intTypePromotion=3

Đề tài " Quan niệm của Roland Barthes trong tác phẩm Những huyền thoại (Mythologies) "

Chia sẻ: Bút Màu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:37

0
38
lượt xem
6
download

Đề tài " Quan niệm của Roland Barthes trong tác phẩm Những huyền thoại (Mythologies) "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

SỰ GIẢI MÃ NHỮNG HUYỀN THOẠI XÃ HỘI TƯ SẢN VÀ Ý MUỐN “TÓM BẮT SỰ LẠM DỤNG Ý HỆ ẨN NẤP” “Chúng ta không ngừng lênh đênh giữa đối tượng và sự giải hoặc nó, vì chúng ta bất lực không thể hiện được tổng thể của nó: bời vì nếu chúng ta thâm nhập đối tượng, chúng ta giải phóng nó nhưng chúng ta phá huỷ nó: và nếu chúng ta để mặc nó, chúng ta tôn trọng nó, nhưng chúng ta khôi phục nó khi nó vẫn bị huyễn hoặc”. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài " Quan niệm của Roland Barthes trong tác phẩm Những huyền thoại (Mythologies) "

  1. Đề tài Quan niệm của Roland Barthes trong tác phẩm Những huyền thoại (Mythologies)
  2. MỤC LỤC Trang DẪN NHẬP 1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................... 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................................... 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................... 7 4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................ 7 5. Kết cấu khóa luận................................................................................................... 8 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ROLAND BARTHES VÀ HAI TÁC PHẨM ĐƯỢC DỊCH Ở VIỆT NAM: ĐỘ KHÔNG CỦA LỐI VIẾT (LE DEGRÉ ZÉRO DE L’ÉCRITURE) VÀ NHỮNG HUYỀN THOẠI (MYTHOLOGIES)
  3. 1.1. Thân thế và sự nghiệp Roland Barthes............................................................. 10 1.2. Giới thiệu hai tác phẩm: Độ Không Của Lối Viết và Những Huyền Thoại ............................................................................................................................ ................ 14 1.2.1. Bối cảnh ra đời tác phẩm................................................................................. 14 1.2.2. Về bản dịch........................................................................................................ 16 1.2.2.1. Độ không của lối viết (Le degré zéro de L'écriture)......................... 17 1.2.2.2. Những huyền thoại (Mythologies)....................................................... 19 1.2.3. Tóm tắt tác phẩm............................................................................................... 20 1.2.3.1. Độ không của lối viết (Le degré zéro de L'écriture)......................... 20 1.2.3.2. Những huyền thoại (Mythologies)....................................................... 22
  4. CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM CỦA ROLAND BARTHES TRONG TÁC PHẨM ĐỘ KHÔNG CỦA LỐI VIẾT (LE DEGRÉ ZÉRO DE L’ÉCRITURE) 2.1. Roland Barthes và khái niệm Lối viết – một trong ba chiều của Hình thức nghệ thuật 25 2.2. Ba khu vực lớn của lối viết.................................................................................. 29 2.2.1. Các Lối viết chính trị................................................................................... 29 2.2.2. Lối viết của Tiểu thuyết.............................................................................. 31 2.2.3. Lối viết Thơ................................................................................................. 36 2.3. Con đường dẫn đến “Độ Không Của Lối Viết” và “Tấn Bi Kịch Của Lối Viết” 39 2.4. Những đóng góp của Roland Barthes qua cuốn Độ không của lối viết và ý nghĩa của tác phẩm với công chúng Việt Nam..................................................................................................... 47 CHƯƠNG 3
  5. QUAN NIỆM CỦA ROLAND BARTHES TRONG TÁC PHẨM NHỮNG HUYỀN THOẠI (MYTHOLOGIES) 3.1. Sự giải mã những huyền thoại xã hội tư sản và ý muốn “tóm bắt sự lạm dụng ý hệ ẩn nấp” 50 3.2. Cấu trúc của ký hiệu huyền thoại và bài học về “Trông Nhìn và Thưởng Thức” 58 3.3. Đóng góp của Roland Barthes qua Những Huyền Thoại và ý nghĩa của tác phẩm với công chúng Việt Nam 68 KẾT LUẬN................................................................................................................. ...... 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC [1] Theo GS Phùng Văn Tửu trong bài viết Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học, trích đăng trong cuốn Những huyền thoại.
  6. 3.1. SỰ GIẢI MÃ NHỮNG HUYỀN THOẠI XÃ HỘI TƯ SẢN VÀ Ý MUỐN “TÓM BẮT SỰ LẠM DỤNG Ý HỆ ẨN NẤP” “Chúng ta không ngừng lênh đênh giữa đối tượng và sự giải hoặc nó, vì chúng ta bất lực không thể hiện được tổng thể của nó: bời vì nếu chúng ta thâm nhập đối tượng, chúng ta giải phóng nó nhưng chúng ta phá huỷ nó: và nếu chúng ta để mặc nó, chúng ta tôn trọng nó, nhưng chúng ta khôi phục nó khi nó vẫn bị huyễn hoặc”. Ngay trong “lời tựa” Roland Barthes đã khẳng định ý muốn “tóm tắt sự lạm dụng ý hệ ẩn nấp”, chỉ ra tính chất dối trá của các huyền thoại. Những huyền thoại vẽ lại cả một giai đoạn lịch sử của nước Pháp, nhưng luận đề đầu tiên của cuốn sách chính là: “tố cáo sự tha hoá của người dân thông qua ý hệ”. Đối tượng thực thụ của Những huyền thoại chính là ý hệ của xã hội tư sản / tiểu tư sản. Về Huyền thoại, Từ điển Oxford Advanced learner’s dictionary định nghĩa rằng: Huyền thoại là “một câu chuyện có từ thời cổ đại. Đặc biệt chúng thường được kể để giải thích các sự kiện tự nhiên hay để miêu tả thời kì niên thiếu của một cá nhân nào đó. Đây là một loại truyện kể”. Huyền thoại cũng là “một điều gì đó mà nhiều người tin rằng không còn tồn tại hoặc không thật”. Còn từ điển mở en.wikipedia.org đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn: “Từ mythology có thể liên quan đến ngành học về huyền thoại hoặc bản thân các huyền thoại”, “thuật ngữ myth thường được sử dụng một cách thông tục để ám chỉ các câu chuyện không thật/ hư cấu. Tuy nhiên, khi dùng nó giới
  7. chuyên môn lại không ám chỉ tới sự thật hay giả dối. Trong văn học dân gian, myth là một truyện kể thiêng liêng giải thích làm thế nào thế giới này và loài người nói chung lại tiến đến dạng thức tồn tại như ngày nay. Nhiều học giả ở các lĩnh vực khác nhau sử dụng từ myth theo nhiều cách khác nhau. Theo nghĩa khái quát, từ này ám chỉ tới truyện cổ (traditional story)” [22]. Như vậy, theo cách hiểu truyền thống, từ myth (huyền thoại) là thuật ngữ để chỉ các câu chuyện cổ, chuyện thần thoại. Huyền thoại kể “một sự kiện chưa từng bao giờ xảy ra để nói về một điều đã tồn tại từ xa xưa” (Salluste, sử gia La Mã cổ đại), kể “một sự kiện đã xảy ra trong thời nguyên thuỷ, thời hoang đường khai thiên lập địa” (Mircea Eliade); huyền thoại là “truyện hoang đường từ xa xưa, qua đó thể hiện một cách tượng trưng quan niệm về thế giới” (Từ điển Encarta). Ta cũng nhận thấy rằng các định nghĩa thường chú ý đến đặc điểm không còn tồn tại hay không thật của những chuyện được kể trong huyền thoại. Khảo sát Những huyền thoại, chúng tôi thấy rằng, R.Barthes đã không đi theo quan điểm truyền thống về Huyền thoại, mà ông xem xét các huyền thoại trong “phạm vi mỗi nền văn hoá như những hệ thống biểu thị mà ngay những người đề xuất cũng không biết các ý nghĩa thật của chúng”[1]. Thuật ngữ huyền thoại có nguồn gốc từ ngôn ngữ cổ Hy Lạp, phiên âm theo ngữ hệ La tinh là mythos (tiếng Anh: myth, tiếng Pháp: mythe. Mythos có nghĩa là lời nói mơ hồ tối nghĩa và cần một sự giải mã để tìm ra ẩn ý của nó. Nó bị che lấp bởi những thứ vặt vãnh không liên quan gì đến bản thân nó và làm cho nội dung của nó trở nên mơ hồ. Từ mythologies mang nghĩa thần thoại, dùng để chỉ những câu chuyện từ thời xa xưa của các dân tộc, nơi có những nhân vật thần thánh hoặc những anh hùng được thần thánh hóa. Tuy nhiên, từ mythologies cũng được dùng theo nghĩa mythe, và Roland
  8. Barthes đã dùng như thế. Ông viết về “những huyền thoại trong đời sống hằng ngày ở Pháp”, nó là những gì đang diễn ra nơi thế giới chúng ta đang sống. Nó là “nơi người ta đấu vật”, là lúc “nhà văn đi nghỉ hè”, là “chuyến du ngoạn trên biển”, là “các loại xà phòng và bột giặt”, “đồ chơi” con trẻ, là rượu vang, sữa, bít tết, khoai tây rán, là “gương mặt nàng Garbo” – một diễn viên nổi tiếng lúc bấy giờ, là “chiếc xe Citroën Mới”, v.v…Tất cả tạo nên những huyền thoại hiện đại, nhằm mục đích “phê phán ngôn ngữ của cái gọi là văn hóa đại chúng về phương diện tư tưởng”. Roland Barthes cho rằng Huyền thoại được tạo ra do sự vật bị đánh mất sử tính, sự vật đã quên lãng nguồn gốc cấu tạo ra chúng: "Huyền thoại hoá là một vận hành có nhiệm vụ biến những hiện tượng ngẫu nhiên mang tính lịch sử trong một nền văn hoá thành những câu chuyện, những điều thiêng liêng, thần thánh, hoặc những chân lý hiển nhiên, không còn gì thắc mắc hay đáng ngờ.” Huyền thoại hoá tạo nên “doxa”. Barthes dùng lại thuật ngữ “doxa” của Platon, với nghĩa “giọng nói của tự nhiên”, để chỉ tất cả những quan điểm chính thống về sự vật, về cuộc đời… Như vậy công tác giải huyền thoại chính là đi ngược dòng thời gian để truy nguyên lý lịch ban đầu của sự vật để vạch ra “tính ngẫu nhiên lịch sử của chúng” và như thế sẽ xoá đi “tính thiêng liêng thần bí giả tạo bao quanh những sự vật đó”. Tính thiêng liêng này sở dĩ được hình thành là do con người đã quên lãng sử tính của sự vật. Chúng ta bị thuyết phục tin rằng tất cả những gì đang xảy ra chung quanh: các định chế xã hội, các nguyên tắc đạo lý, các quy ước văn học…đều hoàn toàn tự nhiên và không có gì phải bàn cãi
  9. về “tính chất tự nhiên” của chúng. Trong huyền thoại có phần không thực, vì vậy, huyền thoại làm cho con người lạc lối, lầm đường, mụ mị khi tin vào những điều “hoang tưởng”. Và giải huyền thoại là xoá bỏ, hoá giải điều lệch lạc để tìm ra sự thật đích thực. Theo R.Barthes, giải huyền thoại là một kỹ thuật, một phương pháp tạo ra sự thức tỉnh, một thủ pháp vệ sinh tinh thần để tẩy rửa những huyền thoại chính trị, văn hoá, xã hội đã được chế tạo ra. Giải huyền thoại là nỗ lực chống lại sức mạnh khống chế của “doxa” [2]. Trong Những huyền thoại, Roland Barthes đi giải mã 53 huyền thoại hiện đại của nước Pháp. Và nhìn chung, ta thấy các huyền thoại mà Roland Barthes đưa ra thuộc rất nhiều lĩnh vực trong xã hội: Những huyền thoại thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật chiếm một số lượng vượt trội: Diễn viên của ảnh viện Harcourt, Nhà văn đi nghỉ hè, Lối phê bình câm và mù, Gương mặt nàng Garbo, Adomov và ngôn ngữ, Hai huyền thoại về sân khấu trẻ, Văn chương như của Minou Drouet, Lối phê bình “Chẳng-chẳng”… Bên cạnh đó, những huyền thoại chính trị cũng chiếm vị trí đáng kể: Người nghèo và người tư sản, Mấy câu hỏi của ông Poujade, Ảnh tranh cử, Chuyến du hành đường biển của “Batory”, Kẻ sử dụng bãi công…Ngoài ra còn có huyền thoại tôn giáo (Billy Graham ở trường đua xe đạp mùa đông…), huyền thoại khoa học (Bộ óc của Enstein, Người-phóng…), huyền thoại thể thao (Nơi người ta đấu vật, Cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp…), huyền thoại về tinh thần (Binchon ở xứ da đen…) và tất nhiên không thể thiếu những huyền thoại vật chất thuộc trào lưu sống tư sản hiện đại của người Pháp (Các loại xà phòng và bột giặt, Rượu vang và sữa, Bít-tết và khoai tây rán, Thoát y vũ, Chiếc xe Citroën Mới…). Qua danh sách những huyền thoại của Roland
  10. Barthes, ta thấy hiện lên khá đầy đủ những khía cạnh của xã hội Pháp hiện đại. Xã hội hiện đại Pháp trong thời hậu chiến, những năm 50, những năm của phi thực dân hóa, trong trào lưu giải tán các thuộc điạ, rùng rùng chuyển động với nhiều cuộc cọ sát, giữa cái cũ và cái mới, giữa những ngộ nhận về giá trị cội nguồn và những âu lo cho viễn ảnh tương lai. Trên đấu trường tư tưởng, cánh Hữu và cánh Tả mâu thuẫn gay gắt và chống đối nhau trong bầu không khí ngày càng sôi nổi. Và đỉnh điểm cuộc đọ sức sẽ diễn ra vào thập niên 60 với Cách Mạng Tháng 5 năm 1968. Nhìn từ góc độ này, Những huyền thoại của Roland Barthes vô cùng thú vị cho độc giả, bởi nó muốn phanh phui cái bản chất xã hội hiện đại, muốn vạch trần các tín điều được số đông xem như sự thật hiển nhiên . Nó “đọc” được đằng sau vô số các hiện tượng xã hội, như cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp, như chiếc xe hơi Citroën, như rượu vang, thịt bít tết và khoai tây rán, hay trong các câu chuyện và nhân vật đương thời, sự tụt hậu của những giá trị mang nhãn hiệu tiểu tư sản. Ngòi bút của Roland Barthes đầy châm biếm mỉa mai, giải mã các hiện tượng được xã hội tiêu thụ và văn hoá đại chúng mới xuất đầu lộ diện, tung hô như những bảng hiệu của nền hiện đại [14]. Ở đó, ta nhận ra bản chất của xã hội tư sản. Nền dân chủ tư sản thực ra là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển do bản chất giai cấp, dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã bị biến dạng. Từ chỗ quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay bằng quan hệ áp bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi vào lớp người khá giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân lao động lại ít được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông
  11. tin đại chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng chủ yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản lớn ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, hãng phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư luận xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư sản hiện đại. Bởi vậy, Roland Barthes đã đi lật đổ địa vị của linh mục Pierre, và đặt câu hỏi: Phải chăng đa số dân tộc Pháp, thay vì đi tìm một nền công lý thực sự, “đã đánh tráo vào đó những biểu hiện của lòng vị tha?”. Với cái nhìn sắc sảo, khi phân tích phản ứng của công chúng trong một trận đấu vật (catch), Roland Barthes nhận xét : “Công chúng đòi hỏi chiêm ngưỡng hình ảnh của sự đam mê, chứ không phải là sự đam mê”, nó thể hiện sự quan tâm của ông đối với văn hóa đại chúng. Ông không ngại phê phán tính tự mãn của giới nghệ sĩ, đằng sau cuộc triển lãm nhiếp ảnh mang tên “Đại gia đình con người”, Roland Barthes lạnh lùng tố cáo cái huyền hoặc trong giá trị nhân văn chung chung, khi nó bỏ quên các điều kiện sống cụ thể của người da màu hay người lao động nhập cư. Ông để cho chính trị gia cánh hữu Poujade đánh lên những cảm xúc phân biệt chủng tộc trong các bài viết “Mấy câu hỏi của ông Poujade” hay “Poujade và các nhà trí thức”. Và “Bichon ở xứ da đen” là một văn bản quan trọng về một sự phân biệt chủng tộc. “Ngữ pháp Phi Châu” là một bài viết về ngôn ngữ, cụ thể hơn, về ngôn ngữ sử dụng trong một số tờ báo cánh hữu và tạp chí để mô tả, đánh giá và phân tích các cuộc xung đột đang diễn ra tại Algeria. Ông phơi bày bản chất tư tưởng của thuật ngữ dùng để mô tả cuộc xung đột lớn của đế quốc Pháp, xác định các tuyên bố gian dối để che giấu thực tế của cuộc chiến tranh Algeria. Nói về nền sản xuất tư bản, khi phân tích quảng cáo về “các loại xà phòng và bột giặt”, ông
  12. đã cho thấy rằng sản xuất tư bản đặt lợi nhuận lên hàng đầu mà không quan tâm đến đạo đức hay xã hội; họ đưa hai loại bột giặt: loại ngấm sâu và loại nhiều bọt và điều quan trọng là họ đã biết che dấu tác dụng ăn mòn của xà phòng “dưới hình ảnh thú vị của một chất vừa ngấm sâu vừa bay bổng, có thể chi phối cấp độ phân tử của sợi vải mà không gây tác hại cho vải”; ông thảo luận về các phương pháp quảng cáo khác nhau của Omo và Persil, quảng cáo của họ thúc đẩy hai sản phẩm khác nhau với hai thuộc tính khác nhau nhưng trong thực tế, hai sản phẩm gần như giống nhau và cả hai đều được sản xuất bởi Unilever đa quốc gia Anh-Hà Lan. Trong bài viết về “đồ chơi”, R.Barthes chỉ rõ sự tụt hậu trong giá trị tư tưởng của xã hội tư sản, các loại đồ chơi tung ra khuyến khích trẻ em trở thành chủ sở hữu hơn là người sáng tạo và đó là một sự khuyến khích thụ động. Trong thời hậu chiến, ở Pháp nhiều hàng tiêu dùng giá cả phải chăng hơn và nhiều người tiêu dùng có thể dễ dàng có được những tài sản như là xe hơi, máy giặt,…lợi dụng điều đó, giai cấp tư sản đã tạo ra một sự say mê các lợi ích vật chất và cái gọi là tiến bộ công nghệ để tạo nên sự bùng nổ tiêu dùng, trong bài về chiếc xe hơi DS, ông cười đùa chế giễu “thời nay, xe hơi là thành tựu tương đương với các thánh đường gô-tíc thời trước đấy”, v.v…Chỉ cần nhìn vào mục lục những huyền thoại của Roland Barthes ta đã có thể thấy muôn mặt xã hội Pháp xuất hiện dưới con mắt của một nhà ký hiệu học. Bên cạnh việc phơi bày bản chất xã hội tư sản, ông dành một sự quan tâm đặc biệt cho ngữ pháp. Ông phân tích và chỉ ra những ngụy biện buồn cười trong thói quen ngôn ngữ của mọi người. Ông chỉ ra rằng, Racine là Racine là một lập luận trùng ngôn, thứ lập luận giai cấp tư sản đặc biệt ưa thích.
  13. Roland Barthes đã chỉ ra bản chất của trùng ngôn và khiến ta giật mình: “Lợi thế lớn của phương pháp trùng ngôn chính là chẳng phải nói ra”. Nó là sự an toàn tuyệt vời của cái rỗng không. Từ đó, ông vạch trần bản chất khôn lỏi, nhút nhát, lười biếng thậm chí vô trách nhiệm của những người sử dụng trùng ngôn này. Roland Barthes cũng phê phán lối phê bình Chẳng- chẳng, một lối phê bình bắt nguồn từ tính đạo đức của các từ ngữ được dùng. Người ta tưởng rằng lối phê bình đó là mới nhưng ông đã lật ngược quan niệm đó. Ông quan sát thấy chỉ cần xem những huyền thoại nào khác lộ ra trong những bài phê bình đó là đủ biết tác giả của nó đứng về phía đảng phái nào. Ngoài ra, ở lối phê bình Chẳng-chẳng người ta cứ thích xem “phong cách” của nhà văn như giá trị vĩnh cửu của văn chương, đi theo quan niệm ở Độ không của lối viết, Roland Barthes cho Văn phong là một giá trị phê bình hoàn toàn cũ. Bài viết Mấy câu hỏi của ông Poujade cũng là một bài viết có sự hỗ trợ đắc lực từ ngữ pháp học. Qua những câu trả lời như: “Ngài nhận trách nhiệm về sự đoạn tuyệt, ngài sẽ phải chịu các hậu quả”, Roland Barthes đã khái quát về khát vọng mọi hiện tượng diễn ra trọn vẹn trong khuôn khổ nội tại theo cơ chế có đi có lại đơn giản của giai cấp tư sản. Hình thức ngữ pháp cân bằng, phép tu từ ăn miếng trả miếng, tất cả theo dạng đẳng thức là thứ ngữ pháp ưa dùng của giai cấp này.[18] Với những huyền thoại đưa ra, Roland Barthes đã vạch trần bộ mặt giả dối của giai cấp tư sản, đó chính là sự “thoát danh” của nó. Và hiện tượng ấy được Roland Barthes xem xét khá tỉ mỉ. Xã hội Pháp vốn là một xã hội tư sản, và cho dù lịch sử có đem đến những biến cố gì đi nữa thì bản chất xã hội ấy vẫn không thay đổi, nó là một môi trường ưu đãi của những biểu đạt
  14. huyền thoại. Như vậy thì giai cấp tư sản “thoát danh” để làm gì? Suy cho cùng chỉ để thực hiện mục đích điều khiển xã hội của nó. Sự “thoát danh” chính là rũ bỏ cái tên tư sản trong huyền thoại, qua đó “giai cấp tư sản biến thực tại của thế giới thành hình ảnh của thế giới, biến Lịch sử thành Bản chất tự nhiên”. Và từ đó, mọi ý đồ chính trị của giai cấp tư sản được công chúng chấp thuận một cách hết sức tự nhiên mà không có một sự phản kháng nào. Roland Barthes đã xem huyền thoại của xã hội tư sản Pháp như một diễn ngôn và diễn ngôn này có mối liên hệ khăng khít với chính trị. Roland Barthes đã định nghĩa về huyền thoại ở phương diện ký hiệu học trong xã hội tư sản như sau: “huyền thoại là một ngôn từ phi chính trị hóa”, chính bởi vì nó luôn biến cái ý định lịch sử thành bản chất tự nhiên, nó vứt hết tính chất lịch sử của các sự vật. Chính trị ở đây được hiểu sâu xa là “tổng thể các mối quan hệ giữa người với người trong cấu trúc hiện thực, xã hội của chúng, trong quyền lực tạo lập thế giới của chúng”. Và phải hiểu tiền tố phi như một giá trị năng động: “nó thể hiện ở đây một thao tác, nó không ngừng thực tại hóa sự rũ bỏ”. Nói cho đúng ra Roland Barthes khẳng định rằng: huyền thoại luôn tìm mọi cách xóa đi dấu vết chính trị nhưng nếu nhìn thấu đáo nó vẫn mang dấu vết chính trị, bởi vì “mọi đối tượng tự nhiên nhất vẫn chứa đựng một dấu vết chính trị, dù mờ nhạt, dù thấp thoáng thế nào đi nữa, đó là sự hiện diện ít nhiều đáng ghi nhớ của hành vi con người đã làm ra, đã sắp xếp, đã sử dụng, đã chinh phục hoặc đã quẳng nó đi” (theo Marx). Theo đó, Roland Barthes đi đến một kết luận rằng: mọi người quan hệ với huyền thoại không phải ở phương diện chân lý mà là ở phương diện sử dụng, như vậy nếu
  15. chúng ta nhận xét huyền thoại ấy chẳng có sắc thái chính trị thì đơn giản là vì nó không phải được tạo ra cho chúng ta. Từ cách chọn huyền thoại để phân tích lộ ra quan niệm về huyền thoại của Roland Barthes: “huyền thoại là ở phe Hữu”. Bởi vì bản chất của phe Hữu là hào nhoáng, cởi mở, ba hoa và phe Hữu cũng là phe nắm trong tay mọi thứ: “các vấn đề tư pháp, luân lý, mỹ học, ngoại giao, các nghệ thuật nội trợ, Văn chương, sân khấu. Sự bành trướng của nó có cùng quy mô với hiện tượng thoát-danh tư sản”. Như vậy, một câu hỏi được đặt ra rằng: ở phe Tả có huyền thoại hay không? Roland Barthes trả lời rằng: “huyền thoại có ở phe Tả, nhưng nó không hề có cùng những tính chất của huyền thoại tư sản. Huyền thoại phe Tả thì không bản chất”. Ta luôn biết rằng, phe Tả được xác định liên quan đến những người bị áp bức, dân vô sản hoặc dân thuộc địa. Chính vì vậy, những huyền thoại của họ mang bản chất nghèo nàn, nó gắn với bản chất của giai cấp. Trước hết, đối tượng để huyền thoại nắm bắt rất hiếm hoi, nó chỉ là vài khái niệm chính trị. Chính vì vậy, chẳng bao giờ huyền thoại của phe Tả chạm được tới những lĩnh vực mênh mông của những mối quan hệ giữa người với người. Nó không xâm nhập được vào cuộc sống hào nhoáng đời thường, không chiếm được một vị thế ưu trong xã hội. “Nó chỉ là huyền thoại phụ, việc sử dụng nó chẳng liên quan đến chiến lược như trong trường hợp huyền thoại tư sản, mà chỉ là chiến thuật, hoặc tệ nhất, là sự lệch lạc”. Huyền thoại ở phe Tả nếu có thì là do tiện thể sinh ra chớ không phải là do thiết yếu. Nó khô khan, nó không biết sinh sôi nảy nở và tự sáng tạo ra mình bởi vì nó thiếu năng lực chủ chốt là năng lực bịa đặt. Và “ta có thể nói rằng theo một nghĩa nào đấy, huyền thoại phe Tả luôn luôn là huyền
  16. thoại giả tạo, huyền thoại tái tạo: do đó mà nó vụng về”. Theo như những phân tích trên thì huyền thoại mang tính giai cấp nặng nề và qua đó cũng cho ta thấy được bản chất bành trướng, độc đoán của giai cấp vô sản. Những vấn đề mà Roland Barthes đưa ra khi đi giải mã huyền thoại vẫn có một sự liên quan đến cuộc sống hôm nay, không chỉ riêng nước Pháp mà trên toàn thế giới. Ngày nay khi đọc Những huyền thoại, độc giả vẫn cảm nhận được cái đáng yêu trong ngòi bút của Roland Barthes, cho dù cuộc sống đã khốc liệt gấp vạn lần trước và nước Pháp ngày nay cũng đã sinh sôi nảy nở thêm gấp vạn lần các huyền thoại mới. Nhưng cái cách giải huyền thoại mà Roland Barthes đưa ra sẽ trang bị một cái nhìn tỉnh táo cho công chúng đối với thực tế xã hội. 3.2. CẤU TRÚC CỦA KÝ HIỆU HUYỀN THOẠI VÀ BÀI HỌC VỀ “TRÔNG NHÌN VÀ THƯỞNG THỨC”[2] Trong Lời nói đầu của Những huyền thoại, Roland Barthes đã viết: “Ngay từ đầu [...] tôi cũng đã tin vào một điều mà sau đó tôi tìm cách rút ra tất cả những hệ quả: huyền thoại là một ngôn ngữ (langage). Vì vậy, tuy quan tâm đến những sự việc xem ra hết sức xa lạ với mọi loại văn chương (một trận đấu catch, một món ăn được xào nấu, một cuộc triển lãm đồ nhựa), tôi không nghĩ là đi ra ngoài lĩnh vực ký hiệu học đại cương của thế giới tư sản chúng ta, mà tôi đã tiếp cận triền dốc văn chương trong những tiểu luận trước...”
  17. Đến Lời nói đầu ở lần tái bản năm 1970, tác giả lại viết: “Bạn đọc sẽ thấy ở đây hai điều xác định: một mặt là việc phê phán về phương diện tư tưởng đối với ngôn ngữ của cái gọi là văn hóa đại chúng; mặt khác là việc tháo dỡ về phương diện ký hiệu học đối với ngôn ngữ ấy: tôi vừa đọc Saussure và tôi sẽ rút ở đấy ra niềm tin chắc là bằng cách xem xét các “thể hiện tập thể” như những hệ thống ký hiệu, người ta hy vọng có thể vượt lên khỏi sự bác bỏ có tính chất kính nhi viễn chi và chỉ ra một cách chi tiết sự lừa phỉnh muốn biến văn hóa tiểu tư sản thành bản chất phổ quát”. Như vậy thì trước sau Roland Barthes vẫn khẳng định một điều rằng Huyền thoại thuộc lĩnh vực ký hiệu học, nó mang cấu trúc của hệ thống ký hiệu, và muốn “tháo dỡ” Huyền thoại thì phải biết được cấu trúc của nó. Mở đầu phần Huyền thoại, ngày nay, R.Barthes đã quan niệm rất rõ rằng: Huyền thoại là một ngôn từ, hay nói khác hơn nó là một lời nói. Huyền thoại là một lời nói, nhưng không phải lời nói nào cũng là huyền thoại, Roland Barthes khẳng định “cần phải nêu lên mạnh mẽ ngay từ đầu rằng, huyền thoại là một hệ thống thông báo, đó là một thông điệp”, do đó huyền thoại không thể là một sự vật, một khái niệm hay một ý niệm, mà đó là một hình thức, một phương thức biểu đạt; “ngôn từ Huyền thoại được tạo nên bởi sự gia công chất liệu của sự vật nhằm hướng tới một thông báo thích hợp”. Huyền thoại không được xác định bằng nội dung của thông điệp mà bằng cách thức nó phát ra thông điệp và phải miêu tả nó như một hình thức. Huyền thoại là một ngôn từ, ngôn từ ấy lại là một thông điệp. Đó là một sự mở rộng trong việc xác định ngôn từ Huyền thoại. Ngôn từ Huyền thoại
  18. không nhất thiết phải được phát ra từ miệng, nó có thể được hình thành bằng các chữ viết hoặc bằng các thể hiện: diễn ngôn viết ra, ảnh chụp, điện ảnh, phóng sự, thể thao, quảng cáo, các cuộc biểu diễn…miễn là nó mang trong mình tính chất biểu đạt, thông báo về một điều gì đó. Như vậy từ R. Barthes, ta lại được cung cấp một cách hiểu rộng hơn về ngôn ngữ, diễn ngôn, lời nói… “rằng bất cứ đơn vị hoặc tổng hợp có tính chất biểu đạt nào, dù được thốt ra lời hay nhìn thấy bằng mắt” đều sẽ được hiểu là ngôn ngữ. Thuộc về ngôn ngữ, R.Barthes cho rằng “huyền thoại thuộc về một khoa học tổng quát mở rộng của ngôn ngữ học, và đó là ký hiệu học”. Vì vậy, nghiên cứu huyền thoại, cũng như nghiên cứu lời nói, chính là nghiên cứu các ký hiệu mà Saussure đã chủ trương trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Ferdinand de Saussure (1857-1913) là nhà ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ, người mở đường cho ngôn ngữ học hiện đại và sáng lập ngành ngôn ngữ học cấu trúc, tuy rằng từ “cấu trúc” chưa một lần nào được ông nói đến. Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cours de linguistique générale, 1916) xuất bản ba năm sau khi ông qua đời, Saussure dùng hai từ phân biệt “langage” và “langue”, trong khi tiếng Việt và tiếng Anh chỉ có một từ tương đương là “ngôn ngữ” hoặc “language”. Ngôn ngữ (langage) là hoạt động nói năng, không chỉ bao gồm ngôn ngữ nói mà rộng hơn (người ta có thể nói với nhau bằng các động tác...). Ngôn ngữ (langue) là tập hợp các ký hiệu được một cộng đồng sử dụng để liên lạc, trao đổi với nhau, như tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung... Cùng với các khái niệm langage và langue là khái niệm “lời nói” (parole); đó là việc sử dụng cụ thể các ký hiệu ngôn ngữ trong ngữ cảnh nhất định. Ngôn ngữ học chỉ là một nhánh của ký hiệu học
  19. nói chung, nhưng là nhánh quan trọng và được phát triển mạnh mẽ nhất [19;385]. Trong ngôn ngữ (langue), ông phân biệt hai mặt: cái biểu đạt (le signifiant) và cái được biểu đạt (le signifié). Cái được biểu đạt là khái niệm về một sự vật, một đối tượng nào đó được hình thành trong đầu thông qua cái biểu đạt; còn cái biểu đạt là âm thanh của một từ phát ra để chỉ khái niệm kia. Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là một mối quan hệ có tính chất võ đoán và vô cớ hoàn toàn. Chẳng hạn, chúng ta không thể giải thích lý do vì sao lại dùng từ gấu để chỉ một loài động vật, và cũng chẳng thể giải thích vì sao tiếng Anh lại dùng từ Bear để chỉ con gấu, còn tiếng Pháp lại dùng từ ours… Theo R.Barthes, nếu như trong ngôn ngữ thông thường chỉ có hai vế: cái biểu đạt biểu thị cái được biểu đạt theo một đường đơn giản, thì trong mọi hệ thống ký hiệu học, không chỉ có hai mà là ba vế khác nhau; vế thứ nhất không dẫn thẳng đến vế thứ hai mà thông qua mối tương quan giữa hai vế ấy, “vậy là có cái biểu đạt, cái được biểu đạt và ký hiệu, nó là tổng kết hợp của hai cái kia.…mọi ký hiệu học đều đưa ra mối quan hệ giữa hai vế, một cái biểu đạt và một cái được biểu đạt. Mối quan hệ ấy dựa trên những đối tượng thuộc loại khác biệt, và vì thế nó không phải là một sự ngang bằng mà là một sự tương đương”. Để giải thích cho vấn đề trên, ông đưa ra một số ví dụ, xin được trình bày một ví dụ của ông, chẳng hạn bó hoa hồng: ông để cho bó hoa hồng biểu thị tình yêu say đắm; ở đây không chỉ có cái biểu đạt (những bông hồng) và cái
  20. được biểu đạt (tình yêu say đắm); mà nói đúng ra ở đây chỉ có những bông hoa hồng đã “thấm đượm tình yêu”; nhưng trên bình diện phân tích, rõ ràng có ba vế, vì những bông hồng thấm đượm tình yêu hoàn toàn có thể phân tích thành những bông hồng và tình yêu say đắm, hai vế: những bông hồng và tình yêu say đắm đã tồn tại độc lập trước khi kết hợp với nhau để tạo thành đối tượng thứ ba là ký hiệu. Và đúng như vậy, ông nói rằng: “trên bình diện cuộc sống trải nghiệm, tôi không thể tách những bông hồng ra khỏi thông điệp chúng mang theo, thì cũng vậy, trên bình diện phân tích, tôi lại không thể lẫn lộn những bông hồng với tư cách cái biểu đạt và những bông hồng với tư cách ký hiệu: cái biểu đạt thì rỗng, ký hiệu thì đầy, nó là một ý nghĩa”. Xem Huyền thoại như một dạng thức ký hiệu học, R.Barthes phân tích rằng, giống như ký hiệu, Huyền thoại cũng có dạng thức ba chiều: cái biểu đạt, cái được biểu đạt và ký hiệu. Nhưng huyền thoại là một hệ thống đặc biệt ở chỗ đó là một “hệ thống ký hiệu thứ hai”, được xây dựng từ một chuỗi ký hiệu tồn tại trước nó . Cái là ký hiệu (nghĩa là tổng kết hợp của một khái niệm và một hình ảnh) trong hệ thống thứ nhất nay chỉ là cái biểu đạt trong hệ thống thứ hai. Một ví dụ quan trọng trong hai ví dụ mà Roland Barthes đã dùng để minh họa cho sự chuyển hóa từ ký hiệu thành cái biểu đạt trong hệ thống huyền thoại đó là: trang bìa tạp chí Paris-Match đăng hình một thanh niên da đen mặc bộ quân phục Pháp giơ tay chào theo kiểu nhà binh, đôi mắt ngước nhìn lên. Đó đã là nghĩa của hình ảnh. Nhưng ông cũng nhận ra rằng, hình ảnh ấy lại đưa đến một sự biểu đạt nữa: “biểu đạt rằng nước Pháp là một Đế quốc lớn, rằng tất cả con dân của Pháp, không phân biệt màu da, đều

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản