intTypePromotion=1

Đề tài: Vận dụng cặp phạm trù Nội dung – Hình thức để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta

Chia sẻ: Nguyễn Văn Tuyền | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

0
86
lượt xem
25
download

Đề tài: Vận dụng cặp phạm trù Nội dung – Hình thức để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

H i nh p kinh t qu c t hi n nay là xu th t t y u khách ộ ậ ế ố ế ệ ế ấ ế quan. Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với sự phát triển của khoa học – kĩ thuật, sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, do đó mỗi nước cần có những mối quan hệ với thị trường thế giới, không một...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Vận dụng cặp phạm trù Nội dung – Hình thức để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta

  1. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU:.................................................................................................................1 Chương 1:........................................................................................................................3 Lý luận của Triết học Mác về cặp phạm trù "Nội dung – hình thức"............4 1.1) Khái niệm Nội dung và hình thức ....................................................................4 1.2) Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức ....................................5 1.2.1) Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức ...............................................5 1.2.2) Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động phát triển của sự vật ..................................................................................5 1.2.3 ) Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung ...............................6 Chương 2:........................................................................................................................7 Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" trong vấn đề đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta.........................................................7 2.1) Vai trò của xuất nhập khẩu .............................................................................7 2.1.1 ) Điều hòa quá trình tái sản xuất xã hội ...................................................7 2.1.1.1 ) Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước ...............7 2.1.1.2 ) Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy............................................8 2.1.1.3 ) Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh.....................................................9 2.1.2 ) Thúc đẩy Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, mở rộng thị trường ..........9 2.2 ) Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2001 đến nay ..............10 2.2.1 ) Tình hình xuất nhập khẩu chung ở Việt Nam giai đoạn 2001-2008 . .11 2.2.1.1 ) Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam hiên nay .........................................................................................11 2.2.1.2 ) Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam ...................................11 2.2.2 ) Những thành tựu đạt được ....................................................................13 2.2.2.1 ) Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ...............................13 2.2.2.2 ) Về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu .................................14 2.2.2.3 ) Về chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu ..............................14 Chương 3:......................................................................................................................15 Một số giải pháp để giải quyết vấn đề đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta...................................................................................................................15 3.1 ) Điều chỉnh chiến lược vào cơ cấu xuất nhập khẩu :...................................15 3.2 ) Quảng bá thương hiệu tăng sức cạnh tranh :................................................18 3. 3) Phát triển khoa học – công nghệ và mở rộng thị trường :............................21 KẾT LUẬN ....................................................................................................................22 LỜI MỞ ĐẦU: 1
  2. Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là xu thế tất yếu khách quan. Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với sự phát triển của khoa học – kĩ thuật, sự phát triển nh ảy v ọt c ủa l ực l ượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, do đó mỗi nước cần có nh ững mối quan hệ với thị trường thế giới, không một quốc gia nào tách khỏi thị trường thế giới mà có thể phát triển nền kinh tế của mình. Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước hội nh ập nền kinh tế thế giới. Việt Nam đang trong quá trình đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế là vấn đề quan trọng của công cuộc đổi mới. Xuất nhập khẩu là một trong những hình thức chử yếu của kinh tế đối ngoại, đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển như nước ta, ngoại thương có tác dụng rất lớn, rất quan trọng. Việc mở rộng giao lưu kinh tế thế giới sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội rất riêng biệt… Do đó cần phải nhận rõ tầm quan trọng của xuất nhập khẩu, tình hình thực tế về ngoại thương của nước ta để đề ra những giải pháp, chiến lược thích hợp để phát triển hội nhập kinh tế. Bên cạnh đó, vi ệc trao đ ổi hàng hóa giữa các quốc gia đem đến nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thử thách. “ Vận dụng cặp phạm trù Nội dung – Hình th ức đ ể đ ẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta ” là mục đích chính của 2
  3. bài Tiểu luận này. Đề tài này rất rộng và mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm còn hạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ hiểu biết của mình. tiểu luận gồm 3 chương : Chương 1: Lý luận của Triết học Mác về cặp phạm trù "Nội dung – hình thức" Chương 2: Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" trong vấn đề đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta Chương 3: Một số giải pháp để giải quyết vấn đề đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta Chương 1: 3
  4. Lý luận của Triết học Mác về cặp phạm trù "Nội dung – hình thức" 1.1) Khái niệm Nội dung và hình thức Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật. Còn hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững gi ữa các y ếu t ố của sự vật đó. VD: Nội dung của quá trình sản xuất là tổng hợp tất cả những y ếu t ố vật chất như con người, công cụ lao động, đối tượng lao động, các quá trình con người sử dụng công cụ để tác động vào đối tượng lao động, cải biến nó tạo ra sản phẩm cần thiết cho con người. Còn hình th ức c ủa quá trình sản xuất là trình tự kết hợp, th ứ tự s ắp x ếp tương đ ối b ền vững các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất, quy định đ ến v ị trí c ủa người sản xuất đối với tư liệu sản xuất và sản ph ẩm của quá trình s ản xuất. Bất cứ sự vật nào cũng có hình thức bề ngoài của nó. Song phép bi ện chứng duy vật chú ý chủ yếu đến hình thức bên trong của sự vật, nghĩa là cơ cấu bên trong của nội dung. Thí dụ, nội dung của tác phẩm văn học phản ánh,còn hình thức bên trong của tác phẩm đó là th ể lo ại, những phép thể hiện được tác giả sử dụng trong tác phẩm như phương pháp kết cấu bố cục, nghệ thuật xây dựng hình tượng, các thủ pháp miêu tả, tu từ… Ngoài ra, một tác phẩm văn học còn có hình th ức b ề ngoài như màu sắc trình bày, khổ chữ, kiểu chữ… Trong cặp phạm trù nội dung và hình thức, phép biện chứng duy vật chủ yếu muốn nói đến hình thức bên trong gắn liền với nội dung, là cơ cấu của nội dung ch ứ không muốn nói đến hình thức bề ngoài của sự vật. 4
  5. 1.2) Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức 1.2.1) Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nội dung. Nên nội dung và hình thức luôn gắn bó ch ặt ch ẽ với nhau trong một thể thống nhất. Không có hình thức nào tồn tại thuần tuý không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định. Nội dung nào có hình thức đó. Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không ph ải vì thế mà lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau. Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định, và một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình th ức th ể hiện, ngược lại, một hình hệ thốngức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau. Thí dụ, quá trình sản xuất ra một sản phẩm có thể bao gồm những y ếu t ố nội dung giống nhau như: con người, công cụ, vật liệu… nh ưng cách t ổ chức, phân công trong quá trình sản xuất có thể khác nhau. Như vậy, nội dung quá trình sản xuất được diễn ra dưới những hình thức khác nhau. Hoặc cùng một hình thức tổ chức sản xuất như nhau nhưng được thực hiện trong những ngành, những khu vực, với những yếu tố vật chất khác nhau, sản xuất ra những sản phẩm khác nhau. Vậy là một hình th ức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau. 1.2.2) Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động phát triển của sự vật 5
  6. Vì khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn khuynh hướng chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội dung. Dưới sự tác động lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hoặc giữ các sự vật, với nhau trước hết làm cho các yếu tố của nội dung bi ến đổi trước; còn những mối liên kết giữa các yếu tố của nội dung, tức hình thức thì chưa biến đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở nên lạc hậu h ơn so với nội dung và sẽ trở thành nhân tố kìm hãm nội dung phát tri ển. Do xu hướng chung của sự phát triển của sự vật, hình thức không thể kìm hãm mãi sự phát triển của nội dung 4 mà sẽ phải thay đổi cho phù h ợp v ới nội dung mới. Ví dụ, lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất còn quan hệ sản xuất biến là hình th ức của quá trình s ản xu ất. Quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn, lúc đầu quan hệ sản xuất còn là hình thức thích hợp cho lực lượng sản xuất. Nhưng do l ực l ượng s ản xuất biến đổi nhanh hơn nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và s ẽ trở thành y ếu t ố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, con người phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất. Nh ư v ậy s ự bi ến đ ổi của nội dung quy định sự biến đổi của hình thức. 1.2.3 ) Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Sự tác động c ủa hình th ức đến nội dung thể hiện ở chỗ: Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển; nếu không phù h ợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung. 6
  7. Chương 2: Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" trong vấn đề đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta 2.1) Vai trò của xuất nhập khẩu 2.1.1 ) Điều hòa quá trình tái sản xuất xã hội Với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thương có những vai trò quan trọng: 2.1.1.1 ) Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước Một trong những vai trò quan trọng nhất của xuất nhập khẩu nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung là thông qua hoạt động buôn bán trao đổi với nước ngoài để tạo vốn cần thiết cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Việc tạo vốn và sử dụng nguồn vốn đó có hiệu quả trở thành mối quan tâm và ưu tiên hàng đầu đầu trong thời kì đầu công nghiệp hóa nói chung và trong chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, không một quốc gia nào lại đặt hy vọng vào việc thực hiện công nghiệp hóa chỉ bằng vốn của bản thân. Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta không những đòi hỏi các khoản vốn và đầu tư hiện có, mà còn đòi hỏi nhiều khoản đầu tư mới và lớn mà khả năng trong nước không đủ đáp ứng. Tuy nhiên, cần xác định những mục tiêu hợp lý, thực tế, không quá tham vọng. Bên cạnh đó, một mặt quan trọng về vốn là hiệu quả sử dụng của nó. Có thể nói, tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trở thành yếu tố có tác động mạnh nhất tới quá trình tăng trưởng kinh tế kém phát triển như nước ta ở giai đoạn đầu công nghiệp hóa. 7
  8. 2.1.1.2 ) Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy Tiêu dùng là mục đích của sản xuất. Tiêu dùng với tư cách là một yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội, vừa chịu sự tác động quyết định của sản xuất, nhưng đồng thời cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất. Tiêu dùng chính là quá trình tái sản xuất sức lao động, yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Không đảm bảo thỏa mãn những yêu cầu đến một mức độ cần thiết thì không thể tái sản xuất đầy đủ về số luợng và chất lượng lao động cho quá trình sản xuất mới. Vai trò của xuất nhập khẩu đối với việc chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy. Xuất nhập khẩu nhập khẩu những tư liệu sản xuất mới cần thiết để phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng trong nước. Xuất nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất hoặc sản xuất chưa đủ. Đây là một hoạt động quan trọng của xuất nhập khẩu để phục vụ cho tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng của nhân dân, nhưng hoàn toàn không thể bị động với đòi hỏi của tiêu dùng, mà phải tác động mạnh mẽ đến tiêu dùng đặc biệt là cơ cấu tiêu dùng trong xã hội, làm cho nó thích ứng với tình trạng cụ thể của cơ cấu sản xuất. Mở rộng buôn bán với nước ngoài đã làm cho tình trạng tiêu dùng của xã hội có nhiều biến đổi quan trọng. Sự thay đổi đó đặt ra những yêu cầu cao hơn cả về số lượng và chất lượng, kiểu, mốt, thẩm mỹ của hàng tiêu dùng. Điều đó một mặt thúc ép việc sản xuất trong nước muốn phát triển phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày vàng cao của người tiêu dùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được với hàng ngoại. Mặt khác xuất nhập khẩu có thể và cần phải đóng vai trò quan trọng trong việc hướng người tiêu dùng vào những đòi hỏi hợp lý đối với thị trường, phù hợp với chính sách tiêu dùng trong một giai đoạn nhất định. Phải bằng nhiều biện pháp trong đó quan trọng là biện pháp giá cả để điều tiết những đòi hỏi vượt quá khả năng của nền kinh tế. 8
  9. 2.1.1.3 ) Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Xuất nhập khẩu ra đời là kết quả của sản xuất phát triển, đồng thời xuất nhập khẩu lại là một tiền đề cho sự phát triển của sản xuất.Sản xuất có phát triển thì xã hội mới giàu có. Nhưng muốn sản xuất phát triển thì cần giải quyết các nhân tố cần thiết cho quá trình đó. Đó là việc đảm bảo các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuấ, tạo tập thị trường cho sản xuất phát triển. Trong nền kinh tế kém phát triển như nước ta, nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, việc buôn bán với nước ngoài đưa đến những thay đổi cơ cấu sản phẩm xã hội có lợi cho quá trình phát triển. Sự phát triển của xuất nhập khẩu làm cho đất đai lao động của nước ta được sử dụng triệt để hơn để sản xuất các sản phẩm nhiệt đới như gạo, cao su, cà phê, chè, dầu dừa… để xuất khẩu. Nhờ xuất nhập khẩu mà các nước “thoát khỏi tình trạng các tiềm năng không được khai thác”. Khái niệm nhập khẩu dẫn đến sự phát triển bao gồm các yếu tố thúc đẩy nhất định đối với một số ngành công nghiệp vốn không có cơ hội phát triển nào khác. Ví dụ, khi phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm xuất khẩu sẽ tạo ra nhu cầu cho sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến. Việc cung cấp cơ sở hạ tầng – đường bộ, đường sắt, cầu cảng, năng lượng, thông tin liên lạc – cho ngành công nghiệp xuất khẩu có thể làm giảm chi phí và còn mở cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp khác. Sự phát triển của xuất nhập khẩu có quan hệ đến thuế tức là phần thu nhập không nhỏ của chính phủ từ việc xuất khẩu, nhập khẩu (dưới dạng thuế hay lợi nhuận) được dùng để tài trợ cho sự phát triển của các ngành khác. 2.1.2 ) Thúc đẩy Công nghiệp hóa – Hiện đ ại hóa, mở r ộng th ị trường 9
  10. Vai trò quan trọng và bao quát của xuất nhập khẩu là góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xuất nhập khẩu có nhiệm vụ tìm kiếm những đầu vào mới cho công nghiệp và tiêu thụ của những sản phẩm mà công nghiệp làm ra. Trong quá trình mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, xuất nhập khẩu còn được sử dụng như một công cụ thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế trong nước và giữa trong nước với nước ngoài. Quá trình này không chỉ đơn giản là gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới để tranh thủ những lợi thế do ngoại thươngvà phân công lao động quốc tế mang lại, mà quan trọng hơn là dùng ngoại thương để thúc đẩy quá trình phát triển trong nội bộ nền kinh tế quốc dân, phát triển nền kinh tế thị trường thống nhất trong nước qua các hoạt động xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, vốn, marketing.. từ các công ty nước ngoài vào nước ta. Qua hoạt động liên doanh, đầu tư vốn hình thành các khu công nghiệp, thành phố lớn, khu chế biến xuất khẩu, cảng tự do buôn bán… mà hình thành nên các mối quan hệ gắn bó trên thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Trong điều kiện kinh tế nước ta còn lạc hậu, cơ cấu kinh tế mang nặng tính nông nghiệp và khai khoáng, tỷ trọng hàng công nghiệp chưa lớn thì xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên là khó tránh khỏi, nhưng xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô và mức độ chế biến thấp như hiện nay là lãng phí và chóng làm cạn kiệt nguồn dự trữ. Chính vì vậy cần hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô và sơ chế, khuyến khích xuất khẩu có mức độ chế biến cao hoặc thành phẩm tiêu dùng. Đó không chỉ là cách làm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, mà còn kết hợp được tài nguyên thiên nhiên với nguồn lao động dồi dào sẵn có và góp phần nâng cao trình độ công nghệ qua phát triển công nghiệp chế tạo và chế biến. Xuất nhập khẩu tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng hàng hóa của nước ta ra nước ngoài, giúp mở rộng thị trường. Trong xuất nhập khẩu, việc nhập khẩu các thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại, nhận chuyển giao công nghệ sẽ thúc đẩy khoa học kỹ thuật trong nước phát triển từ đó góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa. 2.2 ) Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2001 đ ến nay 10
  11. 2.2.1 ) Tình hình xuất nhập khẩu chung ở Việt Nam giai đo ạn 2001-2008 2.2.1.1 ) Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam hiên nay a. Nhân tố khách quan : Những biến động kinh tế, chính trị trên thế giới, Trung Quốc gia nhập WTO b. Nhân tố chủ quan : Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định Thương mại, kết quả hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 2006-2010, định hướng chiến lược phát triển Ngoại thương Việt Nam, mục tiêu chung của xuất khẩu Việt Nam thời kì 2010-2015. 2.2.1.2 ) Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam a. Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu : Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu tương đói ổn định ổn định. Năm 2011,2 tháng đầu năm tăng trưởng xuất nhập khẩu đạt 8,9 tỷ usd, tăng o,1% so với cùng kỳ. trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có những tăng trưởng về xuất khẩu khá tốt tăng gần 40% trong khi doanh nghiệp trong nuocs giảm 20%. Điều này cho thấy môi trường thông thoáng của viêt nam dã phat huy tác dụng các nghành có hàm lượng chất xám nhiều như điện tử đã bắt đầu xuất khẩu nhiều. • về xuất khẩu : Kim nghạch xuất khẩu hàng hóa thang 2 ước đạt 3,9 tỷ usd, giảm 23,2% so với tháng 2/2009, trong đó : xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đàu tư nước ngoài đạt 1,85 tỷ usd, tăng 16,5%. Tính chung 2 tháng ước đạt 8.91 tỷ usd tăng 0.1 so vơi cùng kỳ. Xét theo nhóm hàng: tháng 2, nhóm hàng nông lâm, thủy sản ước đạt 0,79 tỷ usd, giảm 23,5%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 0,45 tỷ usd, giảm 29,95%; nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 2,01 tỷ usd giảm 33.4% so với tháng 2/2009. tính chung 2 tháng nhóm hàng nông lâm thủy sản ước đạt 1,84 tỷ usd, tăng 2,,2%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 1,12 tỷ usd ,giảm 11,7% nhóm hàng công nghiệp ché biến ước đạt 4,62 tỷ usd, giảm 9,5% so với cùng kỳ 11
  12. Xuất khẩu 2 tháng của một số mặt hàng chủ yếu như: dầu thô ước đạt 1,36 triệu tấn, giảm 51,3% về lượng và 15,4% về kim nghạch; dệt may 0,15 tỷ $,tăng 16.8%, giày da 0,68 tỷ $ tăng 4 % ; sản phẩm gỗ 0.47 triệu$, tăng 29.2% ; linh kiện điện tử 0,41 tỷ$, tăng 30,6%; gạo 781 nghìn tấn ,giảm 24,9% về lượng và giảm 6,8% về kim nghạch. Sự phục hồi của nền kinh tế một số nước trong khối EU chạm nên xuất khẩu thang 2 vào một số thị trường chính giảm nhẹ 2,2% so với 2/2010 tuy nhiên với thị trường châu á tăng 4.6%; hoa kỳ tăng 23,8%;trung quốc tăng 26,3%. Tính chung 2 tháng, xuât khẩu vào một thị trường chính so với cùng kỳ như sau: châu á chiếm 48,7%; châu âu chiếm 19,0%; châu mỹ chiếm 23,5%; châu phi chiếm 1,3%; châu đại dương chiếm 4,5% thị trường khác chiếm 2,9%. b. Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu  Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu: Hàng dầu thô và than đá đã chiếm 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Khối lượng xuất khẩu dầu thô giảm nhẹ trong năm cả về số lượng và trữ lượng. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển.  Nhóm hàng nông lâm thủy sản Trong năm 2010-2011 giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên. Đây là những mặt hàng chịu nền tác động của thị trường thế giới. Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thỷ sản trước những thời cơ và thách thức mới.  Nhóm hàng chế biến Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực: dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm:  Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ.  Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm. Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Do vậy, giá trị gia tăng của sản 12
  13. phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng. Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công. c. Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu  Các thị trường xuất khẩu chủ yếu: Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo tứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Trong giai đoạn 2001-2007, kim ngạch xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu vào EU tăng 2.8 lần , vào Nhật là 2.3 lần và ASEAN là 2.8 lần. Đáng chú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Định hướng xuất khẩu Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước Châu Á.  Các thị trường nhập khẩu chủ yếu: Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản , Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông. Trong chính sách về thị trường nhập khẩu, định hướng đưa ra là giảm thị trường nhập khẩu từ các nước Châu Á xuống còn 55% vào năm 2010. Các đối tác xuất khẩu chủ yếu là các thị trường có công nghệ nguồn, trong khi các đối tác nhập khẩu chủ yếu là các thị trường không có công nghệ nguồn. 2.2.2 ) Những thành tựu đạt được 2.2.2.1 ) Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và vững chắc trong thời gian 2001 - 2008. Trong thời gian 2001 - 2007, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng với tốc độ trung bình hằng năm là 18,89%, cao hơn so với tốc độ kế hoạch đề ra cho giai đoạn 2001 - 2005 là 16% (theo mục tiêu chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2010) và cao hơn mức tăng trưởng 18% theo chỉ tiêu kế hoạch đề ra của xuất khẩu năm 2006 và 2007. Do tốc độ xuất khẩu hàng hóa tăng cao đã đưa quy mô xuất khẩu hàng hóa tăng gấp 3,35 lần trong khoảng thời gian 7 năm qua. Đây là m ột 13
  14. trong những mức tăng xuất khẩu nhanh nhất trong khu vực và trên th ế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo đầu người cũng tăng nhanh. Nếu năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo đầu người mới chỉ là 186 USD thì đến năm 2007 đã tăng lên mức 569 USD, tức là tăng g ấp 3,05 lần. 2.2.2.2 ) Về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu Trong thời gian qua, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sản phẩm xuất khẩu đa dạng, phong phú hơn. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng dần các sản phẩm chế biến, giảm dần sản phẩm thô, nguyên liệu. 2.2.2.3 ) Về chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu Thị trường xuất khẩu liên tục được mở rộng và đa dạng hóa, nh ất là đã đột phá xuất khẩu thành công vào thị trường Mỹ và duy trì đ ược th ị phần trên thị trường lớn nhất thế giới này. Xuất khẩu hàng hóa đã huy động ngày càng đông đảo các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia. Đặc biệt, các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp xuất khẩu không thuộc khu v ực kinh t ế nhà nước đang trở thành động lực chính cho xuất kh ẩu. Các doanh nghiệp FDI đang đóng góp quan trọng nhất cho xuất khẩu với việc khai thông thị trường, phát triển các mặt hàng chế biến, chế tạo cho xuất khẩu (điện tử, bản mạch máy tính ...) Tăng trưởng xuất khẩu thời gian qua đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn cao trong thồi gian qua ,xuất khẩu đã thực sự trở thành một động lực của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, góp phần tạo việc làm cho hàng triệu lao động và cải thiện thu nhập cho hàng tri ệu nông dân và các lao động khác nhờ tham gia xuất khẩu hàng nông sản, hàng dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ và các hàng hóa khác... 14
  15. Chương 3: Một số giải pháp để giải quyết vấn đề đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta 3.1 ) Điều chỉnh chiến lược vào cơ cấu xuất nhập khẩu : Sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), uy tín trên trường quốc tế ngày một nâng cao, đầu tư FDI tăng mạnh… nhưng kinh tế - thương mại trong nước cũng gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của toàn xã hội, sự chỉ đạo điều hành hiệu quả của Nhà nước, kinh tế nước ta tiếp tục đạt được những thành công trong năm 2007. Trong đó, thắng lợi trong thu hút đầu tư nước ngoài (16 tỷ USD) và sự phát triển mạnh của thương mại 15
  16. được nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá là những nhân tố quan trọng góp phần đạt được những thành công của nền kinh tế năm . Nhằm thực hiện thành công chiến lược xuất khẩu năm 2008 cần phải triển khai thực hiện một cách toàn diện và đồng bộ nhiều chính sách, biện pháp. Đòi hỏi sự nỗ lực từ phía cả các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức nghề nghiệp khác trong xã hội.  Thứ nhất thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng để tăng giá trị, kim ngạch hàng hoáng xuất khẩu. Tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng truyền thống, những mặt hàng có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như giải quyết nhiều công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội như các sản phẩm chế biến từ nông, lâm, thuỷ sản; công nghiệp chế biến: dệt may, giầy dép, đồ gỗ, linh kiện điện tử, sản phẩm nhựa, dây cáp điện…  Thứ hai, giảm chi phí giao dịch, kinh doanh cho doanh nghiệp xuất khẩu. Triển khai xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên - phụ liệu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trong nước, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như sản xuất hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa... nhằm nâng cao khả năng cung ứng nguyên liệu cho sản xuất một cách kịp thời và với chi phí thấp hơn.  Thứ ba, tiến hành cải cách thủ tục hành chính nhanh, mạnh hơn nữa. Rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất - nhập khẩu để giảm thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất - nhập khẩu của Việt Nam xuống đạt mức trung bình của khu vực ASEAN thông qua việc tăng cường áp dụng các biện pháp để tiến hành hải quan điện tử, hải quan một cửa.... Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính đi đôi với việc tăng cường hợp tác phối hợp giải quyết vụ việc liên quan giữa các Bộ, ngành, giữa các cơ quan quản lý với Hiệp hội ngành hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ngành thương mại trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, phát triển xuất khẩu. 16
  17.  Thứ tư, hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu.  Thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu và Quỹ hỗ trợ đầu tư Hình thức bảo hiểm xuất khẩu chưa được áp dụng tại Việt Nam (các nước phát triển đang áp dụng phổ biến hình thức này như Đức, áo, Italy, Nhật Bản…). Trong khi thực tiễn kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam đang gặp nhiều rủi ro. Do vậy, áp dụng biện pháp bảo hiểm xuất khẩu để hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu là cần thiết và phù hợp với các quy định của WTO.  Điều tiết tỷ giá hối đoái, lạm phát. Điều tiết sự thay đổi tỷ giá hợp lý sao cho thu hút được vốn nước ngoài và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hướng tới khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu phục vụ cho việc tăng trưởng kinh tế và vẫn kiểm soát được lạm phát ở mức hợp lý. Nước ta là một nước nhỏ nên hiệu ứng từ việc phá giá đến xuất khẩu là không lớn trong khi áp lực lên lạm phát là rõ rệt hơn nên cần cân nhắc mức độ phá giá ở mức hợp lý khi điều hành tỷ giá trong các bối cảnh cụ thể để tránh áp lực lạm phát quá lớn gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế nói chung.  T hứ năm, nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến xuất khẩu. Tập trung xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm (ASEAN, Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc) có kim ngạch nhập khẩu lớn…, các mặt hàng trọng điểm mà khả năng sản xuất trong nước không bị hạn chế, sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước như: hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm cao su, hàng thực phẩm chế biến, hoá mỹ phẩm, sản phẩm cơ khí, dịch vụ phần mềm… nhưng thiếu thị trường tiêu thụ. Tập trung nguồn vốn xúc tiến thương mại đối với những mặt hàng có sự tăng trưởng, có sự đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu.  Thứ sáu, tập trung khai thác theo chiều sâu, chiều rộng đối với các thị trường xuất khẩu. Phát triển thị trường truyền thống, thị trường xuất khẩu trọng điểm đi đôi với việc phát triển các thị trường có chung đường biên giới với Việt Nam với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá thị trường thông qua việc xem xét điều chỉnh những quy định không phù hợp hạn 17
  18. chế xuất khẩu thời gian qua, có chính sách xuất khẩu cụ thể đẩy mạnh xuất khẩu vào từng khu vực, từng thị trường. Bộ Công Thương cần sớm triển khai ký kết các thoả thuận song phương và công nhận lẫn nhau về kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc thanh toán cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là đối với các mặt hàng nông, thuỷ sản.  Thứ bảy, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo nghề, giải quyết vấn đề thiếu hụt và nâng cao chất lượng nguồn lao động trong một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu đang gặp khó khăn về nguồn lao động như lĩnh vực sản xuất hàng dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, sản phẩm cơ khí… Cần xã hội hoá công tác đào tạo, theo đó những doanh nghiệp lớn cũng được xem xét cấp kinh phí đào tạo công nhân cho mình và cung cấp cho những doanh nghiệp khác. Đồng thời, chú trọng khâu thiết kế, tạo dáng sản phẩm; Tổ chức nghiên cứu, đào tạo đội ngũ nhân viên thiết kế để đa dạng hoá và không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm chế biến cho phù hợp với thị hiếu khách hàng trong và ngoài nước.  Thứ tám, xây dựng đề án xuất khẩu cụ thể cho từng mặt hàng, từng địa bàn Phát triển những mặt hàng mới, mặt hàng có điều kiện sản xuất không phụ thuộc nhiều vào sự biến động của thị trường như sản phẩm cơ khí, dây cáp điện, sản phẩm nhựa, sản phẩm đồ gỗ... Đồng thời xem xét lại cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất, xuất khẩu đối với những mặt hàng truyền thống trọng điểm như hàng nông lâm thuỷ sản, hàng dệt may, giầy dép, thủ công mỹ nghệ... để có những điều chỉnh phù hợp hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu. 3.2 ) Quảng bá thương hiệu tăng sức cạnh tranh : Liệu mọi nhà sản xuất đều cần xây dựng một thương hiệu mạnh? Thương hiệu là một tài sản của doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu chính là một loại hình đầu tư nên trước khi quyết định xây dựng thương hiệu hay đầu tư vào các hoạt động khác thì doanh nghiệp phải xác định 18
  19. được lợi ích mà nhãn hiệu mang lại có tương xứng với khoản tiều đầu tư vào đó hay không. Với một thương hiệu “mạnh” thì doanh nghiệp có được nhiều lợi ích. Doanh nghiệp có thể tăng thị phần thong qua việc duy trì được khách hàng trung thành với thương hiệu và chiếm dần một phần khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, với một thương hiệu mạnh doanh nghiệp có thể đưa ra một chính sách giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, thương hiệu mạnh còn giúp cho doanh nghiệp giảm các chi phí khuyến thị như quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ cộng đồng… Đối với người tiêu dùng, một thương hiệu mạnh thường có những điểm sau:  Là một thương hiệu lớn: người tiêu dùng luôn qui đổi giữa sức mạnh và độ lớn - một thương hiệu mạnh phải được phân phối và quảng cáo ở khắp mọi nơi.  Chất lượng cao: theo suy nghĩ của người tiêu dùng thì không có thương hiệu mạnh nào mà chất lượng không tốt.  Tạo ra sự khác biệt: một thương hiệu mạnh phải có những đặc tính mà người tiêu dùng cảm nhận nó khác với các thương hiệu khác.  Khả năng nhận biết bởi khách hàng: thương hiệu mạnh thì phải có khả năng tạo ra nhiều hơn những cảm nhận của người tiêu dùng như: “đó là thương hiệu của tôi” hoặc “đây là thương hiệu đáp ứng được nhu cầu của tôi” so với các thương hiệu yếu.  Tạo ra sự thu hút đối với thương hiệu: thương hiệu mạnh phải tạo ra được những cảm xúc mà khi người tiêu dùng nhìn thấy thương hiệu hay sử dụng sản phẩm.  Tạo được sự trung thành thương hiệu: đây chính là mục đích của tất cả các hoạt động xây dựng thương hiệu. Lợi ích của thương hiệu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như loại hàng hóa cung cấp hay độ lớn của doanh nghiệp. Interbrand đã thực hiện một nghiên cứu và đưa ra được mức độ quan trọng của thương hiệu đối với những loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau. Một số lĩnh vực hàng hóa mà thương hiệu đóng vai trò rất lớn đến giá trị của công ty là các loại sản phẩm cao cấp, thức ăn và nước uống, ô tô… Với những sản phẩm này thì yếu tố tiên quyết để giúp doanh nghiệp thành công là phải xây dựng được một thương hiệu mạnh. Ngược lại, một số sản phẩm khác 19
  20. như các loại mặt hàng thiết yếu thì doanh nghiệp nên đầu tư vào công nghệ và kênh phân phối để tạo ra những sản phẩm có giá thành thấp và phân phối rộng khắp. Mở rộng thương hiệu thực sự là một chiến lược nguy hiểm. Nếu làm không tốt chiến lược mở rộng thương hiệu thì thương hiệu cốt lõi của bạn cũng sẽ gặp khó khăn. Và ngược lại, nếu bạn làm tốt, mở rộng thương hiệu sẽ góp phần không nhỏ vào tài sản thương hiệu vốn có. Do vậy khi xem xét mở rộng thương hiệu, có 4 đặc điểm sau cần lưu ý:  Thích hợp : bạn phải xem xét phạm vi mà những đặc tính của thương hiệu cốt lõi có liên quan hoặc ảnh hưởng đến thương hiệu mở rộng. Ví dụ như (1) đặc tính cốt lõi của thương hiệu Starbucks rõ ràng có liên quan đến doanh thu của sản phẩm cà phê nghiền nhưng lại chẳng hề ảnh hưởng gì đến việc bán hàng của đồ dùng nhà bếp như lò viba, tủ lạnh…(2) hoặc như thương hiệu của Coca-Cola thì thích hợp với mở rộng sang các lọai nước ngọt và soda khác hơn là các sản phẩm nước ép trái cây như nước cam chẳng hạn.  Sự thừa nhận : người tiêu dùng của bạn cũng cần phải tìm được một lý do hợp lý tại sao bạn lại mở rộng sang lĩnh vực mới này. Người tiêu dùng sẽ dễ dàng hiểu được nếu Mc Donald’s muốn kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, nhưng khi Mc Donald’s chuyển sang kinh doanh 1 cửa hàng rau quả thì họ có thể “không thích” như vậy? Hoặc bạn sẽ đóan được tâm lý gì sẽ diễn ra trong đầu người tiêu dùng khi Nike chuyển sang kinh doanh quần áo chơi golf hoặc nếu Nike kinh doanh quần áo thời trang. Dĩ nhiên là quần ào chơi golf sẽ làm người tiêu dùng dễ chấp nhận hơn.  Sự tín nhiệm : đó là sự tin tưởng có được từ thương hiệu cốt lõi ảnh hưởng tốt lên thương hiệu mở rộng và làm cho nó dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận hơn. Sony sẽ dễ dàng được tin tưởng với dòng sản phẩm máy tính xách tay mới của mình hơn là khi họ sản xuất quần áo thể thao. Hoặc các lọai bia mới của Budweiser sẽ dễ dàng bán được hơn là một lọai rượu mới của Budweiser.  Khả năng chuyển đổi : được xem là những kỹ năng, kinh nghiệm của thương hiệu cốt lõi có thể được chuyển đổi tận dụng cho thương hiệu mở rộng. Hãng hàng không British nếu mở rộng kinh doanh thêm các chuyến bay nội địa họăc những chuyến bay giá rẻ sẽ dễ tận 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản