động; tiền lương, tiền công của chủ DN tư  nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, chủ hộ cá thể, cá nhân KD. Thù lao   trả  cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng quản trị  của các công ty TNHH,   công ty cổ phần không trực tiếp tham gia điều hành SXKD hàng hóa, dịch vụ. + Các khoản tiền phạt vi phạm luật giao thông, phạt vi phạm chế độ đăng ký   kinh doanh, phạt vay nợ  quá hạn, phạt vi phạm chế  độ  kế  toán thống kê, phạt vi  phạm hành chính về thuế và các khoản phạt khác.  + Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và TNCT như: chi về đầu tư  xây dựng cơ  bản; chi  ủng hộ các đoàn thể, tổ  chức xã hội và ủng hộ  địa phương;   chi từ thiện và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu, TNCT; các khoản  chi do nguồn kinh phí khác đài thọ và các khoản chi phí không hợp lý khác. + Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi hết như: chi phí sửa  chữa tài sản cố định; phí bảo hành sản phẩm hàng hóa, công trình xây dựng và các  khoản trích trước khác. Các khoản chi không có hóa đơn, chứng từ theo chế độ quy   định hoặc chứng từ không hợp pháp.
  19. 19 ­ Một số DN, hộ gia đình và cá nhân KD cố ý, tìm mọi thủ đoạn để trốn thuế  TNDN phải nộp như không kê khai đăng ký nộp thuế, vi phạm các chế độ về quản   lý và sử dụng hóa đơn, lập khống chứng từ để làm giảm TNCT... ­ Từ năm 2003 trở về đây, tại TP Đà Nẵng xuất hiện một số DN ngoài quốc   doanh như  Công ty TNHH Đà Sơn, Công ty TNHH Tín Hữu, DN tư  nhân Thành   Phước, ...thành lập với mục đích mua hóa đơn GTGT để  bán lại cho các DN khác   nhằm hợp thức hóa chứng từ  chi phí hoặc kê khống chi phí để  làm giảm thuế  TNDN phải nộp hoặc bòn rút công quỹ của Nhà nước. Tình trạng mua hóa đơn của   DN “ma” này ngày càng gia tăng dẫn đến việc trốn thuế và gian lận thuế diễn ra ở  hầu hết các sắc thuế không những ở TP Đà Nẵng mà còn ở các tỉnh thành khác, vừa   làm thất thu NSNN vừa không bảo đảm công bằng xã hội.  Sau đây là một ví dụ điển hình về trường hợp nghiêm trọng về hành vi mua  bán khống hóa đơn GTGT cuối năm 2005 và đầu năm 2006 do cơ quan Thuế và cơ  quan Công an phối hợp điều tra và phát hiện: Bảng 2.5: Các vụ điển hình mua bán khống hóa đơn Đơn vị tính: Triệu đồng Số ĐTNT  Hóa đơn bất hợp  Số thuế TNDN  Tên đơn vị bán hóa đơn mua khống pháp gian lận Số  Giá trị chi phí lượng 1.  Công  ty  TNHH  Đà  Sơn  121 440 12.362 3.461 và Công ty TNHH Tín Hữu 2.   DN   tư   nhân   Thành  89 163  9.190  2.573 Phước 3... ... ...    ...    ... (Nguồn : Báo cáo tình hình vi phạm hóa đơn 6 tháng đầu năm 2007 tại Đà Nẵng) ­ Về ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT: Trong những năm gần đây,  ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn   có nhiều ĐTNT coi việc trốn thuế  sự  tất yếu trong nền kinh tế thị  trường. Khoa   học ngày càng phát triển thì các thủ  đoạn trốn thuế  ngày càng tinh vi và phức tạp   hơn dẫn đến gây khó khăn cho cơ quan Thuế trong công tác kiểm soát thuế. Tóm lại, thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN  ở TP Đà Nẵng  vẫn còn bộc lộ  những hạn chế, Luật thuế  TNDN còn có nhiều bất cập, nhiều   vướng mắc trong việc quy định về xác định doanh thu tính thuế TNDN; các khoản  chi phí hợp lý, hợp lệ  được tính giảm trừ  khi xác định TNCT; về  đối tượng nộp  thuế  TNDN; về  chế  độ  miễn giảm thuế; về  quyết toán thuế  TNDN … do đó dễ  tạo những kẽ  hở  trong quản lý thuế  TNDN. Tổ  chức bộ  máy của cơ  quan Thuế  chưa phù hợp với mô hình tổ  chức quản lý thuế  theo chức năng; Cơ  quan Thuế 
  20. 20 chưa có chức năng điều tra hành chính thuế  đối với các vụ  trốn thuế  phức tạp, có   quy mô lớn, phạm vi rộng; chưa được quyền khởi kiện các DN chây ỳ  trong việc   nộp thuế, các DN phá sản… để  thu hồi đầy đủ  tiền thuế  cho Nhà nước; Công tác   thanh tra, kiểm tra của cơ quan Thuế hiện nay vẫn chưa đạt quy mô và chất lượng   theo yêu cầu của công cuộc cải cách thuế bước 3, chưa trở thành công cụ  đắc lực   trong việc chống thất thu cho NSNN. Tất cả những vấn đề  trên cần được nghiên   cứu, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả  công tác thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN   trên địa bàn TP Đà Nẵng. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA,  KIỂM TRA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA  BÀN TP ĐÀ NẴNG 3.1. Tính tất yếu phải nâng cao hiệu quả  công tác thanh tra, kiểm tra  thuế TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng Từ  thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN  ở  TP Đà Nẵng vẫn   còn bộc lộ những hạn chế như đã nêu ở trên cùng với yêu cầu của xu thế hội nhập   kinh tế  thế  giới, để  đảm bảo thực thi tốt Luật thuế  TNDN trong giai đoạn hiện  nay, góp phần tích cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối  chính sách của Đảng và Nhà nước thì việc tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN là một yêu cầu tất yếu nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị  là hoàn thành   vượt mức kế  hoạch thu NSNN do Tổng cục Thuế  và Hội đồng nhân dân TP Đà  Nẵng giao cho. 3.2.   Giải   pháp   nâng   cao   hiệu   quả   công   tác   thanh   tra,   kiểm  tra   thuế  TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng Xuất phát từ thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn  TP Đà Nẵng, từ xu thế phát triển và hội nhập, từ yêu cầu cải cách và hiện đại hóa  công tác quản lý thu thuế đòi hỏi sự cần thiết phải hoàn thiện về cơ chế, quy trình  quản lý thuế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế TNDN.   Với kinh nghiệm thực tế, với trình độ nhận thức và nghiên cứu tuy còn hạn chế, tác  giả đưa ra một số ý kiến nhằm tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa   bàn TP Đà Nẵng. 3.2.1. Sử dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong việc lập kế hoạch thanh   tra thuế TNDN tại CSKD  Rủi ro về thuế được hiểu một cách chung nhất là những sự kiện không tuân  thủ cơ chế, chính sách và pháp luật thuế xảy ra như không kê khai thuế, không nộp  thuế, mua bán khống hóa đơn hoặc cán bộ  thuế  không làm đúng quy trình quản lý  thuế, quy trình thanh tra thuế, ...Từ đó rủi ro về thuế được tiếp cận trên diện rộng:   rủi ro từ  môi trường thanh tra, kiểm tra thuế  TNDN; từ  hệ  thống pháp luật chưa 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản