Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------

NGUYỄN THỊ DIỄM HẰNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS.NGUYỄN VĂN LỊCH

Hà nội, năm 2012

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số

liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả của luận văn chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào.

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Diễm Hằng

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 1

Khóa: CH 2009 - 2011

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

LỜI CẢM ƠN

Phát triển thị trường nội địa đang là một nội dung đang được các doanh nghiệp

sản xuất giầy da trong nước quan tâm, phát triển trong chiến lược kinh doanh của

mình. Về mặt lý luận đây là một trong những vấn đề không mới, nhưng luôn có tính

thời sự, luận văn đòi hỏi phải có cần có cơ sở lý luận vững chắc làm nền tảng phân tích

thực trạng và chỉ ra thành tựu, hạn chế cũng như những nguyên nhân. Trên cơ sở đó

giúp tác giả đưa ra được những giải pháp khả thi nhằm đóng góp vào việc phát triển thị

trường nội địa cho sản phẩm giầy da Việt Nam trong những năm tiếp theo. Vì vậy,

luận văn không thể hoàn thành nếu không có giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của giảng viên

hướng dẫn và các giảng viên Khoa Kinh tế và Quản lý - Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo về sự giúp đỡ vô cùng quý báu đó.

Bên cạnh đó, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các cấp Lãnh đạo Viện

nghiên cứu Giầy da Việt Nam và các doanh nghiệp Giầy da đã tạo điều kiện để tác giả

được tập trung nghiên cứu và xây dựng luận văn, góp một phần nhỏ cho công cuộc xây

dựng và phát triển ngành Giầy da Việt Nam.

Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động

viên tác giả hoàn thành công trình này.

Xin cảm ơn.

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Diễm Hằng

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 2

Khóa: CH 2009-2011

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................... 1 LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................... 2 MỤC LỤC .......................................................................................................................... 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ....................................................................................... 6 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ ....................................................................... 7 MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 8 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA ....................................................................................................... 11 1.1. Lý thuyết chung về thị trường và thị trường nội địa ................................................. 11 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về thị trường ............................................................. 11 1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thị trường nội địa ................................................. 15 1.2. Các tiêu chí đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp ...................... 35 1.2.1 Khả năng mở rộng và duy trì thị phần ............................................................... 35 1.2.2. Tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh ......................................... 36 1.2.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng ...................................................... 36

1.3. Sự cần thiết phải phát triển thị trường nội địa của các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Nam ........................................................................................................................... 37 1.3.1. Giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp ...................................................... 37 1.3.2. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường nội địa .................... 39

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 3

1.4. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á và một số doanh nghiệp Việt Nam trong việc phát triển thị trường nội địa ...................................................................................... 40 1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á ............................................................ 40 1.4.2. Kinh nghiệm phát triển thị trường nội địa của một số doanh nghiệp trong Ngành .......................................................................................................................... 42 1.5. Kết luận Chương I ..................................................................................................... 46 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM ...................................................................... 47 2.1. Đặc điểm phát triển của Ngành da giầy Việt Nam .................................................... 47 2.1.1. Cơ cấu ngành theo thành phần kinh tế .............................................................. 47 2.1.2. Thực trạng sản xuất ........................................................................................... 47 2.1.3. Tổ chức quản lý ................................................................................................. 50 2.1.4. Công tác đầu tư ................................................................................................. 51 2.1.5. Máy móc thiết bị ............................................................................................... 52

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

2.1.6. Công nghệ ......................................................................................................... 54 2.1.7. Công tác đo lường và quản lý chất lượng sản phẩm ......................................... 56 2.1.8. Nguồn nhân lực ................................................................................................. 57 2.1.9. Công tác đào tạo ................................................................................................ 59 2.1.10. Nghiên cứu khoa học công nghệ ..................................................................... 60 2.1.11. Vệ sinh, an toàn lao động ................................................................................ 61 2.1.12. Bảo vệ môi trường .......................................................................................... 61 2.2. Thực trạng về thị trường tiêu thụ nội địa của ngành da giầy Việt Nam .................... 63 2.2.1. Tình hình tiêu thụ .............................................................................................. 63 2.2.2. Tình hình cung cấp sản phẩm da giầy cho thị trường nội địa ........................... 65 2.2.3. Khả năng phân phối .......................................................................................... 67

2.3. Đánh giá chung về tình hình phát triển thị trường nội địa của sản phẩm ngành da giầy trong thời gian qua .................................................................................................... 68 2.3.1. Thành tựu .......................................................................................................... 68 2.3.2. Hạn chế ............................................................................................................. 68

2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy ............................................................................................................................... 70 2.4.1. Nguyên nhân khách quan .................................................................................. 70 2.4.2. Nguyên nhân chủ quan ...................................................................................... 72

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG, DỤ BÁO VÀ HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY ĐẾN NĂM 2015 ........................................................................................................................ 75 3.1. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam .................... 75 3.1.1. Quan điểm và Định hướng phát triển ................................................................ 75 3.1.2. Mục tiêu phát triển ............................................................................................ 76 3.1.3. Định hướng Quy hoạch phát triển ..................................................................... 76 3.1.4. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành Da – Giầy.............................................. 78 3.1.5. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam ....... 78 3.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm ngành da giầy ........................................... 79 3.2.1. Dự báo nhu cầu tiêu dùng sản phẩm giầy dép ................................................. 80 3.2.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng da thuộc thành phẩm ............................................... 81 3.2.3. Dự báo nhu cầu tiêu dùng cặp - túi - ví các loại ............................................... 81 3.2.4. Dự báo nhu cầu nguyên phụ liệu ...................................................................... 82

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 4

3.3. Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam đến năm 2015.................................................................................................................... 83

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 5

3.3.1. Căn cứ đề xuất hệ thống giải pháp .................................................................... 83 3.3.2. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành da giầy trong việc phát triển thị trường nội địa ........................................................................................ 83 3.3.3. Hệ thống các giải pháp ...................................................................................... 87 3.4. Đề xuất và khuyến nghị ............................................................................................. 94 3.4.1. Đối với Nhà nước .............................................................................................. 94 3.4.2. Đối với Doanh nghiệp ....................................................................................... 95 3.4.3. Đối với người tiêu dùng .................................................................................... 96 3.5. Kết luận chương III ................................................................................................... 96 KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 98 PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 99

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất theo thành phần kinh tế .................................. 47

Bảng 2.2. Số lượng các doanh nghiệp sản xuất theo chuyên ngành ............................... 48

Bảng 2.3: Cơ cấu số lượng doanh nghiệp sản xuất phân bố theo vùng........................... 48

Bảng 2.4: Tổng hợp sản lượng giầy dép phục vụ thị trường nội địa năm 2011 của các

doanh nghiệp trong nước ................................................................................ 49

Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo các chuyên ngành và tỷ trọng lao động của ngành da

giầy trong ngành công nghiệp và ngành công nghiệp chế biến ...................... 57

Bảng 2.6: Cơ cấu trình độ lao động của toàn ngành và theo các chuyên ngành năm

2010 ................................................................................................................. 58

Bảng 2.7:Tổng hợp sản lượng tiêu thụ sản phẩm giầy dép phục vụ thị trường nội địa

năm 2011 ......................................................................................................... 65

Bảng 2.8: Tỉ giá hối đoái theo thời gian .......................................................................... 71

Bảng 3.1: Dự kiến tiêu thụ giầy dép trong nước giai đoạn 2015 – 2025 ........................ 81

Bảng 3.2: Phân loại cặp túi ví theo chất lượng sản phẩm ............................................... 82

Bảng 3.3: Dự kiến nhu cầu nguyên phụ liệu ngành da giầy theo chủng loại ................. 82

Bảng 3.4: Phân tích theo ma trận SWOT đề xuất giải pháp Định hướng phát triển thị

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 6

trường nội địa sản phẩm da giầy ..................................................................... 83

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Mô hình năm năng lực lượng cạnh tranh ............................................ 29

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 7

Hình 3.1 Các kênh phân phối sản phẩm Ngành da giầy tại thị trường nội địa... 86

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngành da giầy Việt Nam đã có chiều dài lịch sử hình thành và phát triển trên

dưới nửa thế kỷ. Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, Ngành đều có những đóng góp

đáng kể cho sự phát triển kinh tế và thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội trong và

ngoài nước.

Trong các thập niên đầu tiên của thế kỷ IXX, do điều kiện giao thương với nước

ngoài còn hạn chế, sản xuất của Ngành còn ở trình độ thủ công, nền kinh tế còn nghèo

nàn lạc hậu, phụ thuộc thì vai trò của Ngành chủ yếu là đáp ứng tiêu dùng trong nước

cho một nhóm dân cư trong xã hội về sản phẩm giầy dép. Vị trí đóng góp về phát triển

kinh tế còn hạn chế so với các ngành khác như: nông nghiệp, buôn bán, khai thác mỏ...

Từ năm 1987 đến nay, trước nhu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc

tế, ngành da giầy mới thực sự trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật tương đối độc lập,

hoạt động của Ngành với vị trí vai trò mới đã đóng góp một cách có hiệu quả không

thua kém các ngành kinh tế khác.

Tuy phát triển lớn mạnh và vượt bậc như vậy song tiêu thụ sản phẩm của

Ngành chủ yếu tập trung ở thị trường nước ngoài thông qua các hợp đồng gia công

xuất khẩu cho các hãng có thương hiệu lớn, các nhà nhập khẩu trực tiếp, các nhà nhập

khẩu trung gian (Nike, Rebook, Adidat, Skechers…). Trong suốt 10 năm qua, kim

ngạch xuất khẩu của Ngành thường xuyên chiếm tỷ trọng khoảng hơn 8% trong toàn

bộ kim ngạnh xuất khẩu chung của cả nước. Kết quả này đã đưa Ngành lên vị trí luôn

đứng ở trong nhóm 5 ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn của cả nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được trong xuất khẩu thì đã có không

ít những bài học đắt giá cho nhiều doanh nghiệp thuộc ngành da giầy Việt Nam. Trong

khi mải lo chạy đua, cạnh tranh khốc liệt ở bên ngoài, thì ngay chính trên “Sân nhà”

của mình lại để cho sản phẩm nước ngoài thống lĩnh. Đối với sản phẩm giầy dép, mặc

dù là một trong 5 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới nhưng các doanh nghiệp da giầy

Việt Nam lại phải chen chân trong việc cung ứng sản phẩm cho hơn 86 triệu dân tại thị

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 8

trường nội địa.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, năm 2011 sản lượng giày dép do

các doanh nghiệp trong nước sản xuất và tiêu thụ nội địa đạt gần 70 triệu đôi, chiếm tỷ

trọng gần 50% so với nhu cầu tiêu thụ 130 - 140 triệu đôi/năm.Các loại cặp, túi xách,

ba lô tiêu thụ nội địa ước khoảng 25 triệu chiếc, trong đó có khoảng 15 triệu chiếc

được sản xuất từ các doanh nghiệp Việt Nam, chiếm tỷ trọng trên 60%. 50% thị phần

còn lại là các sản phẩm nhập ngoại mà chủ yếu là sản phẩm Trung Quốc.

Nhưng quan trọng nhất là tình trạng nhập lậu các sản phẩm da giầy nước ta hiện

nay diễn ra tràn lan, với số lượng lớn không kiểm soát được. Tại một đất nước đông

dân, có tốc độ đô thị hoá rất cao, đang ở trong thời kì có tỷ lệ “dân số vàng”, có sức

mạnh trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm da giầy lại diễn ra tình trạng trên là một bất

cập lớn. Trên khắp các đường phố cũng như tại các vùng nông thôn hẻo lánh nơi đâu

cũng thấy trưng bày và tình trạng buôn bán “tấp nập” hàng giầy dép và đồ phụ trang

(túi xách, cặp ví ...) nhập lậu từ các vùng biên giới của các nước láng giềng với giá rẻ,

chất lượng kém. Sự xuất hiện một số gian hàng bán lẻ sản phẩm của một số thương

hiệu như Bata, Clarks,…tại một số siêu thị cao cấp với giá cao gấp khoảng từ 5 - 10

lần so với giá của hàng nhập lậu và hàng sản xuất trong nước đang tạo nên một thị

trường các sản phẩm da giầy nội địa hỗn loạn, khó kiểm soát. Các doanh nghiệp sản

xuất và kinh doanh trong lĩnh vực da giầy của Việt Nam tại thị trường nội địa đang bị

đẩy ra ngoài cuộc cạnh tranh và trở thành như những người “đứng ngoài cuộc” với tâm

trạng tiếc nuối và điêu đứng vì đã để mất vị thế của mình ngay trên “sân nhà” trong khi

cũng chính bàn tay mình đang làm ra những sản phẩm đẹp, chất lượng và giá cả cao để

mang đến “sân khách” với giá gia công rẻ.

Đứng trên giác độ hiệu quả kinh tế, tình hình sử dụng hàng nhập ngoại tràn lan,

khó kiểm soát về số lượng và chất lượng đang gây lãng phí cho nền kinh tế nói chung

và ngành công nghiệp da giầy nói riêng.

Nghiên cứu đánh giá tình hình thị trường nội địa của ngành da giầy trong giai

đoạn hiện nay là việc làm cần thiết nhằm đề xuất các giải pháp phát triển thị trường

nội địa của Ngành trong giai đoạn tới vừa theo đúng qui luật vốn có của nó vừa phù

hợp với thực trạng nền kinh tế đang khó khăn hiện tại của Việt Nam cũng như của thế

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 9

giới. Bên cạnh đó phát triển thị trường nội địa, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

các sản phẩm của Ngành cũng là việc làm thiết thực hưởng ứng cuộc vận động “Người

Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị.

Do đó, vì những lý do trên tôi chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường nội

địa của ngành da giầy Việt Nam đến năm 2015”.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn

Luận văn nhằm đánh giá thực trạng tình hình cung cấp sản phẩm nhằm phục vụ

nhu cầu tiêu thụ cũng như tình hình tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa của ngành

da giầy để từ đó đưa ra đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển thị

trường, ổn định sản xuất trong nước và tận dụng những cơ hội để tăng trưởng bền vững.

Để thực hiện được mục tiêu đó nhiệm vụ nghiên cứu yêu cầu:

- Làm rõ những khái niệm về phát triển thị trường nội địa nói chung và vị

trí, vai trò của ngành da giầy Việt Nam nói riêng trong phát triển kinh tế xã hội.

- Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng tình hình sản xuất cũng như tiêu thụ tại

thị trường nội địa sản phẩm ngành da giầy từ đó đưa ra đề xuất các giải pháp và một số

khuyến nghị nhằm định hướng phát triển thị trường tiêu thụ nội địa sản phẩm da giầy.

3. Phương pháp nghiên cứu

- Trên cơ sở những quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và các chính

sách, văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến nội dung nghiên cứu.

- Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: thu thập số

liệu qua thực tiễn phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu ngành da giầy của Vụ Thị

trường trong nước, Vụ Xuất nhập khẩu, Vụ Kế hoạch (Bộ Công Thương), Viện

Nghiên cứu Da – Giầy, Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam trong những năm qua; khảo sát,

phân tích và tổng hợp đánh gia các văn bản pháp luật, phương pháp thống kê, hệ thống

hóa các dự án, công trình nghiên cứu đã được công bố...

4. Cấu trúc của luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường nội địa.

Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường nội địa sản phẩm ngành da giầy Việt Nam.

Chương 3: Phương hướng, dự báo và Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 10

trường nội địa sản phẩm ngành da giầy đến năm 2015.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN

THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

1.1. Lý thuyết chung về thị trường và thị trường nội địa

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về thị trường

1.1.1.1. Khái niệm thị trường

Có rất nhiều khái niệm về thị trường, mỗi nhà kinh tế định nghĩa theo một cách

khác nhau:

Nếu như Mc Carthy định nghĩa: “Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách

hàng tiềm năng với những nhu cầu tương đương và những người bán đưa ra các sản

phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thoả mãn các nhu cầu đó”.

Thì nhiều nhà kinh tế học khác lại quan niệm: “Thị trường là lĩnh vực trao đổi

mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa,

dịch vụ”. Hay đơn giản hơn người ta lại quan niệm: “Thị trường là tổng hợp các số

cộng của người mua về một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ”. Hay “Thị trường là cái

chợ, là nơi mua bán hàng hoá”.

Thời gian gần đây có nhà kinh tế còn định nghĩa: “Thị trường là nơi mua bán

hàng hóa, là một quá trình trong đó người mua và người bán trao đổi một thứ hàng hóa

tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, là nơi diễn ra các hoạt

động mua bán bằng tiền trong một thời gian và không gian nhất định.”

Các định nghĩa trên đây về thị trường đã nhấn mạnh về địa điểm mua bán và vai

trò của người mua - người bán. Nhưng đã nói đến thị trường là phải nói đến các yếu tố

sau:

1. Phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn với địa điểm xác định;

2. Khách hàng phải có nhu cầu được thoả mãn, đây chính là động cơ thúc đẩy

khách hàng thể hiện nhu cầu mua sắm;

3. Khách hàng phải có khả năng thanh toán;

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 11

4. Phương tiện và hình thức thanh toán chủ yếu là tiền.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

1.1.1.2. Phân loại thị trường

Có thể có nhiều cách thức khác nhau để mô tả thị trường, sở dĩ có sự khác nhau

đó là do mục đích và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Với mục đích nghiên cứu

thị trường để tìm ra giải pháp phát triển thị trường thì doanh nghiệp cần phải xem xét

thị trường của mình theo phương thức tổng quát đó là chia thị trường của mình thành:

Thị trường đầu vào và Thị trường đầu ra.

a) Thị trường đầu vào: việc nghiên cứu Thị trường đầu vào là quan trọng và đặc

biệt ý nghĩa đối với sự hiệu quả và ổn định của nguồn cung cấp nguyên vật liệu, hàng

hoá và dịch vụ cho doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Thị trường

đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và chất lượng của sản phẩm. Tuy nhiên trong

đề tài này ta chỉ chú trọng đến việc phân loại thị trường và cách thức phân loại thị

trường đầu ra.

b) Thị trường đầu ra: Nghiên cứu Thị trường đầu ra trực tiếp ảnh hưởng đến

các chiến dịch Marketing của doanh nghiệp. Mục tiêu của các chiến dịch Marketing là

giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Để mô tả thị trường đầu ra của

doanh nghiệp ta có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp 03 tiêu thức cơ bản: sản phẩm,

địa lý và thị hiếu khách hàng như sau:

- Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức sản phẩm:

Thị trường phân loại theo tiêu thức sản phẩm thường được các doanh nghiệp

phân loại theo các tiêu chí sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra bao gồm: Thị trường

tư liệu sản xuất và thị trương tư liệu tiêu dùng.

+ Tư liệu sản xuất là những sản phẩm dùng để sản xuất. Thị trường tư liệu sản

xuất là loại thị trường sơ cấp. Sản phẩm của thị trường này có các loại máy móc, thiết

bị sản xuất hay các loại hóa chất dùng trong sản xuất…

+ Hàng tiêu dùng là những sản phẩm dùng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá

nhân như: quần áo, giày dép, thuốc chữa bệnh, thực phẩm… Thị trường tư liệu tiêu

dùng là loại thị trường thứ cấp, cung cấp sản phẩm cuối cùng trong chuỗi sản xuất ra

thị trường.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 12

- Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức địa lí:

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức địa lý tùy thuộc vào chiến lược của doanh

nghiệp. Các doanh nghiệp thường xác định phạm vi địa lí, lãnh thổ mà sản phẩm của

họ có thể tiêu thụ hoặc vươn tới để kinh doanh. Theo tiêu thức này có thể phân chia

thành hai loại vùng lãnh thổ đó là: Thị trường trong nước và Thị trường quốc tế.

+ Thị trường trong nước: hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ chú

trọng đến thị trường trong nước. Thị trường trong nước có thể lưu thông hàng hóa dễ

dàng hơn và ít chịu hàng rào thuế quan cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm.

Tùy theo từng doanh nghiệp có thể chia thị trường trong nước ra các tiêu thức nhỏ hơn

theo miền, vùng, tỉnh/thành phố…

+ Thị trường quốc tế: thường thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn,

các công ty đa quốc gia. Tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm được quy định chặt chẽ theo

quy chuẩn quốc tế, doanh nghiệp có khả năng tài chính để dễ dàng vượt qua được các

hàng rào thuế quan của các nước để thâm nhập thị trường quốc tế. Thị trường loại này

có thể chia thành thị trường theo châu lục, thị trường theo khu vực…

- Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức thị hiếu khách hàng:

Theo tiêu thức này, doanh nghiệp mô tả thị trường của mình theo các nhóm

khách hàng mà họ có thể hưởng tới để thỏa mãn. Khách hàng của doanh nghiệp bao

gồm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Về nguyên lý, tất cả các khách

hàng có mặt trên thị trường đều có thể là khách hàng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối

với mỗi nhóm khách hàng khác nhau thì tiêu chí về sản phẩm khác nhau. Ví dụ: đối

với nhóm khách hàng thuộc vùng có thu nhập thấp thì yêu cầu cao nhất là giá rẻ còn

chất lượng của sản phẩm chỉ cần đạt được ở mức có thể chấp nhận được, còn đối với

nhóm khách hàng có thu nhập cao thì tiêu chí hàng đầu là mẫu mã đẹp và chất lượng

sản phẩm cao. Doanh nghiệp không thể đáp ứng được hết các nhu cầu đa dạng đó mà

chỉ có thể đáp ứng tốt một hoặc một số yêu cầu về cách thức mua sắm nào đó của

khách hàng. Tất cả những điều nêu trên dẫn đến một thực tế là hình thành trên thị

trường những nhóm khách hàng mà doanh nghiệp có thể chinh phục.

1.1.1.3. Chức năng của thị trường

Thị trường có tác động đến nhiều mặt của sản xuất tiêu dùng xã hội. Thị trường

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 13

là một loại dung môi đảm bảo cho các hoạt động sản xuất tiêu dùng phát triển liên tục

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

với quy mô ngày càng mở rộng. Thị trường đảm bảo cho hàng hóa tiêu thụ hợp lý, phù

hợp với nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Khi đã được thỏa mãn nhu cầu, thị trường

có tác dụng thúc đẩy, gợi mở nhu cầu đưa đến những sản phẩm chất lượng cao, đa

dạng làm cho chất lượng sống tăng lên, thúc đẩy xã hội phát triển. Vì vậy, thị trường

có các chức năng cơ bản sau:

a) Chức năng thừa nhận: đối với các doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm sản

xuất ra là để bán, các sản phẩm này muốn được tiêu thụ phải được thị trường thừa

nhận. Đối với các doanh nghiệp thương mại, mặc dù không trực tiếp sản xuất ra sản

phẩm nhưng sản phẩm hoặc dịch vụ họ cung cấp cũng phải được thị trường thừa nhận.

Nếu hàng hóa, dịch vụ được thị trường thừa nhận tức là có thể bán được thì doanh

nghiệp mới thu hồi được vốn và có lãi, thậm chí có thể mở rộng quy mô. Ngược lại,

nếu không được thị trường thừa nhận, doanh nghiệp sẽ dẫn đến chỗ phá sản. Do đó, để

được thị trường thừa nhận, trước khi cung cấp sản phẩm, doanh nghiệp đều phải tiến

hành nghiên cứu thị trường nhất là nhu cầu khách hàng về sản phẩm mà họ sẽ cung

cấp.

b) Chức năng thực hiện: Qua tiêu thụ, hàng hóa mới thực hiện được chức năng

giá trị của mình tức là chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái già trị. Thông qua thị

trường, hàng hóa được tiêu thụ khi đó tính hữu ích của sản phẩm mới được xác định.

Sự gặp gỡ giữa người mua và người bán được xác định bằng giá hàng hóa và hàng hóa

thực hiện được chức năng giá trị tức là chuyển từ người bán sang người mua. Thị

trường có chức năng thực hiện quá trình này.

c) Chức năng điều tiết và kích thích: Thông qua hành vi trao đổi hàng hóa trên

thị trường, thị trường điều tiết và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển hoặc ngược

lại. Thị trường thực hiện chức năng điều tiết khiến điều hòa sự rút lui hoặc gia nhập

của các doanh nghiệp. Chức năng này được thực hiện thông qua cơ chế đặc trưng của

thị trường. Nếu hàng hóa được tiêu thụ tốt sẽ kích thích doanh nghiệp mở rộng sản

xuất, đồng thời kích thích các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường để đa dạng

hóa sản phẩm cùng loại; ngược lại, nếu hàng hóa tiêu thụ kém hoặc không được tiêu

thụ thì doanh nghiệp buộc phải tìm giải pháp kinh doanh mới buộc doanh nghiệp rút

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 14

lui khỏi thị trường sản phẩm hiện tại.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thị trường nội địa

1.1.2.1. Khái niệm thị trường nội địa

Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm thị trường theo các góc độ khác nhau. Thị

trường nội địa được định nghĩa như sau:

Thị trường nội địa là tập hợp các thoả thuận, mà thông qua đó, người mua và

người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ

quốc gia.

1.1.2.2. Các đặc điểm của thị trường nội địa

1.1.2.2.1. Các đặc điểm vi mô

a) Các yếu tố về lực lượng bên trong của doanh nghiệp:

Đó là những nhiệm vụ, chiến lược, mục tiêu cụ thể, các chính sách và định

hướng phát triển do Ban lãnh đạo công ty vạch ra. Tình hình tài chính, máy móc thiết

bị của công ty. Các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn….

b) Những người cung ứng:

Những người cung ứng là các doanh nghiệp và các cá nhân đảm bảo cung ứng

các yếu tố cần thiết cho công ty và các đối thủ cạnh tranh để sản xuất ra hàng hoá và

dịch vụ nhất định. Bất kỳ một sự biến động nào từ phía nhà cung ứng, sớm hay muộn,

trực tiếp hay gián tiếp cũng sẽ ảnh hưởng tới đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

công ty. Nguồn lực khan hiếm, giá cả tăng có thể làm xấu đi cơ hội thị trường cho việc

kinh doanh những hàng hoá và dịch vụ nhất định, tồi tệ hơn có thể buộc doanh nghiệp

phải ngừng sản xuất.

c) Các trung gian Marketing

Đó là các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp khác và các cá nhân giúp cho công

ty tổ chức tốt hơn việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình tới người tiêu

dùng cuối cùng.

Những người trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai trò rất

quan trọng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng hoặc là thực hiện công việc

bán hàng cho họ. Đó là những đại lý bán buôn, bán lẻ, đại lý phân phối độc quyền, các

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 15

công ty kho vận……

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

d) Khách hàng

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự

thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, quy

mô khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Khách hàng sẽ bao gồm nhu cầu. Bản thân

nhu cầu lại không giống nhau giữa các nhóm khách hàng và thường xuyên biến đổi.

Nhu cầu và sự biến đổi nhu cầu lại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, đến lượt mình

nhu cầu và sự biến đổi của nó lại ảnh hưởng đến các quyết định marketing của doanh

nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi khách hàng. Hiện nay,

doanh nghiệp thường tập trung vào 04 loại thị trường khách hàng sau:

- Thị trường người tiêu dùng: các cá nhân và hộ tiêu dùng mua hàng hoá và

dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân.

- Thị trường khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến: các tổ chức và

các doanh nghiệp mua hàng hoá và dịch vụ để gia công chế biến thêm hoặc để sử dụng

vào quá trình sản xuất khác.

- Thị trường buôn bán trung gian: các tổ chức và các cá nhân mua hàng hoá và

dịch vụ cho mục đích bán lại để kiếm lời.

- Thị trường các cơ quan và tổ chức của Đảng và Nhà nước: mua hàng hoá và

dịch vụ mua mục đích sử dụng trong lĩnh vực quản lý và hoạt động công cộng hoặc để

chuyển giao tới các tổ chức, cá nhân khác đang có nhu cầu sử dụng.

e) Đối thủ cạnh tranh

Các Công ty đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Có 4 cấp

độ cạnh tranh như sau:

- Cạnh tranh mong muốn: tức là với cùng một lượng thu nhập người ta có thể

dùng vào các mục đích khác nhau. Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh mong muốn,

điều quan trọng là phải biết được những xu hướng tiêu dùng và do đó cách thức người

ta phân bổ thu nhập cho người tiêu dùng.

- Cạnh tranh giữa các loại sản phẩm khác nhau: để cùng thoả mãn một nhu cầu

mong muốn. Ví dụ như mong muốn về nước uống có thể gây ra sự cạnh tranh giữa các

hãng sản xuất nước uống tinh khiết, các hãng sản xuất nước ngọt, hãng sản xuất

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 16

bia….Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh này, doanh nghiệp cần phải biết thị trường có

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

thái độ như thế nào đối với các loại sản phẩm khác nhau và quan niệm của họ và giá trị

tiêu dùng mỗi loại.

- Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm: ví dụ như trong cùng một công ty sản

xuất nước khoáng thì có thể sản xuất nhiều loại nước khoáng như: nước khoáng có ga

và nước khoáng tinh khiết… Khi quan tâm đến đối thủ cạnh tranh này, các nhà quản

trị marketing phải biết thị hiếu của từng thị trường đối với các dạng sản phẩm khác

nhau.

- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu: khi nghiên cứu cạnh tranh giữa các nhãn hiệu

cần phải biết sức mạnh và điểm yếu của từng nhãn hiệu và các công ty tương ứng.

f) Công chúng trực tiếp

Đó là một nhóm, một tổ chức nào có mối quan tâm thực sự hoặc có thể sẽ quan

tâm hay ảnh hưởng tới khả năng đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Có ba loại

công chúng trực tiếp:

- Công chúng tích cực: là nhóm quan tâm tới doanh nghiệp với thái độ thiện chí

- Công chúng tìm kiếm: là nhóm mà công ty đang tìm sự quan tâm của họ

- Công chúng không mong muốn: là nhóm mà doanh nghiệp cố gắng thu hút sự

chú ý của họ, nhưng luôn phải đề phòng sự phản ứng từ nhóm khách hàng.

1.1.2.2.2. Các đặc điểm vĩ mô

a) Môi trường nhân khẩu học

Nhân khẩu học nghiên cứu các vấn đề về dân số và con người như quy mô, mật

độ, phân bố dân cư, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết… Môi trường nhân khẩu học ảnh hưởng lớn

đến doanh nghiệp, bởi vì nó bao hàm con người và con người tạo ra thị trường cho

doanh nghiệp.

b) Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung về

cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình hình đó có thể tạo nên tính hấp dẫn của thị

trường và sức mua khác nhau đối với các thị trường hàng hoá khác nhau.

Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 17

chi tiêu của người tiêu dùng

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Ở Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì một bộ phận không nhỏ tầng lớp dân cư có thu

nhập thấp, do đó đòi hỏi chất lượng hàng hoá dịch vụ chưa cao, đặc biệt dân cư nông

thôn. Cho nên nông thôn cơ cấu chi tiêu và mua sắm càng khác so với thành phố.

c) Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều

mặt tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà sản xuất - kinh doanh và chúng có

thể gây ảnh hưởng cho các hoạt động marketing trên thị trường.

d) Môi trường công nghệ - kỹ thuật

Môi trường công nghệ - kỹ thuật bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh hưởng

tới công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường.

e) Môi trường chính trị

Môi trường chính trị là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến các

quyết định marketing của doanh nghiệp. Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật

và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy và cơ

chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội.

f) Môi trường văn hoá

Văn hoá được định nghĩa là một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm tin, truyền

thống và các chuẩn mực hành vi đơn nhất với một nhóm người cụ thể nào đó được

chia sẻ một cách tập thể. Văn hoá là vấn đề khó nhận ra và hiểu thấu đáo, mặc dù nó

tồn tại khắp nơi, và tác động thường xuyên tới kinh doanh của doanh nghiệp và các

quyết định marketing của nó. Đôi khi nó trở thành hàng rào “gai góc” đối với các nhà

hoạt động marketing.

1.1.2.3. Các nhân tố cấu thành của thị trường nội địa

1.1.2.3.1. Thị trường người tiêu dùng

a) Thị trường người tiêu dùng và hành vi mua của người tiêu dùng

* Khái quá về thị trường người tiêu dùng

Người tiêu dùng là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm và dịch vụ

nhằm thoả mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân.Họ là người tiêu dùng cuối cùng sản

phẩm do quá trình sản xuất tạo ra. Theo các nhà kinh tế học, việc tiêu dùng của họ một

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 18

mặt, được xem như là việc sử dụng hoặc huỷ bỏ một tài sản kinh tế mặt khác cũng là

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

một cách họ tự thể hiện mình. Người tiêu dùng có thể là một cá nhân, một hộ gia đình

hoặc một nhóm người.

Thị trường người tiêu dùng bao gồm tất cả các cá nhân, các hộ gia đình và các

nhóm người hiện có và tiềm ẩn mua sắm hàng hoá hoặc dịch vụ cho mục đích thoả

mãn nhu cầu cá nhân

Đặc điểm cơ bản của thị trường người tiêu dùng

Có quy mô lớn và thường xuyên gia tăng

Khách hàng của thị trường người tiêu dùng rất khác nhau về tuổi, giới tính, thu

nhập, trình độ văn hoá,... do đó tạo nên sự phong phú và đa dạng về nhu cầu và ước

muốn của họ trong việc mua sắm và sử dụng hàng hoá, dịch vụ

Cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, ước muốn,sở thích, các đặc tính về hành vi, sức mua của người tiêu dùng, cơ

cấu chi tiêu … cũng không ngừng biến đổi

* Hành vi mua của người tiêu dùng

Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc

lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá

và chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ.

Mô hình hành vi người tiêu dùng được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa ba

yếu tố: các kích thích, “hộp đen ý thức” và những phản ứng đáp lại các kích thích của

người tiêu dùng

- Các kích thích: Là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có

thể gây ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng như: giá bán, những cách thức phân

phối, các hoạt động xúc tiến, môi trường xã hội, cạnh tranh, chính trị, văn hoá, xã

hội,…

- Hộp đen ý thức của người tiêu dùng: là cách gọi bộ não của con người và cơ

chế hoạt động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải

pháp đáp ứng trở lại các kích thích được tiếp nhận. Hộp đen ý thức được chia làm hai

phần: đặc tính của người tiêu dùng và quá trình quyết định mua của người tiêu dùng.

- Những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng: là những phản ứng người tiêu

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 19

dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

* Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng

- Những nhân tố thuộc về văn hoá

Các nhân tố văn hoá có ảnh hưởng sâu rộng đến hành vi người tiêu dùng. Chính

văn hoá là lực lượng cơ bản đầu tiên biến nhu cầu tự nhiên của con người thành ước

muốn – cái mà người tiêu dùng cố gắng thoả mãn khi mua sắm và tiêu dùng hàng hoá

dịch vụ

Văn hoá ấn định những điều cơ bản về giá trị, sự thụ cảm, sự ưa thích và những

sắc thái đặc thù của sản phẩm vật chất

Văn hoá ấn định cách cư xử được xã hội chấp nhận: những tục lệ, thể chế nào là

chuẩn mực ? Người cùng một nền văn hoá được giao tiếp bằng ngôn ngữ, cử chỉ ra

sao? Nền văn hoá xác định những gì là bình thường được cộng đồng chấp nhận, những

gì là cấm kị, bị dư luận nên án…

Văn hoá có tính hệ thống: với mỗi cá nhân văn hoá được hấp thụ ngay từ thời

khắc đầu tiên của cuộc sống con người và đeo bám họ suốt cuộc đời. Với xã hội văn

hoá được giữ gìn truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác…

Sự hội nhập văn hoá: Quá trình mỗi cá nhân tiếp thu các văn hoá khác để làm

phong phú thêm văn hoá của mình và cũng chính trong quá trình đó, khẳng định giá trị

văn hoá cốt lõi của họ được gọi là quá trình “hội nhập văn hoá ”

Sự biến đổi văn hoá: Sự biến đổi văn hoá chính là cách thức tồn tại của một nền

văn hoá trong sự biến đổi không ngừng của môi trường tự nhiên và xã hội. Quá trình

đó có thể do sự biến đổi nội tại hoặc sự biến đổi bắt nguồn từ bên ngoài.

Tất cả những đặc điểm đó của văn hoá ảnh hưởng rất lớn tới hành vi của người

tiêu dùng.

- Những nhân tố mang tính xã hội

+ Giai tầng xã hội

Giai tầng xã hội là các lớp người khác nhau do kết quả của sự phân chia tương

đối đồng nhất và ổn định trong mội xã hội, được sắp xếp theo thứ bậc, những thành

viên trong từng thứ bậc cùng chia xẻ những giá trị lợi ích và cách ứng xử giống nhau.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 20

+ Nhóm tham khảo (nhóm tiêu biểu).

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Nhóm tham khảo là những nhóm mà một cá nhân xem xét (như một sự tham

khảo) khi hình thành thái độ và quan điểm của người đó.

Nhóm tham khảo gồm:

Nhóm tham khảo đầu tiên (nhóm có ảnh hưởng trực tiếp – Philip Kotler) bao

gồm : gia đình, láng giềng, đồng nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ hay hành

vi của những thành viên trong nhóm.

Nhóm tham khảo thứ hai gồm những tổ chức mang tính chất hiệp hội như: tổ

chức tôn giáo, hiệp hội ngành nghề, công đoàn, đoàn thể, nhóm vui chơi giải trí. Các

nhóm này ra đời dựa trên từ sự tương hợp về tâm lý, nhu cầu, sở thích…vì vậy nên

hành vi của mỗi cá nhân luôn chịu ảnh hưởng của các thành viên khác trong nhóm

+ Vai trò địa vị của cá nhân

Cá nhân thể hiện vai trò của họ thông qua các hoạt động gây ảnh hưởng tới

những người xung quanh. Một vai trò của cá nhân sẽ ảnh hưởng tới quyết định mua

của họ. Mỗi vai trò có một địa vị nhất định phản ánh sự kính trọng của xã hội, phù hợp

với vai trò đó. Người tiêu dùng thường dành sự ưu tiên khi lựa chọn hàng hoá, dịch vụ

phản ánh vai trò và địa vị xã hội của họ, đặc biệt là những vai trò địa vị theo họ là

quan trọng nhất.

- Các nhân tố thuộc về bản thân

Các quyết định mua sắm hàng hoá của người tiêu dùng luôn chịu ảnh hưởng

lớn của những yếu tố thuộc về bản thân người ấy như: tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh

kinh tế, lối sống, nhân cách sống và những quan niệm về chính bản thân mình. Vì

không thể phủ nhận một điều hiển nhiên là họ mua hàng là nhằm thoả mãn nhu cầu cá

nhân

- Những nhân tố thuộc về tâm lý

Hành vi chọn mua hàng của con người chịu ảnh hưởng rất lớn của bốn yếu tố

cơ bản thuộc về tâm lý: động cơ, nhận thức, niềm tin và thái độ.

b) Thị trường các tổ chức và hành vi mua của các tổ chức

* Thị trường và hành vi mua của các doanh nghiệp sản xuất

- Đặc trưng của thị trường các doanh nghiệp sản xuất

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 21

+ Khái niệm thị trường của doanh nghiệp sản xuất:

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Thị trường các doanh nghiệp sản xuất bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức

mua sắm sản phẩm dịch vụ khác, để bán, cho thuê hay cung ứng cho những người

khác để kiếm lời.

+ Những đặc trưng cơ bản của thị trường các doanh nghiệp sản xuất:

Quy mô thị trường: Thị trường tư liệu sản xuất có quy mô, danh mục hàng hoá,

khối lượng tiền tệ chu chuyển lớn hơn nhiều thị trường hàng tiêu dùng bởi vì, để có

được những sản phẩm tiêu dùng cuối cùng, xã hội đã phải thực hiện cả một chuỗi

những giai đoạn sản xuất, phân phối và thực hiện một khối lượng giao dịch khổng lồ

để mua – bán vô số các chủng loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau.

Đặc tính của cầu: Cầu của thị trường hàng tư liệu sản xuất mang tính chất thứ

phát hay phái sinh, Cầu hàng tư liệu sản xuất co giãn rất thấp về giá, Cầu hàng tư liệu

sản xuất biến động mạnh với một mức độ lớn hơn nhiều so với cầu hàng tiêu dùng, Thị

trường các doanh nghiệp sản xuất có tính chất tập trung theo vùng địa lý.

Kết cấu thị trường: trên thị trường tư liệu sản xuất, người mua có số lượng ít,

song, khối lượng mua của một khách hàng thường rất lớn. Thậm chí có một số thị

trường, chỉ có một vài khách hàng, chi phối toàn bộ hoạt động mua và bán.

Những người mua sắm hàng tư liệu sản xuất: Hoạt động mua sắm hàng tư liệu

sản xuất thường có sự tham gia của nhiều thành viên và việc mua sắm có tính chất

chuyên nghiệp.

- Hành vi mua tư liệu sản xuất của các doanh nghiệp

Mô hình về hành vi mua hàng tư liệu sản xuất

Các dạng chính của việc mua sắm hàng tư liệu sản xuất:

 Mua hàng lặp lại không có sự thay đổi (mua theo thông lệ)

 Mua lặp lại có sự thay đổi

 Mua cho những yêu cầu, nhiệm vụ mới

Những người tham gia vào quá trình mua: Người sử dụng, người ảnh hưởng,

người quyết định, người mua

Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi mua hàng: Trong quá trình thông qua quyết định

mua, người mua tư liệu sản xuất chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: Môi trường, tổ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 22

chức, quan hệ giữa các cá nhân tham gia vào trung tâm mua, cá nhân người mua.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Các bước của tiến trình mua

 Nhận thức vấn đề

 Mô tả khái quát nhu cầu

 Đánh giá các đặc tính của TLSX

 Tìm kiếm các nhà cung ứng

 Yêu cầu chào hàng

 Lựa chọn nhà cung ứng

 Làm các thủ tục đặt hàng

 Xem xét hiệu quả các quyết định

* Thị trường và hành vi mua của các tổ chức thương mại

- Thị trường các tổ chức thương mại và các đặc tính cơ bản

Thị trường các tổ chức thương mại bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức mua

hàng hoá để bán lại hoặc cho thuê nhằm mục đích kiếm lời. Nói một cách cụ thể hơn

chính là những người bán buôn (bán sỉ) và bán lẻ các loại hàng và dịch vụ.

Thị trường người mua là các tổ chức thương mại có những đặc trưng cơ bản

sau: Đảm nhận khối lượng hàng hóa luân chuyển lớn, các tổ chức thương mại phân

tán hơn các doanh nghiệp sản xuất, nhưng tập trung hơn những người tiêu dùng cá

nhân, mục đích mua mà các tổ chức thương mại theo đuổi là bán lại để kiếm lời. Danh

mục và chủng loại hàng hoá họ mua sắm rất phong phú và đa dạng.

- Một số đặc trưng trong hành vi mua của các tổ chức thương mại

Với những mặt hàng thông thường, tổ chức thương mại căn cứ vào lượng hàng

tồn kho để thực hiện đơn đặt hàng tiếp theo.

Tổ chức thương mại luôn căn cứ vào sự biến động về doanh số và mức lời mà

họ đạt được làm căn cứ thoả thuận với người cung ứng về giá cả.

Ngoài yếu tố giá cả tổ chức thương mại còn lựa chọn một số tiêu chuẩn để ra

quyết định lựa chọn người cung cấp.

Xu thế phổ biến hiện nay, năng lực kinh doanh người bán hàng ngày càng được

hoàn thiện. Sản phẩm của nhiều người cung ứng đã đem nhãn hiệu của những tổ chức

thương mại, chịu sự chi phối của họ.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 23

* Thị trường và hành vi mua của các tổ chức Nhà nước.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Thị trường các tổ chức Nhà nước bao gồm những tổ chức của Chính phủ và các

cơ quan địa phương, mua hay thuê những mặt hàng cần thiết để thực hiện những chức

năng cơ bản theo sự phân công của chính quyền.

- Người tham gia vào tiến trình mua của các tổ chức Nhà nước

Người thực hiện việc mua là các cấp tổ chức Nhà nước từ Trung ương đến địa

phương đảm nhiệm các chức năng xã hội giao phó cho họ.

- Các quyết định mua của người mua là các tổ chức Nhà nước

Khi mua sắm hàng hoá và dịch vụ, mỗi tổ chức Nhà nước cần phải thông qua

hàng loạt các quyết định: mua các loại hàng hoá, dịch vụ nào? Trong mỗi loại số lượng

mua là bao nhiêu? Mua của nhà cung ứng nào? Chi phí mua sắm là bao nhiêu? Cần

yêu cầu dịch vụ nào sau khi mua sắm?

- Những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi của các tổ chức Nhà nước

Những nhân tố đó là: Môi trường, tổ chức, tương quan cá nhân, cá nhân những

người tham gia tiến trình mua.

Có hai phương thức mua mà các tổ chức Nhà nước thường áp dụng: đấu thầu

công khai và hợp đồng dựa vào thương lượng.

- Cách thực hiện quyết định mua của các tổ chức Nhà nước

1.1.2.3.2. Thị trường người bán

Người bán trên thị trường đối với doanh nghiệp chính là các nhà sản xuất –

cung ứng. Đó là các cá nhân hay tổ chức đảm bảo cung ứng các yếu tố cần thiết cho

Công ty và các đối thủ cạnh tranh để có thể sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhất định.

Bất kì một sự biến đổi nào từ phía người cung ứng đều làm ảnh hưởng tới hoạt

động của Công ty. Đối với ngành sản xuất nước uống tinh khiết của nước ta các nhà

cung ứng nguyên vật liệu chủ yếu là trong nước. Các nhà cung ứng trong nước còn ít và

chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu để sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao.

1.1.2.4. Các hoạt động phát triển thị trường nội địa

1.1.2.4.1. Lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường

a) Đo lường và dự báo cầu thị trường

* Những khái niệm chính trong đo lường và dự báo cầu

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 24

- Tổng cầu thị trường

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Định nghĩa tổng cầu thị trường

Tổng cầu thị trường về một loại sản phẩm là tổng khối lượng sản phẩm mà một

nhóm khách hàng nhất định sẽ mua tại một địa bàn nhất định, trong một thời gian nhất

định với môi trường Marketing nhất định và một chương trình Marketing nhất định.

Tiềm năng thị trường và dự báo thị trường

Tiềm năng thị trường là giới hạn tiệm cận của cầu thị trường khi chi phí

Marketing tiến tới vô hạn, trong một môi trường Marketing nhất định,

Dự báo cầu thị trường cho biết mức thị trường tương ứng với một mức chi phí

Marketing dự kiến của ngành trong một môi trường Marketing nhất định.

- Cầu của doanh nghiệp

Định nghĩa cầu của doanh nghiệp: Cầu của doanh nghiệp là phần cầu của thị

trường thuộc về doanh nghiệp.

Công thức tính :

Qi = Si.Q

Trong đó: Qi - Cầu của doanh nghiệp i

Si - Thị phần của doanh nghiệp i

Q - Tổng cầu thị trường

Tiềm năng tiêu thụ của doanh nghiệp và mức dự báo cầu của doanh nghiệp

Tiềm năng tiêu thụ của doanh nghiệp: là giới hạn tiệm cận của cầu doanh

Dự báo cầu của doanh nghiệp (hay dự báo mức tiêu thụ dự kiến): Dự báo

nhu cầu của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp dự báo mức tiêu thụ của mình căn

cứ vào kế hoạch Marketing đã chọn và môi trường Marketing được giả định.

* Ước tính cầu hiện tại

nghiệp khi nỗ lực Marketing tăng lên tương đối so với đối thủ cạnh tranh.

+ Ước tính tổng nhu cầu thị trường

Công thức:

Q = n.q.p

Trong đó:

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 25

Q - Tổng nhu cầu thị trường trong một năm

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

n - Số lượng người mua đối với một loại sản phẩm - thị trường nhất định với

những giả thiết nhất định

q – Số lượng sản phẩm trung bình một người mua trong năm

p – Giá trung bình của một đơn vị sản phẩm

+ Ước tính tổng nhu cầu thị trường khu vực

Có hai phương pháp chủ yếu để ước tính tổng nhu cầu thị trường khu vực:

Phương pháp xây dựng thị trường và phương pháp chỉ số đa yếu tố.

Phương pháp xây dựng thị trường: Đây là phương pháp được áp dụng chủ yếu

đối với các nhà cung cấp tư cấp sản xuất để dự báo tiềm năng thị trường của khu vực.

Phương pháp này đòi hỏi phải phát hiện được tất cả những người mua tiềm ẩn ở từng

khu vực thị trường và ước tính khả năng mua của họ.

Phương pháp chỉ số đa yếu tố: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở các

Công ty cung ứng hàng tiêu dùng. Theo phương pháp này, phải xác định được các yếu

tố có mối tương quan với tiềm năng thị trường khu vực và kết hợp chúng thành một

chương trình đa biến: mỗi biến kèm theo một trọng số thể hiện mức độ ảnh hưởng của

yếu tố (biến số) đó tới mức tiêu thụ của thị trường khu vực.

Ước tính được mức tiêu thụ thực tế của toàn ngành giúp cho công ty phát

hiện được đối thủ cạnh tranh và mức tiêu thụ của họ: và bằng cách so sánh mức tiêu

thụ của mình với toàn ngành, công ty có thể đánh giá được thực trạng kinh doanh

của mình và xu thế mà họ phải đối mặt trên thị trường.

* Ước tính cầu tương lai

+ Ước tính mức tiêu thụ ngành

Dự báo cầu trong tương lai phục vụ cho việc lập kế hoạch kinh doanh dài hạn,

tính lượng mức tiêu thụ cho thị trường mục tiêu

Dự báo trong Công ty thường sử dụng quy trình ba giai đoạn: dự báo vĩ mô, dự

báo mức tiêu thụ ngành và dự báo mức tiêu thụ của công ty

Dự báo vĩ mô được thực hiện dựa trên các dự đoán về tình trạng lạm phát, tình

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 26

trạng thất nghiệp, lãi suất, cán cân thanh toán, GDP…

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Dự báo mức tiêu thụ ngành: từ các số liệu vĩ mô sẽ được sử dụng cùng với các

dữ kiện gắn với môi trường ngành. Sau đó, công ty sẽ suy ra mức tiêu thụ của mình

dựa vào thị phần mục tiêu mà công ty theo đuổi.

Để dự báo được cầu tương lai các công ty có thể sử dụng các phương pháp:

Thăm dò ý định người mua: Bằng điều tra, phỏng vấn, xác định xác suất mua,

tình cảm và mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng, Công ty có thể đoán được mức tiêu

thụ của khách hàng trong tương lai.

Tổng hợp ý kiến của lực lượng bán hàng: Công ty có thể yêu cầu các đại diện bán

hàng ước tính xem những khách hàng hiện có và tương lai sẽ mua bao nhiêu sản phẩm

của Công ty theo từng chủng loại thuộc phạm vi phân phối của các đại diện bán hàng.

Các phương pháp khác

* Khái quát chung về lựa chọn thị trường mục tiêu

b) Lựa chọn thị trường mục tiêu

Lựa chọn thị trường mục tiêu là một trong những khâu quan trọng nhất và

không thể thiếu trong tiến trình hoạch định các kế hoạch hay chiến lược phát triển của

công ty vì những lý do sau:

Thị trường tổng thể luôn bao gồm một số lượng rất lớn khách hàng với rất

nhiều nhu cầu khác nhau, đặc tính mua hàng khác nhau. Sẽ không có một doanh

nghiệp cá biệt nào có khả năng đáp ứng được

Các công ty phải đối đầu với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Mỗi

doanh nghiệp thường chỉ có một hoặc vài thế mạnh trong việc thoả mãn nhu cầu và

ước muốn của thị trường

Vì vậy để kinh doanh có hiệu quả công ty phải tìm cho mình những đoạn thị

trường mà ở đó họ có khả năng đáp ứng nhu cầu và ước muốn của khách hàng hơn hẳn

các đối thủ cạnh tranh. Những đoạn thị trường đó chính là thị trường mục tiêu.

* Phân đoạn thị trường

- Khái niệm:

Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành các nhóm

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 27

trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, ước muốn và các đặc tính hay hành vi.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Đoạn thị trường là một nhóm người tiêu dùng có đòi hỏi (phản ứng) như nhau

đối với cùng một tập hợp kích thích Marketing

- Yêu cầu của phân đoạn thị trường

Một đoạn thị trường có hiệu quả là một nhóm các khách hàng mà doanh nghiệp

có khả năng đáp ứng được nhu cầu và ước muốn của họ, đồng thời có số lượng đủ lớn

để tạo ra dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi cho những nỗ lực của công ty.

- Các cơ sở để phân đoạn thị trường

+ Phân đoạn thị trường theo cơ sở địa lý

Khi phân đoạn thị trường theo cơ sở địa lý, thị trường tổng thể sẽ được chia cắt

theo địa dư, vùng khí hậu… Các đoạn thị trường đặc trưng tương ứng với các tiêu thức

thuộc cơ sở này là: thị trường quốc gia, vùng, miền, tỉnh, …

+ Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học

Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học là phân chia khách hàng thành các

nhóm căn cứ vào: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, quy mô gia đình,

tình trạng hôn nhân…

+ Phân đoạn thị trường theo tâm lý học

Phân đoạn thị trường theo tiêu chí cơ sở này là chia thị trường thành các nhóm

khách hàng căn cứ vào vị trí xã hội, lối sống và nhân cách của họ.

+ Phân đoạn theo hành vi

Theo hành vi thị trường người tiêu dùng sẽ được phân chia thành các nhóm

đông nhất về các đặc tính như: lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, sự trung thành, số

lượng và tỷ lệ sử dụng …

* Lựa chọn thị trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu là một hoặc vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn

và quyết định tập trung nỗ lực Marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh

của mình. Để lựa chọn đúng thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải quyết định sẽ lựa

chọn loại khách hàng nào (đoạn thị trường nào) và có bao nhiêu loại khách hàng được

lựa chọn.

Để xác định được các đoạn thị trường phù hợp cần thực hiện hai nhóm công

việc sau:

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 28

- Đánh giá các đoạn thị trường

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Mục đích là nhận dạng được mức độ hấp dẫn của chúng trong việc thực hiện

mục tiêu của công ty.

Khi đánh giá các đoạn thị trường người ta dựa vào ba tiêu chuẩn sau:

+ Quy mô và mức tăng trưởng của đoạn thị trường

Một đoạn thị trường được coi là có hiệu quả nếu nó có đủ tầm cỡ để bù đắp lại

những nỗ lực marketing không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai của công ty. Vì

vậy, việc xác định đúng đắn quy mô và khả năng tăng trưởng luôn được coi là vấn đề

đầu tiên khi lựa chọn thị trường mục tiêu.

+ Mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường

Ngành sản xuất Nước uống tinh khiết ở thị trường nội địa hiện nay có rất nhiều

công ty hoạt động sản xuất - kinh doanh. Mỗi công ty trong đó không phải là người

bán duy nhất trên thị trường, họ thường xuyên phải đối phó với các áp lực cạnh tranh

và sự đòi hỏi của khách hàng. Một đoạn thị trường không hấp dẫn nếu mức độ cạnh

tranh trong đoạn đó quá gay gắt.

Maichael Porter đã đưa ra năm lực lượng cạnh tranh chính quyết định mức độ

hấp dẫn nội tại về khả năng sinh lời của một đoạn thị trường.

Đe doạ từ sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh

Sức ép từ phía khách hàng

Sức ép từ phía nhà cung cấp

Cạnh tranh giữa các hãng trong ngành

Đe doạ của hàng thay thế

(Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản)

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 29

Hình 1.1: Mô hình năm năng lực lượng cạnh tranh

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

+ Mối đe doạ của cạnh tranh trong ngành

Một đoạn thị trường sẽ không được coi là hấp dẫn nếu có quá nhiều đối thủ cạnh

tranh trong ngành cùng hoạt động. Mối đe doạ của cạnh tranh trong ngành gồm có:

 Mối đe doạ của đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Một đoạn thị trường sẽ kém hấp dẫn nếu tiềm ẩn cơ hội thu lợi nhuận cao, có

sức hút mạnh những doanh nghiệp ngoài ngành nhập cuộc. Sự xuất hiện của họ sẽ đem

vào thị trường khả năng cung ứng mới, làm gia tăng áp lực cạnh tranh và áp lực phân

chia thị phần. Vì vậy, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp hiện có giảm mạnh.

Khả năng gia nhập của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào rào cản của sự gia nhập vào

một đoạn thị trường như là: khả năng chống trả của các doanh nghiệp hiện có trong

ngành, mức độ trung thành của khách hàng với những nhãn hiệu hiện có, tính khác biệt

của sản phẩm, đòi chi phí đầu tư cơ bản và sự hấp dẫn về lợi nhuận mà đoạn thị trường

hứa hẹn.

 Đe dọa của các sản phẩm thay thế

Một đoạn thị trường sẽ không hấp dẫn nếu có nhiều sản phẩm thay thế thực

hiện hoặc tiềm ẩn. Khả năng thay thế của sản phẩm càng cao, giá cả và lợi nhuận có xu

hướng giảm xuống

 Đe dọa về quyền thương lượng của khách hàng

Một đoạn thị trường mà quyền lực thị trường của khách hàng lớn, thì đoạn thị

trường đó được coi là kem hấp dẫn. Khi khách hàng có quyền lực thị trường cao họ sẽ

ép giá ở mức thấp, đòi hỏi chất lượng hàng hoá cao hơn, số lượng dịch vụ nhiều hơn…

khiến chi phí cho hoạt động kinh doanh nhiều hơn, khả năng sinh lời thấp và giảm dần.

 Các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp

Một đoạn thị trường hấp dẫn có thể bị loại bỏ do chúng không ăn khớp với mục

tiêu lâu dài và khả năng của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp cứ cố gắng theo đuổi

sức hấp dẫn của đoạn thị trường vượt quá khả năng và mục tiêu của họ thì nguồn lực

của doanh nghiệp sẽ bị phân tán, không tập trung cho các mục tiêu chiến lược.

- Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 30

hoặc mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời các hoạt động

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

marketing của doanh nghiệp có thể tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và đạt được

các mục tiêu kinh doanh đã định. Thị trường mục tiêu chính là những đoạn thị trường

hấp dẫn mà doanh nghiệp quyết định lựa chọn để tập trung nỗ lực marketing của mình.

1.1.2.4.2. Định vị thị trường

a) Khái niệm

Định vị thị trường là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm

chiếm được một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu.

Định vị thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quyết định khuyếch trương

bao nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào dành cho khách hàng mục tiêu.

b) Các hoạt động trọng tâm của chiến lược định vị

 Tạo ra một hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, nhãn hiệu trong tâm trí khách

hàng ở thị trường mục tiêu

Hình ảnh trong tâm trí của khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá

của khách hàng về doanh nghiệp và các sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng. Nó là

một tập hợp các ấn tượng, cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và

nhãn hiệu đó.

 Lựa chọn vị thế của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu

Hình ảnh khắc hoạ trong tâm trí khách hàng không chỉ do bản thân sản phẩm và

hoạt động Marketing của doanh nghiệp tạo dựng mà còn do tương quan so sánh với

các sản phẩm cạnh tranh. Vì vậy, công việc của một chiến lược định vị không chỉ dừng

lại ở việc tạo dựng được một hình ảnh mà còn phải lựa chọn hình ảnh có vị thế trên thị

trường mục tiêu.

 Tạo được sự khác biệt cho sản phẩm, nhãn hiệu

Tạo ra sự khác biệt hay dị biệt cho sản phẩm là thiết kế một loạt những điểm

khác biệt có ý nghĩa để khách hàng có thể phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với

sản phẩm cạnh tranh.

 Lựa chọn và khuyếch trương những điểm khác biệt có ý nghĩa

Những điểm khác biệt được lựa chọn, được khuyếch trương phải gắn với lợi ích

mà khách hàng mong đợi sản phẩm và hoạt động cung ứng của doanh nghiệp…

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 31

c) Các bước của tiến trình định vị

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

 Bước 1: Tiến hành phân đoạn thị trường, lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu

theo đúng yêu cầu của marketing

 Bước 2: Đánh giá thực trạng của những định vị hiện có trên thị trường mục tiêu

 Bước 3: Chọn hình ảnh và vị thế cho nhãn hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp

trên bản đồ định vị.

 Bước 4: Soạn thảo chương trình marketing mix để thực hiện chiến lược định

vị đã chọn.

1.1.2.4.3. Các hoạt động phân phối sản phẩm

a) Bản chất và tầm quan trọng của các kênh phân phối

 Khái niệm

Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập và phụ

thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất tới người tiêu

dùng.

Trung gian thương mại nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng

là thành viên quan trọng trong nhiều kênh phân phối. Một số loại trung gian thương mại:

Nhà bán buôn: Là những trung gian bán hàng hoá và dịch vụ cho các trung gian

khác, cho nhà bán lẻ hoặc những nhà sử dụng công nghiệp.

Nhà bán lẻ: Là những người trung gian bán hàng hoá và dịch vụ trực tiếp cho

người tiêu dùng cuối cùng

Đại lý và môi giới: Là những nhà trung gian có quyền hành động hợp pháp thay

mặt cho nhà sản xuất.

 Vai trò của trung gian thương mại – thành viên kênh

Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất đến

người tiêu dùng. Vai trò chính của các trung gian thương mại là làm cho cung và cầu

phù hợp một cách trật tự và hiệu quả. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục

được những khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với

những người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ.

 Chức năng của các thành viên của kênh phân phối

Nghiên cứu thị trường: Nhằm thu thập thông tin cần thiết để lập chiến lược

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 32

phân phối

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Xúc tiến khuyếch trương cho những sản phẩm họ bán: Soạn thảo và truyền bá

những thông tin về hàng hoá.

Thương lượng: Để thoả thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh.

Thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác.

Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá.

Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người

mua tiềm năng.

Hoàn thiện hàng hoá: Làm cho hàng hoá đáp ứng được những yêu cầu của

người mua, nghĩa là thực hiện một phần công viêc của nhà sản xuất.

Tài trợ: Cơ chế tài chính trợ giúp cho các thành viên kênh trong thanh toán.

San sẻ rủi ro: Những rủi ro liên quan đến quá trình phân phối.

b) Cấu trúc và tổ chức kênh phân phối

 Cấu trúc kênh phân phối

Cấu trúc kênh phân phối được xác định qua chiều dài và bề rộng của kênh phân

phối

- Chiều dài của kênh phân phối: Chiều dài của kênh phân phối được xác định

bằng số cấp độ trung gian có mặt trong kênh. Dưới đây là các kênh phân phối được

cấu trúc theo chiều dài

Các kênh phân phối cho hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cá nhân:

+ Kênh A là kênh trực tiếp: Nhà SX  Người TD

+ Kênh B là kênh 1 cấp: Nhà SX  Nhà bán lẻ  Người TD

+ Kênh C là kênh 2 cấp: Nhà SX  Nhà bán buôn  Nhà bán lẻ  Người TD

+ Kênh D là kênh 3 cấp: Nhà SX  Đại lý  Nhà bán buôn  Nhà bán lẻ

 Người tiêu dùng

Các kênh phân phối cho hàng hoá và dịch vụ công nghiệp:

+ Kênh A là kênh trưc tiếp: Nhà SX  Người SDCN

+ Kênh B: Nhà SX  Người PPCN  Người SDCN

+ Kênh C: Nhà SX  Đại lý  Người SDCN

+ Kênh D: Nhà SX  Đại lý  Người PPCN  Người SDCN

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 33

- Bề rộng của kênh phân phối

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Để đạt được sự bao phủ thị trường tốt nhất, doanh nghiệp phải quyết định số

lượng các trung gian thương mại ở mỗi cấp độ phân phối. Có 3 phương thức phân

phối: Phân phối rộng rãi, phân phối chọn lọc, phân phối duy nhất (đặc quyền)

+ Phân phối rộng rãi là doanh nghiệp bán sản phẩm qua nhiều trung gian

thương mại ở mỗi cấp độ phân phối.

+ Phân phối duy nhất là phương thức ngược với phân phối rộng rãi, trên một

khu vực doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm qua trung gian thương mại duy nhất.

+ Phân phối chọn lọc nằm giữa phân phối rộng rãi và phân phối duy nhất nghĩa

là doanh nghiệp bán sản phẩm qua một số trung gian thương mại được chọn lọc theo

những tiêu chuẩn nhất định ở mỗi cấp độ phân phối.

 Tổ chức và hoạt động của kênh

Một kênh phân phối là sự liên kết các doanh nghiệp sản xuất và thương mại

khác nhau vì lợi ích chung. Mỗi thành viên trong kênh đều dựa vào các thành viên

khác của kênh và thành công của họ gắn liền với thành công của các thành viên kênh

khác. Mỗi thành viên giữ một vai trò riêng và chuyên thực hiện một hoặc một số chức

năng. Kênh sẽ hiệu quả nhất khi từng thành viên được giao những nhiệm vụ họ có thể

làm tốt nhất.

1.1.2.4.4. Các hoạt động xúc tiến hỗn hợp

a) Khái quát về xúc tiến hỗn hợp

Bản chất của xúc tiến hỗn hợp chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp

tới khách hàng để thuyết phục họ mua.

Một số dạng chủ yếu thường được công ty sử dụng trong các chiến lược xúc

tiến hỗn hợp là:

Quảng cáo: Bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao

những ý tưởng, hàng hoá và dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng

cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí.

Xúc tiến bán hàng (khuyến mại): Là những biện pháp tác động tức thời ngắn

hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm hay dịch vụ.

Tuyên truyền (quan hệ với công chúng): Là việc kích thích một cách gián tiếp

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 34

nhằm tăng nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ hay tăng uy tín của một đơn vị kinh doanh

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các

phương tiện thông tin đại chúng và miễn phí.

Bán hàng cá nhân: Là sự giới thiệu bằng miệng về hàng hoá và dịch vụ của

người bán hàng qua cuộc đối thoại với một hoặc nhiều khách hàng tiềm năng nhằm

mục đích bán hàng.

Marketing trực tiếp: Là việc sử dụng một hoặc nhiều công cụ truyền thông

Marketing để ảnh hưởng đến quyết định mua trực tiếp của khách hàng và tạo nên các

giao dịch kinh doanh ở mọi địa điểm.

Mỗi loại trên lại bao gồm một tập hợp các công cụ chuyên biệt để thực hiện

truyền thông Marketing thích hợp trong những thị trường cụ thể đối với những hàng

hoá cụ thể.

b) Các công cụ xúc tiến hỗn hợp

Những công cụ xúc tiến hỗn hợp chủ yếu là:

 Quảng cáo gồm các công cụ: Báo chí và truyền thanh, truyền hình,bao bì

bên ngoài, phim ảnh, sách mỏng và tờ gấp, áp phích và tờ rơi, sách niên giám, pano,

bảng hiệu, trưng bày tại cửa hàng, tư liệu nghe nhìn, biểu tượng và logo.

 Khuyến mại gồm các công cụ: Thi trò chơi, sổ xố, thưởng, quà tặng. mẫu

chào hàng, hội chợ và triển lãm thương mại, trưng bày, trình diễn, phiếu thưởng, giảm

giá, tài trợ lãi suất thấp, tiếp khách, phiếu mua hàng, bán kèm có giảm giá.

 Quan hệ công chúng gồm có các công cụ: Họp báo, nói chuyện, hội thảo,

đóng góp từ thiện, bảo trợ, tuyên truyền, quan hệ với cộng đồng, vận động hành lang,

tạp chí của doanh nghiệp, tổ chức các sự kiện.

 Bán hàng cá nhân gồm các công cụ: Trình diễn bán hàng, hội nghị bán hàng,

chương trình khen thưởng, mẫu chào hàng, hội chợ và triển lãm thương mại.

 Marketing trực tiếp gồm các công cụ: Catalog, thư, marketing qua điện

thoại, mua bán qua máy tính, mua bán qua vô tuyến truyền hình.

1.2. Các tiêu chí đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp

1.2.1 Khả năng mở rộng và duy trì thị phần

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 35

Khả năng mở rộng và duy trì thị phần của doanh nghiệp là tiêu chí quan trọng

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

nhất đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Nó cho thấy vị thế của

doanh nghiệp trên thị trường. Những doanh nghiệp có năng lực vượt trội sẽ giành được

thị phần lớn thậm chí là toàn bộ thị trường; còn những doanh nghiệp không có lợi thế

hoặc mới gia nhập ngành chỉ có thị phần nhỏ.

1.2.2. Tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Kết quả sản xuất kinh doanh là một tiêu chí tổng hợp phản ánh khả năng chiếm

lĩnh thị trường của doanh nghiệp.Nó thể hiện qua giá trị mà DN thu được khi tiêu thụ

sản phẩm…

1.2.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp thể hiện khả năng làm

vừa lòng khách hàng, tạo được sự tín nhiệm của khách hàng. Các doanh nghiệp có

năng lực cao thì thương hiệu của họ sẽ được biết đến trên thị trường, còn những doanh

nghiệp năng lực yếu hơn nhập ngành sẽ rất vất vả trong việc tạo dựng uy tín. Khả năng

đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các yếu tố

sau:

- Chất lượng sản phẩm

Doanh nghiệp muốn giành được sự tin tưởng của khách hàng thì không thể

không chú ý đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng phải xứng đáng với số tiền mà

người tiêu dùng bỏ ra. Doanh nghiệp sản xuất hàng kém chất lượng, hoặc chất lượng

sản phẩm không đúng với những gì quảng cáo và cam kết sớm muộn cũng bị đào thải.

- Giá cả sản phẩm

Bên cạnh chất lượng, giá cả cũng là yếu tố rất quan trọng thu hút người mua.

Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp luôn phải cố gắng căt giảm chi phí để có

được giá bán thấp. Doanh nghiệp thậm chí có thể bán phá giá, bán với giá thấp hơn cả

chi phí sản xuất để triệt hạ đối thủ.

- Chất lượng phục vụ

Bên cạnh giá cả và chất lượng sản phẩm, thì cách thức phục vụ cũng là yếu tố

qua trọng đem lại sự thoải mái cho người mua. Chất lượng phục vụ thể hiện ở một số

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 36

khía cạnh:

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Thời gian thực hiện hợp đồng: Doanh nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ hợp đồng.

Hàng hóa phải được cung cấp đúng hạn, không kéo dài gây thiệt hại cho khách hàng.

Mạng lưới phân phối: doanh nghiệp càng có có nhiều địa điểm bày bán sản

phẩm thì người tiêu dùng càng cảm thấy thoải mái trong việc lựa chọn, đánh giá hàng

hóa.

Các dịch vụ hậu mãi như lắp đặt, bảo hành, bảo dưỡng… giúp cho người mua

yên tâm sử dụng sản phẩm.

1.3. Sự cần thiết phải phát triển thị trường nội địa của các doanh nghiệp

ngành da giầy Việt Nam

Phát triển thị trường nội địa là một giải pháp chiến lược hàng đầu hướng vào

mục tiêu phát triển bền vững có tác động nhiều mặt đến thúc đẩy sản xuất kinh doanh,

đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn dân. Thị trường nội địa được đánh giá có nhiều

tiềm năng là cơ sở cho nhiều doanh nghiệp tiếp tục đứng vững và phát triển do có quy

mô hơn 86 triệu dân, sức tiêu thụ hàng hóa lớn. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội

giai đoạn 2011 - 2020 có định hướng cần phải “Mở rộng thị trường nội địa, phát triển

mạnh thương mại trong nước; đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu

quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do và thị trường tiềm năng...”.

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giầy Việt Nam đến năm 2020,

tầm nhìn 2025 thì: “Ngành da giầy Việt Nam cần định hướng phát triển theo cả 2

hướng là làm hàng xuất khẩu và làm hàng nội địa thông qua làm chủ công nghệ và

thiết kế để phát triển đủ chuỗi giá trị gia tăng” và “Việc phát triển thị trường nội địa

cũng là giải pháp tốt nhất cho các doanh nghiệp. Khi quay về chiếm lĩnh được thị

trường nội địa, xây dựng thương hiệu, phát triển các sản phẩm da giầy cao cấp…

ngành da giầy sẽ giảm dần được tỷ lệ gia công hàng, xây dựng được thương hiệu với

thị trường quốc tế và xuất khẩu ở phân khúc thị trường cao hơn, có giá trị kinh tế hơn”.

1.3.1. Giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp

Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị

trường quốc tế hiện nay về sản phẩm da giầy (xếp thứ 4 về xuất khẩu sản phẩm giầy

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 37

dép), riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam

tăng giảm thất thường vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: môi trường kinh tế của các

nước nhập khẩu (nếu kinh tế tăng trưởng cao thì lượng cầu sẽ tăng và giữ mức ổn định

và nếu kinh tế suy giảm lượng cầu nhập khẩu chắc chắn sụt giảm theo), môi trường

chính trị- pháp luật (chế độ chính sách thuế như thế nào, chính trị ổn định hay không).

Việt Nam là một nước rất là mở về mặt thương mại, có nghĩa là hiện nay, xuất

khẩu của Việt Nam chiếm đến khoảng từ 65 đến 68% GDP và nhập khẩu trên dưới

80% GDP, tức là cộng lại, xuất nhập của Việt Nam chiếm 160 % GDP. Xuất khẩu

cũng tạo công ăn việc làm cho Việt Nam. Tác động đến xuất khẩu của Việt Nam là

qua nhiều mặt. Một là số lượng đơn đặt hàng da giầy. Sức mua và nguồn nhập khẩu

trên thị trường thế giới nay bị hạn chế rất nhiều. Bức tranh khủng hoảng kinh tế toàn

cầu bi đát trong năm 2009, khiến cho nhu cầu đã làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu

giày dép ở Việt Nam phải “ lao đao”. Lượng cầu xuất khẩu giầy dép giảm mạnh. Hiệp

hội Da giầy Việt Nam đã phải tính đến phương án hỗ trợ, liên kết nhau, doanh nghiệp

này giúp doanh nghiệp kia giải bài toán chống thất nghiệp cho công nhân dù năng lực

sản xuất của nhiều doanh nghiệp đã sụt giảm 50% so với trước.

Hiệp hội đề nghị, thông qua hình thức doanh nghiệp nào có được đơn hàng lớn

thì các doanh nghiệp dồn tổng lực, nhân công cho doanh nghiệp đó rút ngắn thời gian

giao hàng để đi tìm các hợp đồng mới về và tiếp tục cùng nhau chia sẻ. Thị trường thế

giới bị thu hẹp một cách đáng kể vì vậy việc chuyển hướng sang thị trường trong nước

là một hướng đi mà doanh nghiệp trước đây chuyên xuất khẩu phải tính đến.

Bên cạnh đó, từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 Liên minh Châu Âu đưa ngành da

giầy Việt Nam ra khỏi diện được hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) giai

đoạn 2009 - 2011. Các Đại sứ, trưởng Đại diện phái đoàn các nước thành viên EU tại

Uỷ ban châu Âu đã bỏ phiếu thông qua việc không tiếp tục dành Quy chế ưu đãi thuế

quan phổ cập (GSP) giai đoạn 2009 – 2011 cho hàng hoá thuộc mục XII của Việt Nam

xuất khẩu vào EU (chủ yếu là các mặt hàng giầy dép, túi xách, ô dù…) sau khi đã cho

Việt Nam hưởng Quy chế này trong giai đoạn 2006 - 2008. Quyết định trên làm cho

sản phẩm ngành da giầy Việt Nam phải gánh chịu mức thuế cao hơn khi tiêu thụ tại thị

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 38

trường EU. Theo Hiệp hội Da giầy Việt Nam, ngành da giầy là ngành công nghiệp

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

quan trọng của Việt Nam, chính sách ưu đãi thuế quan GSP đã đóng góp lớn vào sự

tồn tại và phát triển của Ngành trong những năm qua. Việc bãi bỏ GSP sẽ tác động đến

các doanh nghiệp thuộc Ngành và tốc độ phát triển Ngành..

Với tình trạng này, có thể sẽ có một số đối tác nước ngoài di dời đơn hàng sang

một số nước khác trong khu vực để tranh thủ lợi thế về GSP. Điều này làm cho các

doanh nghiệp nhỏ sẽ giảm đơn hàng do khách hàng di dời đơn hàng sang các nước

được hưởng GSP như Indonesia, Bangladesh...

Ngoài ra, mặc dù thuế chống bán phá giá vào thị trường EU đối với giày mũ da

của Việt Nam đã chính thức chấm dứt vào ngày 31/3/2011, nhưng Uỷ ban châu Âu

vẫn tiếp tục giám sát mặt hàng này thêm một năm nữa để sẵn sàng áp dụng biện pháp

phòng vệ khẩn cấp... cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng

này.

Với các khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu đối với các

doanh nghiệp trong ngành da giầy vốn chỉ xuất khẩu muốn tồn tại thì cần có chiến

lược kinh doanh thay đổi đó là hướng về thị trường nội địa - một thị trường tiềm năng

nhưng vẫn bị “bỏ ngỏ”.

1.3.2. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường nội địa

Các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm da giầy cần nắm bắt được thị

hiếu người tiêu dùng để phân đoạn thị trường và xác định mục tiêu thị trường hướng

tới.

Người tiêu dùng nội địa cần những sản phẩm da giầy không những có hình thức

phong phú mà còn phải có chất lượng tốt. Thị trường nội địa vốn dĩ bị chiếm lĩnh bởi

sản phẩm nhập khẩu trong đó chủ yếu là sản phẩm nhập từ Trung Quốc. Những sản

phẩm từ Trung Quốc này có giá thành rẻ, mẫu mã bắt mắt nhưng chất lượng thì không

được đảm bảo. Người tiêu dùng, khi được hỏi, đều chỉ trả lời là họ quan tâm đến mẫu

mã và giá cả. Chất lượng, nếu có ai để ý đến, cũng chỉ là độ bền của sản phẩm và chất

liệu mà họ “cảm thấy mềm mại, giầy dép đi nhẹ và không đau chân là được”. “Chắc là

chẳng ai đi mua giầy dép, túi xách mà lại tìm hiểu xem sản phẩm này có chất gì độc

hại cho sức khỏe không, mà cái chính là chọn được dáng giày, dáng túi đẹp và hợp túi

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 39

tiền”. Trước đây khi đời sống khó khăn và trình độ nhận thức chưa cao thì người dân

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

đa phần chọn lựa những loại mặt hàng này. Tuy nhiên khi mức sống, trình độ dân trí

được nâng lên một cách rõ rệt thì người dân sẵn sàng bỏ thêm một lượng tiền không

quá lớn để có thể sở hữu một sản phẩm có chất lượng tốt, có lợi cho sức khoẻ và có độ

bền cao. Hiện nay có một nghịch lý là “giày dép Việt Nam tốt, có thể xuất khẩu sang

nhiều nước trên thế giới, tại sao người Việt lại cứ có xu hướng chọn giày dép Trung

Quốc…chất lượng không cao, không biết số tiền bỏ ra có xứng đáng với chất lượng

không?” Có rất nhiều sản phẩm giầy dép Trung Quốc khi sử dụng gây tác hại khó

lường cho người sử dụng. Ngay cả những loại giầy cao cấp của Trung Quốc có mặt

trên các thị trường lớn như Pháp, Ý cũng không đảm bảo chất lượng, an toàn cho

người sử dụng, thậm chí còn chứa các hóa chất độc hại gây ung thư.

Ngoài ra kinh tế trong nước đang trong tình trạng khó khăn, lạm phát tăng cao

nên từ Chính phủ đến người tiêu dùng đều ủng hộ việc các doanh nghiệp xuất khẩu nói

chung và doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép nói riêng quay về thị trường nội địa nhằm

duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc làm cho người lao động. Chính phủ đã có

chủ trương kích cầu nội địa, cùng với các Bộ ngành trong cả nước Bộ công thương

cũng đang thực hiện cuộc vận động hưởng ứng “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng

Việt Nam” những yếu tố đó tạo nên môi trường tâm lí xã hội thuận lợi: tự hào và mong

muốn sử dụng hàng Việt nhằm giúp đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn.

1.4. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á và một số doanh nghiệp Việt

Nam trong việc phát triển thị trường nội địa

1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á

Biện pháp quan trọng nhất là kích thích tiêu dùng nội địa. Sau khủng hoảng,

chính phủ một số nước Đông Á vẫn chủ yếu đi theo những biện pháp kích cầu truyền

thống nhằm kích thích tiêu dùng và sản xuất trong nước như: nới lỏng chính sách tiền

tệ, giảm lãi suất, trợ cấp cho người tiêu dùng, tăng chi tiêu chính phủ cho các nhu cầu

công cộng. Chính phủ Hàn Quốc đã bơm hàng trăm tỷ USD vào nền kinh tế, hỗ trợ sản

xuất để các công ty chuyển hướng chiến lược sản phẩm. Chính phủ Thái Lan đã đặt

nhiệm vụ kích thích tiêu dùng làm trọng tâm của chính sách kinh tế bằng cách loại bỏ

hầu hết các rào cản hạn chế tiêu dùng. Ví dụ: Chính phủ Thái đã loại bỏ quy định về

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 40

việc các ngân hàng khi cho vay phải đặt điều kiện tiền lương tối thiểu đối với người

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

vay. Việc giảm các loại thuế cũng là một biện pháp mang lại hiệu quả tích cực. Còn ở

Inđônêxia, chính phủ lại sử dụng một biện pháp trái ngược là quy định nâng mức

lương tối thiểu đối với người làm việc trong khu vực công ty lên 10% so với trước đây

và cũng đem lại hiệu quả tương ứng.

Sự gia tăng chi tiêu ngân sách của chính phủ cũng là một yếu tố góp phần tạo

nên sự tăng cầu nội địa. Chính sách kích thích chi tiêu trọn gói đã được chính phủ Hàn

Quốc, Malaixia và Thái Lan áp dụng nhằm kích thích cầu trong nước. Các chính sách

kích thích chi tiêu ngân sách chủ yếu được sử dụng ở những vùng nông thôn và những

vùng bị tác động nặng nề nhất của khủng hoảng, và chủ yếu bao gồm các dự án đầu tư

công cộng sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Chính sách đầu tư

nhằm vào việc tuyển dụng công nhân không lành nghề và thúc đẩy công ăn việc làm

trong những ngành vốn đang dư thừa năng lực sản xuất. Các biện pháp kích thích tiêu

dùng ở khu vực thành thị cũng được mở rộng như trợ cấp thu nhập, tạo việc làm, thực

hiện chính sách bảo trợ xã hội, tăng lương cho khu vực công ty, cung cấp các dịch vụ

đào tạo và tái tuyển dụng.

Trong số những nước áp dụng những biện pháp kích cầu trong nước, Hàn Quốc,

Thái Lan và Malaixia tỏ ra kích cầu hiệu quả nhất. Tại Malaixia, nhu cầu tiêu dùng nội

địa năm 2010 đã tăng 8% so với năm trước. Tại Thái Lan, mức tiêu thụ các mặt hàng

tiêu dùng tăng gấp 3 lần so với thời gian xảy ra khủng hoảng. Sự gia tăng mạnh mẽ

tiêu dùng nội địa trước hết là do nền kinh tế của các nước này đã bắt đầu tăng trưởng

trở lại, nhưng quan trọng hơn là do chính sách kích cầu hiệu quả từ phía chính phủ,

đặc biệt là kích cầu trong khu vực nông thôn và dân nghèo thành thị.

Biện pháp thứ hai là chính phủ điều chỉnh cơ cấu sản xuất trong nước bởi hầu

hết chính phủ các nước Đông Á đều cho rằng nguyên nhân chính dẫn tới sự thu hẹp thị

trường nội địa là do lỗi của mô hình kinh tế cũ chứ không phải bắt nguồn từ sự sa sút

nhu cầu trong nước và thế giới. Bởi trong giai đoạn vừa qua, hầu hết các nước Đông Á

đều tập trung đầu tư vào các ngành hướng mạnh về xuất khẩu, đặc biệt là những ngành

xuất khẩu sử dụng nhiều vốn và lao động. Kết quả là đã dẫn đến một cơ cấu ngành

hàng sản xuất tương đồng giữa các nước, cả về giá cả, cơ cấu chất lượng, do vậy dẫn

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 41

đến sự ế thừa hàng hóa tràn lan ở cả thị trường trong nước và thị trường thế giới. Xu

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

hướng đầu tư vào một số mặt hàng xuất khẩu nhất định cũng đã dẫn đến sự tập trung

thu nhập vào những địa phương có sức hút đầu tư cao, do vậy dẫn đến sự dư thừa lao

động và cơ hội thu nhập không được mở rộng ở những vùng địa phương kém sức hút

đầu tư. Sự mất cân đối về cơ cấu ngành đã dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập và đầu

tư giữa các vùng và cũng là một trong những nguyên nhân khiến cầu trong nước bị thu

hẹp.

1.4.2. Kinh nghiệm phát triển thị trường nội địa của một số doanh nghiệp

trong Ngành

Một số doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép đã có nhưng chiến lược chiếm được

thị trường nội địa, sản phẩm của họ không những có mặt trên thị trường xuất khẩu mà

còn được nhiều người tiêu dùng trong nước biết đến như Công ty TNHH Nhà nước

một thành viên giầy Thượng Đình (với sản phẩm giầy dép Thượng Đình), Công ty Cổ

phần giày Việt-Vina Giày (với sản phẩm giầy dép, mang thương hiệu Vina Giày).

Những doanh nghiệp này đã cạnh tranh được với giày dép nước ngoài ngay trên "sân

nhà" như Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (với sản phẩm dép xốp, sandan).

Vì vậy những doanh nghiệp trước kia chỉ chú trọng xuất khẩu cần học hỏi kinh

nghiệm chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp này. Dưới đây là một số

thành tựu, chiến lược cũng như kinh nghiệm mà các doanh nghiệp trên đã thực hiện.

1.4.2.1. Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình

Được thành lập năm 1957, tiền thân là xưởng X30 thuộc Cục quân nhu – Tổng

cục hậu cần – Quân đội nhân dân Việt Nam. Với gần 200 có nhiệm vụ sản xuất mũ

cứng, dép cao su phục vụ cho quân đội, công nghệ chủ yếu là thủ công và bán cơ khí.

Đến nay, công ty đã hoạt động trên 40 năm trong lĩnh vực sản xuất giày dép, số

CBCNV hiên nay khoảng hơn 2000 người, và có 7 dây chuyền sản xuất giày dép hiện

đại. Với sản phẩm giày dép Thượng Đình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

đã tương đối thành công trên cả thị trường xuất khẩu cũng như thị trường nội địa.

Công ty giày Thượng Đình với phương thức xuất khẩu trực tiếp và khai thác thị

trường nội địa Công ty luôn có sự ổn định về nhịp độ sản xuất, chất lượng sản phẩm và

hiệu quả kinh doanh ngày càng được nâng cao. Công ty không liên doanh với nước

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 42

ngoài và cũng không nhận máy về làm gia công mà tiếp cận các Công ty nước ngoài

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

để học hỏi kinh nghiệm, từng bước nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ quản lý, cán

bộ kỹ thuật và đội ngũ công nhân. Đồng thời Công ty còn đẩy mạnh công tác khai thác

nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động nguồn hàng, tích cực tìm kiếm đối tác. Với

phương thức này sản phẩm của Công ty giờ đây đã có chỗ đứng vững chắc trên thị

trường EU, Bắc Mỹ, Đông Âu, châu Á và Braxin. Không những thành công trên thị

trường xuất khẩu, Công ty giày Thượng Đình còn thành công trong việc cung cấp giày

nội địa. Số lượng giày dép cung ứng cho thị trường nội địa chiếm khoảng 60% tổng

sản lượng, doanh thu chiếm khoảng 40% tổng doanh thu.

Để khai thác thị trường nội địa công ty cũng đã có những chiến lược và hướng

đi nhất định trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mình. Với chiến lược khai thác

thị trường nội địa, đầu tiên công ty luôn chú trọng đến việc tìm hiểu thị hiếu để đáp

ứng mong muốn tốt của người tiêu dùng, tìm hiểu xem họ có xu hướng mẫu mã như

thế nào, giá cả để người tiêu dùng có thể chấp nhận tiêu dùng. Thị trường của giày

Thượng Đình hướng tới chủ yếu là người tiêu dùng có thu nhập ở mức trung bình, học

sinh, sinh viên, người lao động,… với các sản phẩm giày bata, giày nam, giày nữ, giày

trẻ em, giày vải, giày thể thao. Sau đó Công ty chú trọng đến công tác xây dựng mạng

lưới tiêu thụ và quảng bá sản phẩm cũng được triển khai mạnh trên phạm vi toàn quốc.

Hiện nay Công ty đã có mạng lưới phân phối rộng khắp, các chi nhánh sản xuất và đại

lí, cửa hàng.

Do có chất lượng tốt, Công ty đã đạt rất nhiều thành tích giải thưởng đối với sản

phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp:

+ Sản phẩm của Công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn TOPTEN, liên

tục được công nhận là Hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1996 đến 2006 (do

Người tiêu dùng bình chọn - Báo Sài gòn tiếp thị tổ chức). Đạt nhiều Huy chương

vàng bạc tại các Hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế.

+ Thương hiệu giầy Thượng Đình luôn được bình chọn là thương hiệu tiêu biểu

của ngành công nghiệp Hà Nội và của cả nước (do Thời báo kinh tế tổ chức).

+ Năm 2004, Công ty đạt giải thưởng Cúp chân dung Bạch Thái Bưởi, cúp vàng

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 43

Hà Nội, doanh nghiệp tiêu biểu.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

+ Năm 2005, Công ty đạt giải thưởng Hà Nội vàng cho sản phẩm giầy thể thao,

03 huy chương vàng cho 3 sản phẩm giầy thể thao tại Hội chợ Hà Nội vàng hướng tới

1000 năm Thăng Long Hà Nội.

+ Thương hiệu giầy Thượng Đình được công nhận là một trong những thương

hiệu mạnh năm 20042005 do phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức.

Ngoài ra công ty giày thượng Đình còn tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng

và uy tín sản phẩm. Cùng với đầu tư mở rộng sản xuất, Công ty là doanh nghiệp đầu

tiên trong ngành giày Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9002.

1.4.2.2. Công ty cổ phần giày Việt - Vina Giày

Công ty cổ phần giày Việt – Vina giày với thương hiệu sản phẩm Vina-Giày. Dù

trên thương trường cạnh tranh khắc nghiệt nhưng Vina – Giày vẫn không ngừng tăng

trưởng, mỗi năm tăng hơn 30% doanh số. Sản phẩm Vina – Giày đã có mặt tại hầu hết

các nước phát triển. Tuy nhiên, thời gian qua, với phương châm hướng đến thị trường

nội địa là chủ yếu, Vina – Giày chỉ xuất khẩu khoảng 30% sản phẩm ra nước ngoài.

Công ty cung cấp cho thị trường giày da nội địa một số lượng lớn và có chất

lượng cao. Khởi đầu phát triển từ tập trung vào thị trường nội địa với chiến lược:

+ Tập trung vào mẫu mã, mẫu mã thay đổi theo mùa đáp ứng cho mọi lưá tuổi.

Sản phẩm của Vina-giày chủ yếu là da, giả da. Mẫu mã khá lịch sự, tao nhã;

+ Giá cả phù hợp với người tiêu dùng.

Vina- giày nhiều năm liền được người tiêu dùng bình chọn “hàng Việt Nam chất

lượng cao” “hàng Việt Nam được người tiêu dùng ưa thích”.

1.4.2.3. Công ty Biti’s

Qua 22 năm hoạt động, Biti’s hiện nay là Công ty hàng đầu của Việt Nam trong

ngành sản xuất kinh doanh giày dép. Biti’s đã trở thành một nhóm công ty bao gồm 3

công ty thành viên: Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Biti’s) chuyên sản

xuất dép xốp, hài, sandal tiêu thụ trong nước và xuất khẩu , Công ty TNHH Bình Tiền

Đồng Nai (DONA Biti’s) chuyên sản xuất giày thể thao (công nghệ Hàn Quốc), PU,

xốp…, Công ty Liên doanh Sơn Quán - đơn vị liên doanh giữa hợp tác xã Cao Su Bình

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 44

Tiên với công ty SunKuan Đài Loan - chuyên sản xuất hài, dép xuất khẩu.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Với Biti’s: “Biti’s nâng niu bàn chân Việt” đã trở thành slogan quen thuộc với

người tiêu dùng trong cả nước. Biti’s tự hào là một trong những doanh nghiệp Việt

Nam đã và đang rất thành công trong việc quảng bá thương hiệu sản phẩm giày dép

Việt Nam trong nước và ra thế giới.Tiêu dùng nội địa chiếm trên 70% tổng doanh thu.

Chiến lược được công ty biti’s đưa ra là:

+ Họ rất quan tâm tới thị trường nội địa kể cả các vùng xa xôi, miền trung và

Tây Nguyên;

+ Công ty đầu tư vào công tác tạo mẫu;

+ Thu thập thông tin về thị hiếu khách hàng;

+ Kết hợp yếu tố giá cả;

+ Hệ thống phân phối, sản phẩm và chiêu thị.

Ví dụ điển hình là kết hợp clip quảng cáo “ Nâng niu bàn chân Việt “ và xây

dựng hình tượng mang đậm nét truyền thống Việt Nam về thuơng hiệu Biti’s.

Ngoài phương thức kinh doanh truyền thống, Biti’s luôn tìm tòi những hướng đi

mới, dám chấp nhận rủi ro, táo bạo trong kinh doanh nhằm phục vụ cho chiến lược

kinh doanh “phủ dày, phủ xa”. Với chiến lược này, Biti’s quyết tâm đưa sản phẩm của

mình đến gần với người tiêu dùng. Đã hơn 10 năm kể từ ngày áp dụng thành công

chiêu thức trên, hiện nay, ngoài hệ thống phân phối chính thức, sản phẩm của Biti’s

còn thông qua một mạng lưới phân phối lẻ không chính thức chằng chịt, có mặt tại

những vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh. Từ chính sách này, Biti’s đã từng bước đẩy lùi

các sản phẩm cùng loại của Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan vốn một thời làm mưa

làm gió trên thị trường Việt Nam. Ngoài ra, chính sách “áp dụng một giá” trên toàn

quốc đã được người tiêu dùng an tâm khi chọn mua giày dép Biti’s ở các đại lý trong

toàn quốc mà không phải lo trả giá, sợ mua hớ hay mua nhầm. Điều đó càng khẳng

định tất cả sản phẩm của Biti’s đều cùng một chất lượng, không có hàng thứ phẩm.

Chỉ một vài ý tưởng mới trong kinh doanh thôi cũng đã làm cho doanh thu Biti’s

tăng cao, thương hiệu Biti’s ngày càng nổi tiếng và đứng vững trên thị trường nội địa.

Hiện nay, sản phẩm của Biti’s đã có mặt tại 3 trung tâm thương mại, 9 chi nhánh và

hơn 4.500 đại lý bán lẻ và hệ thống văn phòng đại diện, showroom giới thiệu sản phẩm

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 45

ở 40 quốc gia trên thế giới.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

1.5. Kết luận Chương I

Chương I với tiêu đề “Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường nội

địa”, luận văn đã tập trung vào làm sáng tỏ các nội dung và khái niệm liên quan đến

việc phát triển thị trường nội địa nói chung và phát triển thị trường nội địa của ngành

da giầy Việt Nam cụ thể như sau:

Đã làm rõ một số vấn đề lý luận về thị trường cũng như thị trường nội địa trong

nền kinh tế nói chung và của ngành da giầy nói riêng.

Trong phần nội dung về phát triển thị trường nội địa đã nêu được những nội

dung cơ bản nhất đó là các đặc điểm của thị trường nội địa, các nhân tố cấu thành của

thị trường nội địa, các hoạt động phát triển thị trường nội địa cũng như sự cần thiết

phải phát triển thị trường nội địa nói chung và thị trường ngành da giày nói riêng.

Tất cả những nội dung đã nêu ở chương I sẽ được vận dụng để nêu và giải

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 46

quyết các vấn đề trong chương II và chương III.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM

2.1. Đặc điểm phát triển của Ngành da giầy Việt Nam

2.1.1. Cơ cấu ngành theo thành phần kinh tế

Tính đến năm 2011, toàn Ngành có 812 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm da

giầy. Xét theo thành phần kinh tế, số lượng các doanh nghiệp thuộc khối doanh nghiệp

ngoài nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 70%) trong cơ cấu ngành. Tỷ trọng

các doanh nghiệp nhà nước giảm từ 18,6% năm 2000 xuống 1,9% năm 2011. Nguyên

nhân giảm là do nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tiến hành cổ phần hoá thành các

công ty cổ phần, một số doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh không hiệu quả

phải ngừng sản xuất hoặc giải thể.

Cơ cấu doanh nghiệp theo thành phần kinh tế qua các năm như sau:

Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất theo thành phần kinh tế

Loại hình doanh nghiệp 2000 2005 2010 2011

DN nhà nước (%) 18,6 5,5 2,6 1,9

DN ngoài nhà nước (%) 78,7 68,5 70,7 74,6

DN có vốn ĐTNN (%) 2,7 26,0 26,7 23,5

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê)

Số liệu trên cho thấy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đóng góp

lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của toàn Ngành. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sở

hữu vốn của doanh nghiệp khá rõ, từ năm 2000 đến 2011 số lượng các doanh nghiệp nhà

nước giảm dần và doanh nghiệp có vốn từ các thành phần kinh tế khác tăng lên.

2.1.2. Thực trạng sản xuất

Tính đến năm 2011, mặc dù toàn ngành da giày nước ta có tổng số 812 doanh

nghiệp và hơn trăm làng nghề hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm da giầy.

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 30 doanh nghiệp và hơn 1.000 cơ sở sản xuất nhỏ lẻ cung

ứng sản phẩm cho thị trường nội địa (đáp ứng khoảng 50% nhu cầu của thị trường nội

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 47

địa).

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Bảng 2.2. Số lượng các doanh nghiệp sản xuất theo chuyên ngành

Số lượng doanh nghiệp Ngành SX 2000 2005 2010 2011

Giầy dép các loại 187 372 413 516

Da thuộc 8 23 32 33

Cặp, túi, ví các loại 63 185 218 263

Tổng cộng 258 580 663 812

(Nguồn: Số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê ) Các doanh nghiệp sản xuất của ngành phân bố không đều trên toàn lãnh thổ, tập trung chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng (chiếm 89,1% tổng số cơ sở sản xuất của ngành). So với năm 2000, năm 2011 số lượng doanh nghiệp tăng nhanh ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lại giảm đi ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung, cụ thể như sau:

Bảng 2.3: Cơ cấu số lượng doanh nghiệp sản xuất phân bố theo vùng

Vùng 2000 2005 2010 2011

Vùng Trung du miền núi phía Bắc (%) 0,4 0,9 0,7 1,1

Vùng Đồng bằng sông Hồng (%) 25,6 20,5 18 0 18,2

Vùng Duyên hải miền Trung (%) 3,9 3,3 3,2 2,3

Vùng Tây Nguyên (%) - 0,2 0,2 0,1

Vùng Đông Nam Bộ (%) 65,5 71,0 71,6 70,9

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (%) 4,7 4,1 6,3 7,4

(Nguồn: Xử lý từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê )

Năng lực sản xuất giầy dép tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (chiếm 77,4% năng lực sản xuất của toàn ngành), vùng đồng bằng sông Hồng (11,1%) và duyên hải miền Trung (6,4%). Năng lực sản xuất giầy dép tập trung chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội.

Năng lực sản xuất cặp túi ví tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, thành

phố Đà Nẵng và thành phố Hà Nội.

Năng lực sản xuất da thuộc của ngành tập trung ở vùng Đông Nam Bộ (chủ yếu

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 48

tại các tỉnh Bình Dương, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Sản phẩm Ngành ở mức trung bình và thấp, nhưng cũng vẫn đang vật vã cạnh

tranh với hàng Trung Quốc vốn có lợi thế nguồn nguyên liệu, phụ liệu, đa dạng về

chủng loại, mẫu mã và giá cả. Bên cạnh phần lớn là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ,

lẻ nay đã phát triển thêm những doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và uy tín trên thị

trường như Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Bis’tis), Công ty Tư nhân

Giầy Á Châu (Asia Shoes), Công ty Giầy Thượng Đình, Công ty sản xuất thương mại

đồ da (Ladoda), làng nghề da giầy Quận 4 TP. Hồ Chí Minh, làng nghề da giầy Phú

Yên, Phú Xuyên, Hà Nội, … cũng sản xuất sản phẩm cung ứng cho thị trường nội địa.

Sự phát triển của các công ty trên đã tạo nên một diện mạo mới cho Ngành nói

chung và thị trường nội địa nói riêng. Chính sự vươn lên để phát triển của các doanh

nghiệp này đã tạo nên thế đứng mới, đối trọng mới cho Ngành khỏi mất vị thế ngay

trên sân nhà.

Bảng 2.4: Tổng hợp sản lượng giầy dép phục vụ

thị trường nội địa năm 2011 của các doanh nghiệp trong nước

Loại hình doanh nghiệp Sản lượng (Đôi) Giá trị (USD)

Doanh nghiệp xuất khẩu 39.679.000 520.023.000

Doanh nghiệp tự chủ sản xuất 5.186.000 102.906.000

Làng nghề 24.092.000 125.165.000

Cơ sơ sản xuất nhỏ 324.000 1.906.000

Tổng 69.281.000 750.000.000

Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt Nam

Qua số liệu tổng hợp cho thấy bình quân hàng năm, tổng sản lượng sản phẩm

giầy dép được sản xuất để phục vụ cho thị trường nội địa là gần 70 triệu đôi. Trong đó

khối các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gia công xuất khẩu vẫn là những đơn

vị chủ lực để cung cấp sản phẩm cả cho thị trường nội địa (57,3%). Các làng nghề

truyền thống đang đứng ở vị trí sau các doanh nghiệp lớn (34,8%) để phục vụ và

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 49

hướng tới chiếm lĩnh thị trường nội địa.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Mặc dù có sự phát triển vượt bậc so với thời kì trước, song có một thực tế là

khả năng sản xuất nhằm cung cấp cho thị trường nội địa của các doanh nghiệp da giầy

trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Đến thời điểm hiện nay, các sản phẩm được cung cấp từ các nhà sản xuất trong

nước đều có giá cả phải chăng, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của phân khúc thị

trường dân số đông và có thu nhập trung bình trở xuống. Các sản phẩm chủ yếu là giầy

vải, dép làm từ nhựa, xốp và giả da. Các sản phẩm da giầy cao cấp hoặc có chất lượng

tương đối cao đều phải nhập từ nước ngoài trong đó Châu Á là châu lục cung cấp đến

65% sản phẩm da giầy cho thị trường nội địa Việt Nam.

2.1.3. Tổ chức quản lý

Trong những năm qua ngành da giầy Việt Nam hoạt động và phát triển dưới

nhiều hình thức sở hữu khác nhau: doanh nghiệp nhà nước (tổng công ty, công ty, xí

nghiệp), doanh nghiệp ngoài nhà nước (công ty TNHH, công ty tư nhân, công ty cổ

phần) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (công ty liên doanh, công ty có 100%

vốn đầu tư nước ngoài). Các doanh nghiệp trong ngành hoạt động độc lập theo Điều lệ

công ty và theo Luật Doanh nghiệp.

Từ năm 2003 về trước, ngành da giầy có Tổng công ty da giầy Việt Nam bao

gồm 18 công ty con hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc. Ngày 19 tháng 6 năm 2003 Bộ

Công nghiệp ra Quyết định số 100/QĐ-BCN giải thể Tổng công ty da giầy Việt Nam

do không đáp ứng đủ tiêu chí tổng công ty theo quy định mới của Chính phủ. Các

doanh nghiệp thành viên hoạt động độc lập theo Luật doanh nghiệp. Các doanh nghiệp

có đủ điều kiện thì chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

Ngành da giầy có Hiệp hội da giầy Việt Nam và Hội da giầy ở một số thành

phố như Hội da giầy thành phố Hồ Chí Minh, Hội da giầy thành phố Hà Nội. Hiệp hội

da giầy Việt Nam là đầu mối kết nối các doanh nghiệp trong nước và xúc tiến các quan

hệ hợp tác quốc tế, hỗ trợ kỹ thuật - công nghệ, đào tạo, cung cấp các thông tin chuyên

ngành đến các doanh nghiệp hội viên và bảo vệ lợi ích chung của các doanh nghiệp

khác trong ngành. Hiệp hội da giầy Việt Nam hoạt động ngày càng hiệu quả phục vụ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 50

cho sự phát triển ngành.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

2.1.4. Công tác đầu tư

Trong những năm qua, ngành da giầy đã thực hiện đầu tư xây dựng và cải tạo

nhà xưởng, đầu tư thiết bị, dây chuyền sản xuất đồng bộ, đầu tư các dự án mới và đầu

tư di dời các cơ sở sản xuất ở gần khu dân cư hoặc các cơ sở gây ô nhiễm vào các khu

công nghiệp.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng tài sản của ngành sau 10 năm từ năm

2000 đến năm 2011 đã tăng 6,3 lần, đạt giá trị 82.554 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp

ngoài nhà nước chiếm 45,7%, doanh nghiệp FDI chiếm 41,8% và doanh nghiệp nhà

nước chiếm 12,6%.

Sản xuất giầy dép cần vốn đầu tư không lớn và có khả năng thu hồi vốn nhanh.

Các doanh nghiệp bỏ vốn trang bị thiết bị đồng bộ trả chậm trừ dần vào công phí hoặc

đối tác nước ngoài cung cấp thiết bị để gia công sản phẩm. Vốn đầu tư mua thiết bị

chiếm 77,3% và vốn đầu tư xây dựng và cải tạo nhà xưởng chiếm 22,7% trong tổng

vốn đầu tư. Một số doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống thiết bị tiên tiến, hiện đại, tự động

hoặc bán tự động, hệ thống CAD, CAM ở các công đoạn sản xuất như pha cắt, gò ráp

hoàn thiện sản phẩm. Một số doanh nghiệp như Công ty CP Giầy An Lạc, Công ty

Công nghiệp Đông Hưng, Công ty CP Giầy Thái Bình, Công ty Tae Kwang Vina,

Công ty TNHH Shyang Hung Cheng, Công ty TNHH Pou Yuen Việt Nam, Công ty

Pou Chen, Công ty TNHH Ching Luh Việt Nam, Công ty sản xuất hàng tiêu dùng

Bình Tiên (Biti’s) thành phố Hồ Chí Minh, Biti’s Đồng Nai, Công ty CP Giầy Thượng

Đình đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hoá thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử

nghiệm phục vụ công tác ra mẫu chào hàng.

Khu vực doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có đủ tiềm lực để đầu tư mới nhà

xưởng, máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn sản xuất công nghiệp với quy mô hợp lý,

khép kín. Các doanh nghiệp nhà nước và liên doanh đầu tư theo hướng tận dụng các cơ

sở hiện có và cải tạo từ hệ thống kho tàng cũ để hình thành nhà xưởng khang trang,

phù hợp để bố trí thiết bị sản xuất giầy.

Do đặc thù, sản xuất da thuộc cần vốn đầu tư rất lớn so với sản xuất giầy dép và

cặp - túi - ví. Ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị, các doanh nghiệp còn phải đầu tư hệ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 51

thống xử lý nước thải để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Trước năm 2000, lĩnh vực thuộc da không được các doanh nghiệp nước ngoài

quan tâm, các cơ sở trong nước đầu tư nhỏ lẻ, manh mún. Từ năm 2001- 2002, ngoài

công ty thuộc da Hào Dương được thành lập, một số doanh nghiệp thuộc da 100% vốn

nước ngoài cũng được cấp phép xây dựng và đi vào hoạt động như Công ty TNHH

Samwoo Vietnam, Công ty TNHH Green Tech (Hàn Quốc), Công ty TNHH Prime Asia

(Hồng Kông), Công ty TNHH Tong Hong Vietnam (Trung Quốc). Giai đoạn 2004 -

2006 việc có thêm 2 doanh nghiệp FDI là Công ty TNHH Vina Rong Hsing (Trung

Quốc), Perrin Rostaning (Pháp) đã góp phần gia tăng nhanh sản lượng da thuộc.

Các doanh nghiệp thuộc da đầu tư trước đây không có hệ thống xử lý nước thải,

gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện di dời nhà xưởng vào các khu công nghiệp để

đảm bảo vấn đề về môi trường và phát triển bền vững.

Hầu hết các doanh nghiệp do chưa có kinh nghiệm nên đầu tư còn mất cân đối

giữa các công đoạn (chuẩn bị thuộc, thuộc và hoàn thiện); năng lực sản xuất ở các

công đoạn không tương ứng nên khả năng khai thác công suất thấp. Do khó khăn về tài

chính, nên công trình đầu tư ở các doanh nghiệp thường bị kéo dài, tiến độ thực hiện

không đạt được so với kế hoạch đề ra, gây thiệt hại về tài chính và đôi khi mất thời cơ

sản xuất đáp ứng thị trường. Nhiều doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngắn hạn, lãi suất

cao hoặc dùng vốn lưu động để đầu tư, sản xuất không đủ bù đắp chi phí vay, đến hạn

ngân hàng không trả được.

Do thiếu tôn trọng quy hoạch cụ thể, thiếu sự hợp tác giữa các doanh nghiệp,

giữa các thành phần kinh tế nên xảy ra tình trạng đầu tư tràn lan trong khi năng lực sản

xuất cục bộ còn dư thừa, dẫn tới sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh

nghiệp trong ngành.

2.1.5. Máy móc thiết bị

Thiết bị sản xuất giầy dép hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là thiết bị của Đài Loan

(50%) Hàn Quốc (20%), Trung Quốc (10%) và khác (20%). Nhìn chung, các thiết bị

có trình độ cơ khí cao; thiết bị bán tự động hoặc tự động bao gồm: máy cắt mẫu tự

động, hệ thống phay chép phom, hệ thống in thêu, may theo chương trình.

Thiết bị ở công đoạn pha cắt nguyên liệu được đánh giá thuộc loại trung bình

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 52

tiên tiến ở khu vực, chủ yếu là các loại máy chặt thuỷ lực khổ rộng, máy chặt thuỷ lực

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

khổ nhỏ, máy chặt thuỷ lực đầu chặt di động, hệ thống máy in, thêu, máy lạng da, máy

dẫy mép. Một số doanh nghiệp đầu tư thiết bị cắt điều khiển tự động theo chương trình

thế hệ mới phục vụ cho việc cắt mẫu dưỡng và chi tiết sản phẩm mẫu. Một số doanh

nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư thiết bị cắt bằng tia lade, tia nước. 60% số thiết bị

ở công đoạn pha cắt đã sử dụng trên 10 năm và 40% thiết bị sử dụng dưới 10 năm.

Các thiết bị sử dụng trong công đoạn may ráp là máy may các loại, máy gấp

mép, máy tẽ hậu, máy đính ô dê.... Các thiết bị này chủ yếu nhập của Đài Loan, Hàn

Quốc. Một số ít doanh nghiệp sử dụng máy may chuyên dùng điều khiển bán tự động

hoặc ghép nguyên công, cắt chỉ tự động, may theo chương trình của Nhật Bản, Đức.

Số thiết bị ở công đoạn may đã sử dụng trên 10 năm khoảng 65%, sử dụng dưới 10

năm là 35%.

Hệ thống thiết bị gò ráp và hoàn thiện giầy chủ yếu của Đài Loan và Hàn Quốc.

Một số doanh nghiệp nhập thiết bị của Ý nhưng ở dạng thiết bị lẻ (như máy gò, máy

định hình hậu, máy mài chân gò, máy ép đế có thành). Một số thiết bị dùng trong sản

xuất giầy vải như băng tải, hệ thống sấy, nồi hấp giầy, máy mài nhám chân gò, máy

bôi keo, máy đốt chỉ... được chế tạo trong nước. Có tới 80% thiết bị ở công đoạn này

đã sử dụng trên 10 năm, còn lại 20% là sử dụng dưới 10 năm.

Tiền chế đế lắp ráp thực hiện trên các thiết bị cơ khí và bán cơ khí, chủ yếu là

các loại máy mài, máy ép. Các thiết bị này chủ yếu nhập từ Đài Loan và Hàn Quốc.

Tiền chế đế định hình sử dụng thiết bị được nhập khẩu từ các nước khác nhau, tuỳ

thuộc vào đế lắp ráp, đế ép phun hay đế ép đúc (đế lắp ráp, thiết bị nhập từ Đài Loan,

Hàn Quốc; đế ép đúc thiết bị nhập từ Đài Loan, Tiệp Khắc; đế ép phun, thiết bị nhập

từ các nước châu Âu như Đức, Ý).

Đóng gói giầy thực hiện thủ công, ngay trên băng chuyền.

Dụng cụ cơ khí bao gồm các loại khuôn mẫu, dao chặt, cữ may, ống viền, đục

các loại, giá kệ, xe chuyển do các doanh nghiệp cơ khí và xưởng cơ khí ở một số

doanh nghiệp giầy sản xuất và chế tạo.

Hiện nay ngành gần như phải nhập khẩu hoàn toàn phụ tùng, thiết bị phục vụ

cho sản xuất. Trong lĩnh vực chế tạo thiết bị cho sản xuất giầy dép, việc chế tạo phụ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 53

tùng, thiết bị trong nước không đáng kể, chỉ chế tạo được một số thiết bị thông thường

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

và đơn giản như máy chặt thuỷ lực, băng tải. Các thiết bị lắp ráp, chế tạo trong nước

vẫn phải nhập khẩu một số phụ tùng, linh kiện quan trọng. Nói chung, chất lượng các

sản phẩm chế tạo không cao, mức độ chuẩn hoá và khả năng lắp lẫn thấp, gây khó

khăn cho người sử dụng và hạn chế hiệu quả về kinh tế trong quá trình sửa chữa thay

thế trong khi giá thành còn cao nên thị trường tiêu thụ bị hạn chế.

Hầu hết máy móc thiết bị trong sản xuất da thuộc đều thuộc thế hệ mới, có gía

bán cao xuất xứ từ Ý, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc. Nhìn chung các máy

này có khả năng sản xuất các mặt hàng da có chất lượng tốt. Mức cơ khí hoá trong lĩnh

vực sản xuất da thuộc đã được nâng lên. Nhiều công đoạn thủ công như nâng chuyển

nguyên liệu, hóa chất đã được cơ khí hoá. Tuy nhiên cũng giống như trong lĩnh vực

giầy, hiện tại, trong nước mới chỉ sản xuất được một vài thiết bị đơn giản như máy đo

diện tích da, máy bào, thùng quay công suất nhỏ và thực hiện việc bảo trì, bảo dưỡng

thiết bị.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn như Công

ty thuộc da Hào Dương, Công ty CP da Green Tech, Công ty Samwoo, Công ty Tong

Hong, Công ty TNHH Huynh đệ thuộc da Hưng Thái, Cơ sở Kim Thành, Công ty

thuộc da Đặng Tư Ký đã đầu tư hàng triệu đô la Mỹ cho nhà xưởng, máy và thiết bị. Ở

phía Bắc, ngoài Công ty CP Da Vinh được tiếp nhận máy và thiết bị từ Nhà máy Da

Thuỵ Khuê, Nhà máy Da Tam Kỳ và bổ sung thiết bị nhập ngoại cho đồng bộ, các

doanh nghiệp khác chỉ đầu tư mua thiết bị cũ, lạc hậu.

Đánh giá chung, thiết bị sử dụng trong ngành thuộc da trên 50% có chất lượng

tốt, 30% chất lượng trung bình và gần 20% chất lượng kém, lạc hậu cần được thay thế.

Hầu hết thiết bị sản xuất cặp - túi - ví được nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc, Trung

Quốc. Ở khâu pha cắt, nhiều cơ sở chỉ dùng các loại máy cắt, dụng cụ cắt đơn giản

như máy cắt vải vòng, dao cắt.

2.1.6. Công nghệ

Trình độ công nghệ sản xuất giầy dép phổ biến ở mức trung bình và trung bình khá

so với khu vực. Quá trình sản xuất mới được cơ giới hoá mà chưa tự động hoá. Tỷ lệ công

việc làm thủ công hiện còn ở mức cao, điển hình là các công đoạn trải nguyên liệu, bôi

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 54

keo, đục tán ô dê, mài, xén, kiểm đếm, vận chuyển nguyên liệu và bán thành phẩm.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Bí quyết công nghệ trong lĩnh vực bồi vải và cán luyện cao su thuộc về từng

nhà sản xuất; việc chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp cũng ở chừng mực

nhất định. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khác biệt về chất lượng giữa các nhà

sản xuất.

Những công nghệ cao sản xuất các loại giầy đặc chủng, giầy thể thao chuyên

dụng đẳng cấp cao, giầy y tế và giầy thời trang cao cấp hiện còn ở ngoài tầm của các

doanh nghiệp Việt Nam.

Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay các doanh nghiệp gia

công làm hàng cho các hãng nước ngoài vẫn phải sử dụng thiết kế được làm từ nước

ngoài. Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo mẫu thiết kế. Tuy nhiên trong một vài năm

gần đây, một số doanh nghiệp đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hoá thiết kế, ứng

dụng CAD, CAM trong tạo mẫu và quản lý sản xuất, đáp ứng nhanh yêu cầu của

khách hàng.

Ở các tiệm giầy tư nhân, tổ hợp sản xuất giầy, việc thiết kế hoàn toàn thủ công,

chủ yếu là làm theo kinh nghiệm. Họ không nhân ni số mà chỉ làm theo từng ni phom.

Việc rập mẫu chính xác với các cơ sở này không quan trọng lắm vì các sai sót này có

thể chỉnh sửa (cắt xén hoặc ráp thêm) bằng tay sao cho hoàn chỉnh một đôi giầy.

Trình độ thiết kế mẫu của ngành nói chung còn yếu do chưa có đủ phương tiện

cũng như kiến thức để tiến hành mô đun hoá công nghệ. Sản xuất giầy, đồ da đang chế

tác theo các mẫu của nước ngoài, mới ở mức độ cải biên chứ chưa đạt tới mức độ tự

thiết kế để tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hoá của từng cộng đồng sử

dụng.

Đối với sản xuất da thuộc, phần lớn các doanh nghiệp đang áp dụng các tiêu

chuẩn, quy trình công nghệ của nước ngoài. Trình độ công nghệ thuộc da được đánh

giá vào loại trung bình tiên tiến trong khu vực.

Những năm gần đây, các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần đang tiến hành

đổi mới về công nghệ thông qua sự hướng dẫn của đại diện các hãng hoá chất nước

ngoài tại Việt Nam. Các hãng này tiến hành các hoạt động trên nhằm mở rộng thị

trường tiêu thụ hoá chất thuộc da. Hiện nay các nước phát triển và đang phát triển

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 55

đang áp dụng công nghệ sạch và thân thiện với môi trường để giảm thiểu ô nhiễm môi

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

trường và hạn chế lượng hoá chất độc hại còn tồn đọng trong sản phẩm da thuộc.

Trong khi đó ở Việt Nam, hiện mới chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

hoặc doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu sử dụng công nghệ này.

Công nghệ may cặp túi ví không có gì phức tạp; thợ có tay nghề bậc 2, bậc 3 đã

có thể tiếp thu, nắm bắt và thực hiện tốt các công đoạn trong dây chuyền sản xuất.

Báo cáo “Đánh giá trình độ công nghệ ngành Da - Giầy Việt Nam” của Bộ

Công nghiệp do các chuyên gia trong ngành thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp

ATLAS công nghệ đã đánh giá trình độ công nghệ của ngành và đánh giá từng thành

phần như sau: T = 0,68; H = 0,63; I = 0,65; O = 0,70.

2.1.7. Công tác đo lường và quản lý chất lượng sản phẩm

Các doanh nghiệp trong ngành đã và đang xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu

chuẩn quốc tế ISO.

Đa số các doanh nghiệp sản xuất giầy chưa có đủ trang thiết bị để phân tích,

kiểm nghiệm các tiêu chuẩn chất lượng nguyên vật liệu và sản phẩm giầy. Việc kiểm

tra các điều kiện kỹ thuật của công nghệ, bán thành phẩm và thành phẩm chủ yếu theo

phương pháp cảm quan dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp của cán bộ và công nhân lâu

năm trong nghề (đặc biệt là kiểm tra chất lượng cao su cán luyện làm đế giầy). Một số

ít doanh nghiệp vốn trong nước đã đầu tư xây dựng phòng kiểm nghiệm nhưng không

đủ thiết bị nên một số chỉ tiêu quan trọng vẫn phải gửi ra nước ngoài để kiểm tra đánh

giá. Trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trang bị đầy đủ các thiết

bị kiểm tra chỉ tiêu cơ lý hoá của vật liệu và sản phẩm giầy.

Các doanh nghiệp thuộc da FDI và doanh nghiệp tư nhân ở phía Nam thực hiện

quản lý công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế nên phần lớn trong số họ đã tham gia phục

vụ xuất khẩu tại chỗ và trực tiếp xuất khẩu các sản phẩm da thuộc.

Cùng với sự phát triển của ngành và theo yêu cầu của khách hàng, các doanh

nghiệp thuộc da đã và đang từng bước đầu tư các thiết bị phục vụ kiểm tra ở từng công

đoạn, thay thế dần cho việc kiểm tra dựa trên kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật và công

nhân lành nghề, hạn chế tối đa hàng phế phẩm. Một số doanh nghiệp thuộc da mới

được đầu tư đã trang bị các thiết bị cho phòng thí nghiệm phân tích nhỏ của bản thân

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 56

doanh nghiệp.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Do thay đổi cơ chế hiện nay vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn Việt Nam TCVN hoàn chỉnh

phục vụ công nghệ thuộc da để làm chuẩn mực cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm.

2.1.8. Nguồn nhân lực

Theo số liệu của Ngành, năm 2011 ngành da giầy sử dụng 623.905 ngàn lao

động trong cả nước (không kể lao động tại các làng nghề, cơ sở nhỏ). Do sản xuất tập

trung ở các khu vực như Tp. HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Hải Phòng, nên

phần lớn lao động của ngành da giày là nhập cư với tỷ lệ giao động từ 75% đến 85%,

trong đó sản xuất giầy dép có 562.249 lao động, chiếm 90,1%; sản xuất da thuộc có

6.030 lao động, chiếm 1,0% và sản xuất cặp túi ví có 55.626 lao động, chiếm 9,0%.

Lao động trong Ngành chiếm tỷ trọng 9,9% trong cơ cấu lao động ngành công

nghiệp chế biến và 9,0% trong cơ cấu lao động của toàn ngành công nghiệp.

Lao động nữ chiếm 83% tổng số lao động của ngành, tập trung ở các doanh

nghiệp sản xuất giầy dép và sản xuất cặp túi ví.

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút khoảng 71,8% tổng số lao động

trong ngành, trong khi khu vực ngoài nhà nước thu hút 25,5% và khu vực nhà nước

thu hút 2,7%.

Lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 438.511 người so với năm

2000, tăng bình quân 62,1%/năm, trong khi lao động ở khu vực ngoài nhà nước giảm

58.800 người và khu vực nhà nước giảm 52.444 người, tương ứng giảm bình quân

3,9%/năm và 16,2%/năm.

Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo các chuyên ngành và tỷ trọng lao động của

ngành da giầy trong ngành công nghiệp và ngành công nghiệp chế biến

2005

2010

2011

2000

Tỷ trọng lao động

Ngành Da - Giầy SX giày dép các loại (%)

91,7

90,9

90,7

90,1

SX da thuộc (%)

0,2

0,5

0,8

1,0

8,1

8,6

8,5

8,9

9,0

SX cặp - túi - ví các loại (%) Ngành Da - Giầy / ngành CN (%)

7,6

9,6

9,4

9,9

Ngành da - giầy/ ngành CNCB (%)

8,4

10,5

10,3

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 57

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê)

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Theo số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm 2010, cơ cấu

theo giới tính và trình độ của lao động ngành da giầy như sau:

Bảng 2.6: Cơ cấu trình độ lao động của toàn ngành và

theo các chuyên ngành năm 2010

Sản xuất giày dép

Sản xuất da thuộc

SX cặp, túi, ví

Toàn ngành

Cơ cấu trình độ lao động

Tổng số lao động (%)

100,00

100,00

100,00

100,00

Trong đó: nữ (%)

83,66

46,35

79,60

83,01

Tiến sỹ (%)

0,001

-

0,002

0,001

Thạc sỹ (%)

0,04

0,02

0,01

Đại học (%)

1,15

5,80

1,99

1,26

Cao đẳng (%)

0,88

2,43

1,15

0,91

Trung cấp chuyên nghiệp (%)

1,87

4,64

2,27

1,93

Dạy nghề dài hạn (%)

16,62

14,73

17,15

16,65

Dạy nghề ngắn hạn (%)

24,46

3,71

28,51

24,63

Đào tạo kèm cặp trực tiếp trên dây chuyền SX (%)

55,03

68,63

54,62

48,91

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê) Tỷ lệ lao động của ngành có trình độ trên đại học chiếm 0,01%; đại học và cao đẳng chiếm 2,17%; trung cấp chiếm 1,93%; công nhân qua đào tạo dài hạn chiếm 16,65%; công nhân qua đào tạo ngắn hạn chiếm 24,63% và công nhân chưa qua đào tạo chiếm 54,62%.

Cán bộ quản lý của các doanh nghiệp thuộc da khu vực nhà nước tuy có trình

độ chuyên môn học vấn cao nhưng trong điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh, xét

về mặt mang lại hiệu quả kinh tế, thì không bằng cán bộ quản lý của các doanh nghiệp

khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Trong tổ chức và điều hành sản xuất ở các doanh

nghiệp sản xuất giầy vẫn cần đến sự hỗ trợ của các chuyên gia nước ngoài.

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật tại các doanh nghiệp sản xuất giầy dép hầu hết không

được đào tạo chính quy; chủ yếu là tự học, tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm do

chuyên gia nước ngoài hướng dẫn trong quá trình chuyển giao công nghệ và hợp tác

sản xuất. Năng lực và trình độ ngoại ngữ còn hạn chế của số đông cán bộ kỹ thuật đã

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 58

làm giảm hiệu quả tiếp thu công nghệ, kỹ thuật được chuyển giao. Các biện pháp, sáng

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

kiến đưa ra trong quá trình sản xuất nặng về giải pháp tình thế mà thiếu cơ sở khoa học

để có thể giải quyết triệt để. Đội ngũ cán bộ thiết kế mẫu thiếu trầm trọng từ lâu nhưng

đến nay tình hình vẫn chưa được cải thiện.

Cán bộ kỹ thuật làm việc tại các doanh nghiệp thuộc da được đào tạo chính quy

nhưng số lượng ngày càng giảm đi do đến tuổi về hưu hoặc bỏ nghề và không có

nguồn bổ sung trong nhiều năm nay. Nhìn chung trình độ của cán bộ kỹ thuật thuộc da

đã được nâng lên qua học tập, thực tập tại nước ngoài và qua quá trình chuyển giao

công nghệ của các hãng hoá chất.

Một số ít công nhân kỹ thuật được đào tạo tại nước ngoài (Đức, Tiệp Khắc cũ)

hoặc tại các trường cao đẳng công nghiệp là nòng cốt trong việc tiếp thu kỹ thuật mới

và chuyển giao công nghệ. Còn lại là lao động phổ thông không có tay nghề, trình độ

văn hoá tốt nghiệp lớp 12 hoặc thấp hơn.

Các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất giầy dép,

thường xuyên phải đối mặt với tình trạng công nhân “nhảy việc”, nhất là sau thời gian

nghỉ Tết. Thời gian gần đây, sự biến động lao động của ngành càng trầm trọng hơn.

Nhiều doanh nghiệp không có đủ đơn hàng nên phải giảm sản xuất và cho công nhân

tạm nghỉ việc. Nhưng khi có đơn hàng thì lại không có đủ công nhân để thực hiện do

số công nhân tạm nghỉ việc đã bỏ sang nghề khác hoặc đang làm ở doanh nghiệp khác.

Năng suất lao động ở các doanh nghiệp không thể nâng lên được do thường xuyên

phải đào tạo lao động mới vào nghề.

2.1.9. Công tác đào tạo

Việc đào tạo công nhân kỹ thuật của Ngành còn chắp vá, chưa có hệ thống,

chưa có một chương trình đào tạo cơ bản, thống nhất.

Đào tạo nghề cho doanh nghiệp thường ở 2 dạng:

- Các doanh nghiệp tự đào tạo nhân lực;

- Các cơ sở dạy nghề cung ứng lao động đã qua đào tạo cho doanh nghiệp.

Đối với đào tạo nghề tại doanh nghiệp hay còn gọi là đào tạo tại chỗ, người lao

động được kèm cặp học nghề và thực tập ngay trên dây chuyền sản xuất của doanh

nghiệp. Người truyền nghề là công nhân có tay nghề cao trong doanh nghiệp hoặc là

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 59

giáo viên ở các cơ sở dạy nghề doanh nghiệp mời đến giảng dạy. Việc đào tạo nghề tại

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

các doanh nghiệp có lợi về nhiều mặt. Trước hết là đáp ứng ngay nhu cầu lao động của

doanh nghiệp ở từng công đoạn trên dây chuyền sản xuất. Doanh nghiệp không phải

gửi lao động của mình đến cơ sở đào tạo, không bị gián đoạn công việc nên tiết kiệm

được chi phí. Hơn nữa, trình độ của người lao động được đào tạo phù hợp với yêu cầu

về ngành nghề và trình độ công nghệ của doanh nghiệp.

Ngoài ra, công nhân còn được học các lớp bồi dưỡng, đào tạo theo chương trình

nâng bậc công nhân kỹ thuật hàng năm do doanh nghiệp tổ chức.

2.1.10. Nghiên cứu khoa học công nghệ

Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ của Ngành còn nhiều bất cập, chưa

đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển ngành.

Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ chưa được quan tâm và đầu tư thoả

đáng, chưa có quỹ hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học công nghệ . Các kết quả nghiên cứu

và phát triển (R&D) theo chuẩn mực quốc tế còn hạn chế. Trang thiết bị của Viện

nghiên cứu, của phòng kỹ thuật và triển khai sản xuất tại các doanh nghiệp còn rất

thiếu, không đồng bộ và lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến trong khu vực.

Phần lớn các doanh nghiệp chưa có bộ phận nghiên cứu và triển khai công nghệ. Hoạt

động nghiên cứu và triển khai công nghệ do đối tác nước ngoài thực hiện.

Thiếu sự liên kết giữa sản xuất và nghiên cứu khoa học công nghệ; thiếu sự hợp

tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu phát triển trong ngành với các trường đại học

và các doanh nghiệp.

Hệ thống dịch vụ khoa học công nghệ bao gồm thông tin khoa học công nghệ,

tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn

yếu cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ.

Thiếu cán bộ khoa học công nghệ giỏi, thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao,

chưa có trường đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ. Sự phân bố cán bộ kỹ

thuật của ngành không hợp lý, 80% tập trung ở Viện song sự hỗ trợ về công nghệ của

Viện đối với các doanh nghiệp còn rất hạn chế.

Đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp

ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 60

kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Công tác nghiên cứu ở các doanh nghiệp là nghiên cứu đề tài phục vụ trực tiếp

cho sản xuất của doanh nghiệp. Toàn ngành có một Viện Nghiên cứu da giầy chuyên

thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, thực hiện các đề tài nghiên cứu các cấp phục

vụ cho sản xuất kinh doanh của ngành, trong đó có các đề tài nghiên cứu về công nghệ

thuộc các sản phẩm mới và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tổ chức các lớp bồi dưỡng

và đào tạo công nhân kỹ thuật cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều đề tài nghiên

cứu của Viện chưa được ứng dụng trong sản xuất, tính khả thi còn thấp.

2.1.11. Vệ sinh, an toàn lao động

Các quy định trong Luật Lao động, nội dung của các văn bản pháp luật về vệ

sinh, an toàn lao động và những yêu cầu từ phía khách hàng đã thúc đẩy sự quan tâm

hơn nữa của các doanh nghiệp đến sức khoẻ và môi trường làm việc của người lao

động. Các doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về vệ sinh, an toàn lao

động, nội quy phòng cháy chữa cháy cho từng khâu, từng công đoạn sản xuất. Người

lao động được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động như nút chống ồn,

găng tay, khẩu trang, mặt nạ phòng chống độc hại, giày ủng, quần áo bảo hộ lao động

để làm việc. Các doanh nghiệp xây dựng phòng y tế với các trang thiết bị, dụng cụ và

thuốc men cần thiết để kịp thời ứng cứu sơ bộ nạn nhân khi xảy ra sự cố, thực hiện

chương trình kiểm tra sức khỏe định kỳ cho cán bộ, công nhân viên.

2.1.12. Bảo vệ môi trường

Việc đầu tư đổi mới thiết bị không những cải thiện và nâng cao chất lượng sản

phẩm mà còn giảm hao phí trong sản xuất, giảm nguồn thải, góp phần cải thiện tình

trạng gây ô nhiễm môi trường.

Chất thải trong quá trình sản xuất giầy dép, cặp túi ví bao gồm chất thải sinh

hoạt và chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất như các loại ba via từ vật liệu

sản xuất mũ, lót và đế giầy bằng da, vải, giả da, cao su, PU, PVC, vỏ bao bì. Hiện nay,

chỉ một lượng nhỏ chất thải rắn được xử lý qua lò đốt, còn phần lớn được chôn lấp

cùng rác thải sinh hoạt ở các bãi rác. Chưa có doanh nghiệp nào đầu tư tự xử lý chất

thải. Đa số các doanh nghiệp thuê chở rác thải ra bãi rác vứt hoặc thuê Công ty Môi

trường đô thị chuyển đi xử lý. Lượng chất thải đem đi xử lý chỉ chiếm một phần rất

nhỏ vì chi phí để xử lý triệt để rác thải da giày không rẻ. Tuy không bốc mùi xú uế như

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 61

rác sinh hoạt, nhưng do chủ yếu là ba via xốp dẻo nên rác thải da giầy rất khó phân

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

huỷ khi chôn lấp, gây độc hại lâu dài cho môi trường. Mặc dù dễ cháy nhưng khi đốt

trong điều kiện thường, rác thải sẽ tạo ra chất dioxin, một tác nhân gây ung thư. Hiện

chưa có những khu xử lý riêng rác thải da giày.

Ngành thuộc da cũng thải ra một lượng lớn chất thải rắn. Khoảng 25% khối

lượng da (chưa thuộc và đã thuộc) bị loại ra dưới dạng chất thải rắn. Hầu hết chất thải

rắn trong thuộc da mới chỉ được thu gom mà chưa được phân loại riêng ra chất thải

nguy hại và chất thải thông thường. Môi trường không khí còn bị ô nhiễm bởi khí thải

và mùi da nguyên liệu rất khó chịu (do chất đạm bị phân huỷ). Nước thải ở các cơ sở

thuộc da thường có mùi thối, hàm lượng BOD, COD, chất rắn lơ lửng (SS) gấp nhiều

lần các chỉ tiêu cho phép. Ngoài ra, nước thải còn chứa kim loại nặng, đặc biệt có chứa

Crôm, có độ kiềm và hàm lượng muối cao. Nước thải này nếu không được xử lý, xả

thẳng vào tự nhiên có khả năng gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.

Việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải thuộc da khá tốn kém, chiếm

khoảng 10 - 12% tổng vốn đầu tư của dự án xây dựng nhà máy. Chi phí vận hành hệ

thống xử lý nước thải (máy móc thiết bị, hoá chất, nhân công..) sẽ làm tăng chi phí sản

xuất, làm tăng giá thành sản phẩm. Trong một vài năm gần đây, do yêu cầu về môi

trường và phát triển bền vững và do chất thải được quản lý chặt chẽ hơn, các doanh

nghiệp thuộc da đầu tư mới như: Công ty CP da Green Tech, Công ty Samwoo, Công

ty Tong Hong, Công ty TNHH Huynh đệ thuộc da Hưng Thái, Cơ sở Kim Thành,

Công ty thuộc da Đặng Tư Ký đã đầu tư đồng bộ nhà xưởng, thiết bị và cả hệ thống xử

lý nước thải (XLNT), đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường.

Trong thực tế, do khó khăn về tài chính, do nhận thức về bảo vệ môi trường và

ý thức tuân thủ Luật Môi trường chưa cao nên vẫn còn tình trạng có các doanh nghiệp

thuộc da không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng không sử dụng thường

xuyên. Nước thải chưa xử lý được xả trực tiếp ra sông hồ và hệ thống thoát nước công

cộng. Đây cũng là tình trạng chung của các cơ sở thuộc da ở các làng nghề.

Việc xử lý của chính quyền đối với các trường hợp vi phạm chưa thật nghiêm,

chưa có những chế tài đủ mạnh buộc các doanh nghiệp, các cơ sở phải tuân thủ các

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 62

quy định về bảo vệ môi trường sinh thái.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

2.2. Thực trạng về thị trường tiêu thụ nội địa của ngành da giầy Việt Nam

2.2.1. Tình hình tiêu thụ

Ngành da giầy là ngành công nghiệp tạo ra sản phẩm trực tiếp phục vụ nhu cầu

tiêu dùng thiết yếu của con người và là ngành có thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng.

Ngày nay, mục đích và công dụng của các sản phẩm da giầy không còn bó hẹp trong

việc bao bọc hoặc bảo vệ bàn chân, đựng, bao gói, vận chuyển, che chắn các vật

dụng... mà còn tích hợp nhiều tiện ích trong một sản phẩm với các giá trị gia tăng và

giá trị vô hình khác như làm đẹp, tạo dáng, thời trang và đặc biệt tiện dụng. Đến nay,

các sản phẩm da giầy đã trở nên phổ biến và ngày càng gần gũi, thân thiết với người

tiêu dùng. Chúng có mặt ở khắp nơi trên thế giới và là một trong những sản phẩm

không thể thiếu trong mọi hoạt động vô cùng sôi động của con người. Khi đời sống

được cải thiện thì nhu cầu sử dụng sẽ càng ngày tăng cao về số lượng, chất lượng và

chủng loại. Chính vì lẽ đó thị trường tiêu thụ sản phẩm da giầy không những là một thị

trường không ngừng phát triển đầy tiềm năng mà còn trở nên thiết yếu không thể thiếu

được trong đời sống hiện đại.

Nền kinh tế của Việt Nam bước vào thế kỷ 21 đã có những vị thế mới. Chính từ

đây đã tạo nên nhu cầu sử dụng và khả năng sử dụng những sản phẩm từ đơn giản đại

trà cho đến những sản phẩm thời trang cao cấp mà chỉ một thời gian ngắn trước đây ít

người Việt Nam có khả năng được tiếp cận.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm là yếu tố sống còn đối với hoạt động của doanh

nghiệp. Chiến lược marketing, chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu là một

trong những chiến lược quan trọng của các công ty trong Ngành. Ngoài việc đáp ứng

các yêu cầu đòi hỏi của ISO 14000, SA 8000… và vượt qua các rào cản kỹ thuật khác,

việc xây dựng thương hiệu cho Ngành còn dựa vào các tiêu chí như tính dân tộc, tính

quốc tế, tính hiện đại và tuân thủ các quy định về môi trường.

Đối với thị trường nội địa, các doanh nghiệp Việt Nam trước đây ngại khai thác

vì để hiểu được người tiêu dùng muốn gì là điều rất khó và chi phí bỏ ra để gây dựng

được một thương hiệu là quá lớn, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ sức thực hiện.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 63

Vì vậy, số thương hiệu Việt được người tiêu dùng biết đến chưa nhiều, hiện chỉ đếm

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

được trên đầu ngón tay như Ladoda, Vina Giày, T&T, Biti’s, Bita’s, Thượng Đình,

Asia, Hồng Thạnh.

Nhìn chung, gần như ở cả ba phân khúc thị trường cấp thấp, trung bình và cao

cấp, sản phẩm trong nước của Ngành đều bị lép vế so với hàng ngoại nhập khẩu. Mặc

dù hiện nay, phương thức bán hàng tại các doanh nghiệp đã có nhiều đổi mới, hình

thành nhiều mạng lưới bán buôn, bán lẻ và phát triển hình thức thương mại điện tử.

Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm Ngành không chỉ tăng lên về số

lượng, chủng loại mà còn tăng cả về chất lượng và tính thời trang. Người tiêu dùng

gồm đông đảo mọi giới trong mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong xã hội trong hơn 86

triệu dân Việt Nam đang trở thành một lực lượng khách hàng khổng lồ tiêu dùng sản

phẩm da giầy.

Đối với sản phẩm giầy dép, từ việc chỉ cung ứng được khoảng 20% - 30% tổng

số giầy dép cho thị trường nội địa trước đây các doanh nghiệp trong nước đã phân chia

lại “miếng bánh” thị phần qua việc khẳng định chất lượng hàng hóa. Theo Hiệp hội Da

giày Việt Nam, với đời sống ngày một nâng cao, mức tiêu thụ bình quân của người

dân Việt Nam hiện nay đã tăng từ 0,6 đôi giày/người/năm (năm 2000) lên hơn 1,5 đôi

giày/năm (năm 2011).

Với hơn 86 triệu dân, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giầy dép cho thị trường nội địa

hiện nay ở khoảng 140 triệu đôi/năm (chủ yếu sản phẩm giả da). Con số này chiếm

một tỷ lệ không nhỏ trong tổng sản xuất khoảng 780 triệu đôi/năm của toàn Ngành.

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, sản lượng giầy dép do các doanh nghiệp

trong nước sản xuất và cung ứng cho thị trường nội địa năm 2011 khoảng 70 triệu đôi,

chiếm 50% tổng nhu cầu tiêu thụ, tương ứng khoảng 750 triệu USD. Trong đó, khoảng

30 triệu đôi các loại được sản xuất phục vụ thị trường trong nước và khoảng gần 6%

sản lượng giầy dép dư thừa từ xuất khẩu được tiêu thụ tại thị trường nội địa. Còn đối

với sản phẩm cặp, túi xách, balô các loại trong năm 2011, tại thị trường nội địa tiêu thụ

khoảng 25 triệu chiếc các loại, trong đó có khoảng 15 triệu chiếc được sản xuất từ các

doanh nghiệp Việt Nam.

Như vậy, thị phần sản phẩm giầy dép sản xuất trong nước chiếm khoảng gần

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 64

50%, thị phần sản phẩm cặp, túi xách, balô các loại chiếm 60% tổng sản phẩm tiêu

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

thụ tại thị trường nội địa. Thị phần còn lại đang bị hàng nước ngoài chiếm lĩnh mà

nhiều nhất là hàng Trung Quốc bởi mỗi năm thị trường này sản xuất 11 tỷ đôi nên tỷ lệ

đa dạng hóa mẫu mã rất cao, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, thuận tiện cho

khách hàng chọn lựa. Các loại giày dép nhái, giả, kém chất lượng với lợi thế giá rẻ

cũng tràn ngập phân khúc thị trường người có thu nhập thấp.

Bảng 2.7:Tổng hợp sản lượng tiêu thụ sản phẩm giầy dép

phục vụ thị trường nội địa năm 2011

Tỷ lệ % Nguồn cung cấp sản phẩm Sản lượng (Đôi)

Doanh nghiệp xuất khẩu dư thừa 39.679.000 28,5

Các doanh nghiệp trong nước sản xuất 29.602.000 21,3

Hàng nước ngoài 69.719.000 50,2

Tổng 139.000.000 100

Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt Nam

2.2.2. Tình hình cung cấp sản phẩm da giầy cho thị trường nội địa

2.2.2.1. Hàng nhập khẩu

Đây là các loại sản phẩm được nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài và thường

thông qua các hình thức như qua các công ty đứng ra làm đại lý phân phối cho các

thương hiệu (Công ty Hoàng Phúc phân phối cho Convers, Công ty Phương Bắc phân

phối cho Bata, Công ty phân phối cho Clack…); các cửa hàng nhập khẩu từ nước

ngoài về bán (các sản phẩm này thường là hàng sale off); qua các loại hình hàng xách

tay, loại hình này thường ít về số lượng nhưng giá cả đắt.

Theo cam kết WTO, từ ngày 1/1/2009, mọi hạn chế đối với các công ty phân

phối, bán lẻ 100% vốn nước ngoài sẽ được dỡ bỏ. Theo đó các siêu thị 100% vốn nước

ngoài sẽ được vào Việt Nam. Hiện nay, tại các siêu thị có vốn của nước ngoài (Park

Son, Diamion Praza, Vincom…), bên cạnh các sản phẩm của các hãng có thương hiệu

nổi tiếng xuất xứ ở Châu Âu còn có nhiều sản phẩm chưa phải là của các hãng nổi

tiếng, có xuất xứ từ các nước châu Á thậm chí còn có xuất xứ từ các nước Đông Nam

Á như: Thái lan, Malaysia, Indonexia, Philipin. Tình hình tiêu thụ sản phẩm Ngành ở

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 65

đây rất tấp nập và những sản phẩm này đang ngày càng có uy tín trên thị trường nước

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

ta do đáp ứng được phân khúc thị trường dành cho khu vực thành thị có thu nhập ở

mức trung lưu khá.

Giới chuyên môn nhận định trong bối cảnh hệ thống phân phối Việt Nam còn

nhiều hạn chế, sự xuất hiện của các đối thủ đến từ nước ngoài sẽ giúp thị trường phong

phú hơn, chuyên nghiệp hơn và người tiêu dùng có thêm nhiều cơ hội lựa chọn. Nhưng

với các nhà bán lẻ nội địa, sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn.

2.2.2.2. Hàng gia công dư tồn

Đây là hàng được sản xuất tại Việt Nam và được gắn mác Made in VietNam.

Phương thức sản xuất là nhà nhập khẩu đặt đơn hàng, các doanh nghiệp đóng tại Việt

Nam sẽ thuê mướn lao động, sử dụng máy móc thiết bị để sản xuất trên cơ sơ mẫu đối

và sự chuẩn bị, chỉ định của nhà đầu tư. Qui trình sản xuất các sản phẩm này đều được

kiểm soát gắt gao bởi các chuyên gia nước ngoài hoặc hệ thống các tiêu chuẩn của

mẫu đối chứng và do các chuyên gia Việt Nam đảm nhận. Các sản phẩm thuộc kênh

này được đưa ra thị trường do hàng hỏng, lỗi (hàng phần trăm) và các nguồn khác.

2.2.2.3. Hàng do Việt Nam sản xuất, theo tiêu chuẩn hàng xuất khẩu

Các doanh nghiệp Việt Nam nhận các đơn đặt hàng từ phía đối tác nước ngoài

theo mẫu mã và chất lượng được qui định sau đó tiến hành sản xuất. Tại đây, theo qui

định, các công ty thường làm dư ra từ 3 - 5% để dự phòng bù hợp đồng. Sau khi hàng

được xuất đi từ 3 - 6 tháng, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được phép thanh lý hàng.

2.2.2.4. Hàng copy bán tại thị trường nội địa

Đây là nguồn cung cho thị trường với nhiều mức chất lượng khác nhau và dưới

các hình thức khác nhau. Có loại hàng do các nhà nhập khẩu lớn ở nước ngoài chuyên

làm hàng copy của các thương hiệu lớn. Họ thường đến Việt Nam, Trung Quốc đặt

hàng với số lượng lớn với mẫu mã mang thương hiệu nổi tiếng thế giới. Trong quá

trình sản xuất, các nhà nhập khẩu cũng phải đặt tỷ lệ hàng dư để dự phòng hợp đồng

với tỷ lệ từ 3 - 5% hoặc trong những trường hợp rủi ro trong kinh doanh, nhà nhập

khẩu có thể bỏ lại toàn bộ sản phẩm và số tiến đặt cọc. Doanh nghiệp da giầy trong

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 66

nước buộc phải đưa ra thị trường tiêu thụ để thu hồi vốn.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

2.2.2.5. Hàng do doanh nghiệp Việt Nam tự sản xuất kinh doanh

Đối với loại hàng này có 2 cách hoạt động. (1) Một là: do các nhà máy sản xuất

gia công xuất khẩu được tự chủ về kinh doanh sẽ tận dụng nguyên liệu dư thừa khi làm

hàng gia công xuất khẩu để làm hàng bán tại thị trường nội địa. Loại hàng này nhìn

chung chất lượng tốt bởi được sử dụng các điều kiện sản xuất tốt. Tuy nhiên, các

doanh nghiệp đều phải giữ nguyên tắc mẫu mã thường không giống hàng chính hãng.

(2) Hai là: do doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề trong nước tự thiết kế và mua

nguyên liệu bán thành phẩm. Nhìn chung, sản phẩm từ các nguồn cung này có chất

lượng sản phẩm hạn chế, mẫu mã không đẹp, hình thức kinh doanh buôn bán còn thô

sơ. Tuy nhiên, một số năm gần đây số lượng các doanh nghiệp hoạt động theo hình

thức này ngày càng tăng và đang ngày càng tăng thị phần trong thị trường nội địa.

2.2.2.6. Hàng do nhập lậu

Đây là nguồn cung đang chiếm thị phần tương đối lớn trong thị trường nội địa

của nước ta. Các sản phẩm da giầy nhập lậu thường được tiêu thụ ở các vùng thuộc

phía Bắc nước ta và đặc biệt là Hà Nội và Hải Phòng.

2.2.3. Khả năng phân phối

Hầu hết các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp thuộc Ngành ở

Hà Nội đều nhận định, hiện các sản phẩm của Trung Quốc các loại với mẫu mã phong

phú, giá rẻ đang có xu thế lấn át hàng nội (Hà Nội). Trên các phố chuyên kinh doanh

giầy dép như Hàng Dầu, Cầu Gỗ, Phan Bội Châu... ấn tượng đầu tiên của khách hàng

thường không phải là giầy dép Việt Nam mà là của Trung Quốc.

Hầu hết các doanh nghiệp lớn chưa có mạng lưới phân phối trừ một số doanh

nghiệp đã có uy tín trên thị trường nội địa như công ty Ladoda, Thượng Đình, Bitit’s.

Họ chỉ sản xuất tập trung trong các khu công nghiệp sau đó hàng hóa làm ra được đưa

đến cảng chờ xuất khẩu. Việc tiếp thị phân phối sản phẩm hoàn toàn do đối tác nước

ngoài đảm nhiệm. Còn với sản phẩm tiêu thụ trong nước thì không được đưa vào

những trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm lớn mà chủ yếu được giao cho những

cửa hàng nhỏ bày bán lẫn lộn với các sản phẩm nội ngoại. Nếu người tiêu dùng tình cờ

hỏi đến thì những sản phẩm này có thể tìm được người mua nhưng thương hiệu thì

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 67

không được khẳng định.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Hầu như chưa có các cửa hàng bày bán sản phẩm của các doanh nghiệp này, nếu

có thì cũng chỉ là một số cửa hàng nhỏ lẻ “bán giầy dép xuất khẩu” ở những thành phố

lớn.

2.3. Đánh giá chung về tình hình phát triển thị trường nội địa của sản

phẩm ngành da giầy trong thời gian qua

2.3.1. Thành tựu

Quá trình xây dựng và phát triển thị trường tiêu thụ nội địa ngành da giầy đã đạt

được những kết quả sau:

Trong thời gian qua ngành da giầy Việt Nam không ngừng phát triển trang thiết

bị theo hướng ngày càng đổi mới và hiện đại hoá.

Lực lượng lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề tốt, có kỷ luật, chi phí lao

động còn thấp so với nhiều nước. Có khả năng sản xuất được các loại sản phẩm phức

tạp, chất lượng cao, được phần lớn khác hàng khó tính chấp nhận.

Nhiều doanh nghiệp trong ngành da giầy được tổ chức tốt, đáp ứng được các

tiêu chuẩn xã hội, xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các nhà nhập khẩu,

bán lẻ nước ngoài.

Ngành da giầy Việt Nam đã tận dụng được trong việc hấp dẫn các thương nhân

và nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư và làm ăn khi được đánh giá là điểm đến ổn định

về chính trị, an toàn về xã hội.

Đối với thị trường nội địa đã tạo ra được chỗ đứng cho sản phẩm da giầy do đã

xây dựng được một số thương hiệu lớn có uy tín; Người tiêu dùng trong nước hiện nay

đã hình thành thói quen lựa chọn sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hợp lí, có xuất xứ

rõ ràng, đặc biệt là hàng Việt Nam chất lượng cao hoặc hàng Việt Nam xuất khẩu; Các

nhà công ty có thương hiệu lớn trước đây chỉ chuyên tâm đến phục vụ hàng gia công

xuất khẩu nay do những tác động của kinh tế thế giới, do tác động của những rào cản

thương mại và phi thương mại đã bắt đầu suy nghĩ và có những dự tính không nhỏ cho

bước đầu chinh phục thị trường tiêu thụ nội địa sản phẩm da giầy.

2.3.2. Hạn chế

Về chất lượng, lượng tăng trưởng vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra đối với ngành

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 68

da giầy Việt Nam. Với những cơ hội do hội nhập mang lại, ngành da giầy Việt Nam

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

hiện chủ yếu tham gia vào khâu gia công sản phẩm với giá trị gia tăng thấp. Do vậy

việc thâm nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu là hết sức cần thiết để ngành da

giầy phát huy hơn nữa vai trò trong phát triển nền kinh tế đất nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được do tận dụng được cơ hội cũng như vượt qua

được những thách thức do hội nhập mang lại ngành da giầy vẫn còn những hạn chế:

Ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu, dẫn đến phần lớn nguyên phụ liệu phải

nhập khẩu từ nước ngoài, giá trị gia tăng không cao, thiếu linh hoạt và hạn chế khả

năng đáp ứng nhanh. Sản phẩm xuất khẩu phần nhiều vẫn theo phương thức gia công,

thiết kế mẫu mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức đơn đặt hàng còn

thấp, hiệu quả sản xuất thấp.Theo nhận định của một số chuyên gia ngành da giày, do

chưa có một ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, nên tỉ lệ nội địa hóa trong một sản

phẩm giày xuất khẩu của VN hiện nay còn rất khiêm tốn – khoảng 40 - 50%. Điều này

dẫn tới yếu tố giá trị nội địa VN tham gia trong chuỗi giá trị gia tăng trong sản phẩm

giày xuất khẩu rất thấp. Mục tiêu nâng dần tỉ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm là một

trong những vấn đề được các doanh nghiệp da giày VN đặc biệt quan tâm.

Hầu hết các doanh nghiệp là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp,

hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị.

Kỹ năng quản lý sản xuất còn kém, năng lực quảng cáo tiếp thị hạn chế, phần

lớn các doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu, các sản phẩm xuất khẩu phải

sử dụng nhãn mác nước ngoài, chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn cho

doanh nghiệp.

Cải cách hành chính còn chậm, năng lực cạnh tranh quốc gia về hạ tầng cơ sở

còn thấp so với các đối thủ cạnh tranh, một số chi phí chung như vận chuyển, cảng

khẩu… còn khá cao so với các nước.

Thiếu công nhân cục bộ tại các thành phố lớn. Mối quan hệ lao động, tiền lương

đang có chiều hướng phức tạp. Nhiều cuộc đình công tự phát đã xảy ra tại các thành

phố và khu công nghiệp tập trung đã ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất kinh doanh của

nhiều doanh nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh. Thiếu lao động kỹ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 69

năng trung cao cấp về công nghệ, thương mại, quản trị.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Thị trường tiêu thụ nội địa của sản phẩm ngành da giầy vẫn trong tình trạng

cung không đáp ứng đủ, đúng và chuyên nghiệp của cầu “Cung chưa hiểu thấu đáo cầu

trên mọi phương diện”.

2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển thị trường nội

địa của ngành da giầy

Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hướng tới việc phát triển thị

trường nội địa của Ngành nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:

2.4.1. Nguyên nhân khách quan

2.4.1.1. Môi trường kinh tế

Tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi ở trong nước đang gây ra nhiều khó

khăn cho các doanh nghiệp giày dép muốn quay về thị trường nội địa.

Thứ nhất, nguy cơ suy giảm kinh tế khiến cho nhu cầu tiêu thụ giày dép của

người dân giảm mạnh. Thu nhập giảm sút khiến người tiêu dùng phải cân nhắc sử

dụng ít giày dép hơn, sử dụng lâu hơn và khi mua thì chọn nhũng sản phẩm có giá

thành hợp lý. Hiện nay, giày dép xuất khẩu vẫn có mức giá bán tương đối cao so với

các loại giày dép trôi nổi trên thị trường nên giành giật thị phần là không hề đơn giản.

Thứ hai, ngay cả khi doanh nghiệp xuất khẩu muốn quay về thị trường trong

nước thì họ cũng gặp khó khăn về vốn để cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do nền

kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn nên điều kiện cho vay của các ngân hàng trở

nên ngặt nghèo hơn. Trong khi đó, các doanh nghiệp giày dép phần lớn lại là các

doanh nghiệp vừa và nhỏ, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng, nên việc bị

hạn ché cho vay dẫn đến sự thiếu hụt về vốn. Hiện nay, chính phủ đang có chủ trương

kích cầu, hạ lãi suất nhằm hỗ trợ các doang nghiệp, tuy nhiên gói kich cầu tỏ ra chưa

thực sự hiệu quả. Doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có các doanh nghiệp giày dép

vẫn gặp nhiều vướng mắc trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng.

Thứ ba, tỷ giá hối đoái VNĐ/USD liên tục có xu hướng tăng, đặc biệt là từ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 70

tháng 9/2009

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Bảng 2.8: Tỉ giá hối đoái theo thời gian

Trong khi doanh nghiệp giày dép vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu

nhập khẩu thì việc đồng USD liên tục lên giá như vậy khiến cho chi phí nguyên vật

liệu tăng cao. Nếu xuất khẩu, thì doanh nghiệp còn có thể lấy nguồn ngoại tệ thu được

để bù đắp cho sự thiệt hại do thay đổi tỷ giá gây ra. Còn nếu chuyển hướng về thị

trường trong nước trong điều kiện không được tăng giá vì sự mất khách hàng thì lợi

nhuận của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút rất nhiều.

2.4.1.2. Môi trường văn hóa - xã hội

Phần đông người tiêu dùng Việt Nam luôn có tâm lý chuộng hàng ngoại, thích

những sản phẩm giày dép có mẫu mã đẹp: kiểu dáng phù hợp với lứa tuổi, trang phục

đi kèm, màu sắc bắt mắt và giá rẻ, coi những yếu tố đó quan trọng hơn chất lượng sản

phẩm. Đặc biệt là người tiêu dùng trẻ, một lớp khách hàng có xu hướng tiêu dùng lớn,

thường thích những sản phẩm có kiểu dáng đẹp, mẫu mã lại phải thường xuyên thay

đổi, cải tiến. Trong khi đó giày dép xuất khẩu có chất lượng tốt nhưng giá cả lại cao

(cao hơn rưỡi đến hai, ba bốn lần) hơn hàng nhập ngoại còn mẫu mã sản phẩm thì kém

hơn (mẫu mã cũ, không độc đáo, màu sắc không đa dạng đặc biệt với người tiêu dung

trẻ thích màu sắc sặc sở: xanh, đỏ, tím, vàng…) nên không dễ dàng chinh phục được

người tiêu dùng.

2.4.1.3. Môi trường pháp luật chưa nghiêm

Môi trường pháp luật Việt Nam hiện nay chưa thực sự nghiêm khắc với nhập

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 71

khẩu hàng hoá đặc biệt là vẫn tồn tại buôn lậu các sản phẩm rất nhiều. Một điều đáng

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

nói là sản phẩm Trung quốc nhập khẩu vào Việt Nam phần lớn đều qua hình thức nhập

lậu không phải chịu thuế quan. Ngay cả sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng đến từ

Ý, Pháp, Hồng Kông, Bỉ,…cũng do nhập lậu hoặc là hàng hoá xách tay. Thậm chí

không chỉ những sản phẩm kinh doanh ven đường mà các cửa hàng lớn cũng buôn bán

nguồn hàng không hợp pháp này. Vì vậy, ngoại nhập tràn ngập thị trường Việt Nam với

giá rẻ đi rất nhiều do không phải chịu bất cứ loại thuế khoá nào. Điều đó làm cho việc

chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm trở nên

khó khăn gấp bội.

Ngoài ra, do sự quản lý của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo nên tình trạng

hang nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng rất phổ biến. Nhiều mặt hàng sản xuất ở

Trung Quốc với chất lượng thấp nhưng lại đương nhiên mang nhãn mác hàng hiệu nổi

tiếng của thế giới. Thậm chí nhiều sản phẩp còn nhái cả một số loại sản phẩm Việt

Nam có gia công xuất khẩu như: convers, adidas, nike,…Điều đó khiến cho người tiêu

dùng bị nhầm tưởng và có thể chọn những sản phẩm bề ngoài mang thương hiệu nổi

tiếng, nhưng thực chất là hàng hoá kém chất lượng.

2.4.2. Nguyên nhân chủ quan

2.4.2.1. Chiến lược phát triển của các doanh nghiệp chưa chú trọng thị

trường nội địa

Từ nhiều năm qua, tỉ trọng tiêu thụ tại thị trường nội địa so với xuất khẩu của

các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy xuất khẩu là rất nhỏ.

Sở dĩ các doanh nghiệp này lựa chọn chiến lược phát triển như vậy là vì việc

chỉ tham gia vào khâu gia công xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp không phải bận tâm

trong việc tìm kiếm thị trường, không phải tốn chi phí quảng cáo, marketing… Tận

dụng được việc chuyển giao công nghệ, máy móc từ nước ngoài phù hợp với điều kiện

Việt Nam hiện nay các ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển.

Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu, các doanh nghiệp vừa

và nhỏ với mục tiêu chỉ sản xuất sản phẩm phục vụ thị trường nội địa thì không chú

trọng đầu tư, cập nhật dây chuyền công nghệ, mẫu mà không phong phú và chất lượng

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 72

cũng không đảm bảo, không xây dựng chiến lược cũng như kế hoạch dài hạn.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

2.4.2.2. Chưa có các trung tâm thiết kế, viện nghiên cứu mẫu mã

Mẫu mã các sản phẩm da giầy Việt Nam không đa dạng, chưa tạo đựơc sự khác

biệt. Các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy của Việt Nam sản xuất, gia công cho các nhà

nhập khẩu nên việc thiêt kế mẫu mã theo yêu cầu của nhà nhập khẩu. Còn các sản

phẩm các doanh nghiệp tự sản xuất cung ứng cho thị trường nội địa thì mẫu mã không

cao. Đa số các doanh nghiệp chưa chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển sản

phẩm trong đó có việc thành lập các trung tâm thiết kế, viện nghiên cứu mẫu mã

nghiên cứu chuyên sâu về ngành nghề này để đa dạng sản phẩm, mà không có yếu tố

này thì sản phẩm của Ngành hạn chế cạnh tranh khi chiếm lĩnh thị trường nội địa.

Ngay trong các doanh nghiệp cũng chưa có phòng ban nghiên cứu, khảo sát thị

hiếu người tiêu dùng.

Ở nước ngoài họ có nhiều trung tâm chuyên nghiên cứu thiết kế mẫu vì vậy mẫu

mã của họ đa dạng phù hợp thị hiếu. Muốn đáp ứng nhu cầu khách hàng phải tìm hiểu

họ cần gì, phải tìm hiểu tâm lý và thị hiếu người tiêu dùng.

2.4.2.3. Tỷ lệ nội địa hóa thấp

Các doanh nghiệp sản xuất thuộc Ngành gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm

kiếm nguyên phụ liệu. Trên thực tế, việc sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành da giầy

trong nước chỉ đáp ứng ít nhu cầu của doanh nghiệp, tỷ lệ nội địa hóa chỉ chiếm

khoảng 50%, 50% còn lại là phải nhập khẩu. Nhóm nguyên phụ liệu của ngành da,

giày gồm các loại như: da và giả da, vải, đế giày, phụ liệu trang trí và nguyên liệu phụ

trợ. Trong số đó, lĩnh vực sản xuất đế giày phát triển khá mạnh và hiện trong nước đã

đáp ứng tới 70% nhu cầu. Còn phụ liệu trang trí, khả năng trong nước tới nay mới đáp

ứng 40 - 45%. Đơn cử là phụ liệu dành cho giày nữ, Việt Nam gần như phải nhập khẩu

hoàn toàn. Các loại keo dán, hóa chất cũng chỉ pha chế được một ít từ nguyên liệu

nhập khẩu, đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Nguyên phụ liệu có khi chiếm đến

75% giá thành của sản phẩm. Vì vậy, việc phụ thuộc quá nhiều vào nguyên phụ liệu

nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Mặc khác, sự phụ thuộc này sẽ đưa đến sự phát triển thiếu tính vững chắc nếu thị

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 73

trường cung cấp bị biến động. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da - Giầy

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025: Tỷ lệ nội địa hóa sẽ đạt 60% - 65% vào năm

2015 và 75% - 80% vào năm 2020.

2.4.2.4. Trình độ nhân lực chưa cao

Qua thực trạng lao động trong ngành da giầy nói chung và các doanh nghiệp

xuất khẩu nói riêng cho thấy phần lớn đội ngũ cán bộ khoa học – kĩ thuật chuyên

ngành có được là nhờ đào tạo ở nước ngoài hoặc các chuyên gia nước ngoài. Hiện nay,

nước ta có tổng số khoảng 812 doanh nghiệp ngành da giầy thu hút 750.000 lao động,

chưa tính các cơ sở nhỏ, hộ gia đình. Phần lớn lao động trong ngành da giày là phụ nữ

(trên 80%). Trong tổng số lao động tại các doanh nghiệp hiện nay, số có trình độ hết

lớp 12 chỉ chiếm 70%. Số công nhân được đào tạo qua trường lớp chỉ chiếm 20%.

Công nhân chủ yếu được đào tạo theo phương thức dạy bảo, truyền đạt lại từ những

công nhân cũ. Và chủ yếu cũng chỉ được đào tạo qua các trường công nhân kỹ thuật.

Trình độ văn hoá thấp sẽ dẫn đến khả năng tiếp thu khoa học công nghệ kém. Mà xu

thế của các doanh nghiệp da giày là áp dụng máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại vào

sản xuất. Vì thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao nên các doanh nghiệp hiện nay còn

nghèo nàn về mẫu mã, chủng loại.

Ngoài ra, các doanh nghiệp chưa có đội ngũ cán bộ thị trường, cán bộ

marketing có chuyên môn, năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu thị trường để nghiên

cứu, dự báo thị trường đưa ra những chiến lược hợp lí, xây dựng kênh phân phối hiệu

quả.

Với những hạn chế trên việc chiếm lĩnh thị trường trong nước của các doanh

nghiệp xuất khẩu giày dép là khá gian nan cần đầu tư và có thời gian. Nhưng với chất

lượng sản phẩm tốt, lợi thế giá nhân công, khả năng tìm hiểu phong tục - thị hiếu

người tiêu dùng dễ hơn các đối thủ cạnh tranh. Khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa

đối với các doanh nghiệp trong Ngành là hoàn toàn có thể nếu doanh nghiệp có các

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 74

giải pháp phát triển thị trường đúng đắn và được sự ủng hộ của Chính phủ.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

CHƯƠNG III

PHƯƠNG HƯỚNG, DỤ BÁO VÀ HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY ĐẾN NĂM 2015

3.1. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam

3.1.1. Quan điểm và Định hướng phát triển

Phát triển ngành da giày Việt Nam phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển

kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển công nghiệp cả nước, quy hoạch phát triển

kinh tế - xã hội các địa phương và lộ trình hội nhập quốc tế của Việt Nam; Huy động

các thành phần kinh tế, các nguồn lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài để xây

dựng và phát triển ngành da giày Việt Nam theo hướng chủ động phục vụ xuất khẩu và

tiêu dùng nội địa, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tăng việc làm, tăng thu nhập đi đôi

với cải thiện đời sống người lao động; Phát triển mạnh sản xuất nguyên phụ liệu và

công nghiệp hỗ trợ ngành da giày nhằm giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng, tham

gia sâu vào chuỗi giá trị gia tăng của thị trường sản phẩm da giày thế giới; Phát triển

ngành da giày Việt Nam nhanh, ổn định và bền vững theo hướng chuyên môn hóa,

hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ mới hiện đại với thiết bị tiên tiến, thân thiện với môi

trường nhằm tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao, chủ động hội nhập kinh

tế với khu vực và thế giới, từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công

sang tự sản xuất, kinh doanh; Gắn việc phát triển nhanh qui mô sản xuất với việc tập

trung mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa, nghiên cứu ứng dụng khoa

học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực được đào tạo trong đó quan tâm đặc biệt

đối với lao động nghèo, lao động nông nghiệp đang thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh

tế từ nông nghiệp sang công nghiệp; Gắn việc phát triển sản xuất trên cơ sở thực hiện

tốt trách nhiệm xã hội, thân thiện và bảo vệ môi trường; Chuyển dịch các cơ sở gia

công mũ giầy về các vùng nông thôn, vùng có nhiều lao động; Nâng cao năng lực tự

thiết kế mẫu mã và phát triển sản phẩm mới, ưu tiên ứng dụng công nghệ tự động hóa

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 75

trong thực hiện công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

3.1.2. Mục tiêu phát triển

3.1.2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng ngành da giày Việt Nam đến năm 2020

thành một ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế quốc

dân. Tiếp tục giữ vị trí trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm da

giày hàng đầu thế giới. Tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội trên cơ sở thu nhập của

người lao động ngày càng được nâng cao, thực hiện trách nhiệm xã hội ngày càng tốt,

số lượng lao động được qua đào tạo ngày càng tăng.

3.1.2.1. Mục tiêu cụ thể:

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành da giày giai đoạn 2011 –

2015 đạt 9,4%/năm; giai đoạn 2016 – 2020 đạt 8,8%/năm; giai đoạn 2020 – 2025 đạt

8,2%/năm;

Phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu năm 2015 là 9,1 tỷ USD; năm 2020 là 14,5

tỷ USD và năm 2025 đạt 21 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình

quân trong giai đoạn 2011 – 2015 là 10,9%/năm; giai đoạn 2016 – 2020 là 9,7%/năm

và giai đoạn 2021 – 2025 là 7,6%/năm;

Nâng dần tỷ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm. Phấn đấu năm 2015 tỷ lệ nội địa

hóa đạt 60-65%, năm 2020 đạt 75-80% và năm 2025 đạt 80-85%;

Cùng với ngành Dệt May và một số ngành liên quan làm trụ cột phát triển công

nghiệp Thời trang Việt Nam tại một số đô thị, thành phố lớn;

Xây dựng một số khu – cụm công nghiệp sản xuất da giày, sản xuất nguyên phụ

liệu và xử lý môi trường tập trung trên cơ sở lợi thế về hạ tầng và lao động để chủ

động cung cấp nguyên phụ liệu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành;

Xây dựng mới và phát triển các cơ sở đào tạo, các cơ sở nghiên cứu khoa học

công nghệ, các trung tâm kiểm định, dịch vụ ngành và các trung tâm Xúc tiến thương

mại, trung tâm Thời trang ở trong nước và nước ngoài.

3.1.3. Định hướng Quy hoạch phát triển

3.1.3.1. Quy hoạch sản phẩm chiến lược: Giầy dép là sản phẩm chủ lực của

ngành trong đó giầy thể thao và giầy vải được ưu tiên hàng đầu trong sản xuất và xuất

khẩu; Sản xuất giầy dép da thời trang và cặp túi ví chất lượng cao phục vụ thị trường

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 76

mới, thị trường cao cấp và thị trường nội địa; Tập trung sản xuất da thuộc với công

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường phục vụ chiến lược sản xuất giầy dép da thời

trang, cặp túi ví có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và thị trường nội địa. Đầu tư

sản xuất da thuộc được gắn liền với việc phát triển đàn gia súc góp phần giảm nhập

siêu và chủ động trong sản xuất. Sản lượng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng nhanh theo

năm.

3.1.3.2. Quy hoạch theo vùng lãnh thổ

Quy hoạch các trung tâm phát triển và bố trí năng lực sản xuất theo vùng lãnh

thổ được dựa trên lợi thế về nhân lực, về nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, giao thông,

cảng biển theo hướng: duy trì và phát triển các trung tâm da giày hiện có tại các đô thị

và thành phố lớn thành các trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụ công nghệ

có giá trị gia tăng cao; di dời các các cơ sở sản xuất đặc biệt là các cơ sở may gia công

mũ giầy về các vùng lân cận, các vùng nông thôn có nhiều lao động. Bố trí sản xuất và

đầu tư của ngành da giày trên toàn quốc được xác định thành 4 vùng chủ yếu như sau:

Vùng 1: Vùng đồng bằng sông Hồng: Qui hoạch theo định hướng lấy thành phố

Hà Nội làm trung tâm dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các cơ

sở sản xuất các sản phẩm giầy dép, cặp túi ví có giá trị cao, qui mô hợp lý và các trung

tâm xúc tiến thương mại chuyên ngành. Các doanh nghiệp sản xuất gia công sẽ được

phát triển hoặc di dời về các tỉnh như: Hải Dương, Bắc Ninh, các khu vực lân cận

thành phố Hải Phòng, Phố Nối (Hưng Yên), Đồng Văn (Hà Nam), Nam Định, Hà Nội

mở rộng, Phú Thọ và Vĩnh Phú. Tại khu vực này sẽ hình thành khu – cụm sản xuất và

kinh doanh mua bán nguyên phụ liệu và công nghiệp phụ trợ, cụm công nghiệp nhỏ và

làng nghề truyền thống. Phát triển trung tâm đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học

và ứng dụng, chuyển giao công nghệ.

Vùng 2: Vùng Đông Nam Bộ: Qui hoạch theo định hướng lấy thành phố Hồ

Chí Minh làm trung tâm dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các

cơ sở sản xuất các sản phẩm có giá trị cao, qui mô hợp lý và các trung tâm xúc tiến

thương mại chuyên ngành, xây dựng các cụm công nghiệp nhỏ và làng nghề truyền

thống tại các quận ven thành phố. Di dời các cơ sở thuộc da tại trung tâm và lân cận

thành phố đến các khu thuộc da tập trung cách xa thành phố và khu vực đông dân cư.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 77

Các cơ sở sản xuất giầy dép và cặp túi ví sẽ được phát triển hoặc di dời về các tỉnh

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

như: Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh. Tại khu vực này sẽ hình thành khu – cụm sản

xuất và kinh doanh mua bán nguyên phụ liệu và công nghiệp phụ trợ. Phát triển trung

tâm đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng, chuyển giao công nghệ.

Vùng 3: Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: Qui hoạch theo định

hướng lấy thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành cụm công nghiệp gia công

và sản xuất giầy dép, cặp túi ví lớn của ngành da giày . Các cơ sở may mũ giầy, sản

xuất giầy dép, cặp túi ví và sản phẩm da giày được chế biến từ da cá sấu và da đà điểu

sẽ được phát triển tại các tỉnh như: Bình Định, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa.

Vùng 4: Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Qui hoạch lấy thành phố Cần Thơ

làm trung tâm. Khuyến khích các doanh nghiệp phát triển mở rộng gia công sản xuất

giầy dép và thiết lập với các doanh nghiệp da giày trong khu vực do có lợi thế về

nguồn lao động và các hỗ trợ ưu đãi dành cho khu vực tiếp nhận chuyển dịch cơ cấu

kinh tế. Chú trọng phát triển sản phẩm da thuộc, giầy dép, cặp túi ví được chế biến từ

da cá sấu và da trăn. Đây là thế mạnh của vùng trong những năm gần đây do phát triển

được vùng chăn nuôi động vật có da nốt sần lớn nhất tại Việt Nam.

3.1.4. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành Da – Giầy

Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành giai đoạn 2011-2015 là 28.340 tỷ đồng.

Trong đó: Huy động trong nước: 12.340 tỉ đồng, chiếm 44%; Kêu gọi đầu tư nước

ngoài: 835 triệu USD, chiếm 56%; Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành giai đoạn

2016-2020 là 31.230 tỷ đồng.

3.1.5. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam

Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam được

xác định là là một trong 6 nhóm giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp sản xuất

da giầy Việt Nam trong những năm tiếp theo. Bên cạnh các giải pháp về đầu tư; Giải

pháp phát triển sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ; Giải pháp đào tạo phát

triển nguồn nhân lực; Giải pháp phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường;

Giải pháp quản lý ngành. Giải pháp phát triển thị trường nói chung và thị trường nội

địa nói riêng là giải pháp có tính đột phá. Giải pháp cũng xác định để tiếp tục giữ vững

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 78

và mở rộng thị phần xuất khẩu, từng bước chiếm lĩnh lại thị trường trong nước, ngành

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

da giày cần phát triển dựa trên nền tảng năng lực sản xuất mạnh và chủ động, với đội

ngũ doanh nhân đủ năng lực kinh doanh sản phẩm thời trang quốc tế. Cụ thể:

- Giữ vững sản phẩm chủ lực (giầy thể thao và giầy vải) và thị trường truyền

thống (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) đi đôi với chủ động và linh hoạt trong việc đổi mới cơ

cấu sản phẩm xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và cao của thị

trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu;

- Nghiên cứu để có cảnh báo sớm về việc khả năng bị áp đặt các biện pháp

trừng phạt chống trợ cấp và chống bán phá giá nhằm tránh các vụ kiện khi tham gia thị

trường thế giới. Đồng thời tiếp cận với việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương

mại về bán phá giá, về sở hữu trí tuệ để bảo vệ sản xuất và người tiêu dùng trong

nước;

- Tăng cường công tác xúc tiến thương mại thông qua Chương trình xúc tiến

thương mại quốc gia để giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống (Hoa Kỳ, EU,

Nhật) và phát triển thị trường mới (Trung Đông, Châu Phi, SNG, Châu Á). Thường

xuyên tổ chức hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước để các doanh nghiệp có cơ hội

quảng bá, giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng trong cả nước và nhà đầu tư nước

ngoài đang tìm kiếm cơ hội sản xuất kinh doanh sản phẩm da giày tại Việt Nam;

- Sản xuất các sản phẩm da giày với mẫu mã, chất lượng, giá cả phù hợp với thị

hiếu, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam. Phát triển, mở rộng hệ thống phân phối

sản phẩm của doanh nghiệp trong nước về các vùng nông thôn, miền núi. Hưởng ứng

và tham gia tích cực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”;

- Phối hợp với ngành Dệt May xây dựng một số trung tâm thời trang và kinh

doanh chuyên ngành tại các đô thị, trung tâm kinh tế lớn;

- Chủ động tiếp cận với các kỹ năng kinh doanh hiện đại trong đó chú trọng ưu

tiên xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu sản

phẩm, xây dựng thương hiệu nhóm hàng, thương hiệu ngành hàng nhằm tạo hình ảnh

cho sản phẩm da giày Việt Nam trên thị trường quốc tế và trong nước.

3.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm ngành da giầy

Hiện nay mức sống của người dân Việt Nam tuy đã được nâng cao, song tỷ lệ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 79

người dân có thu nhập cao, phụ thuộc vào kinh tế thế giới còn thấp; sản phẩm ngành

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

da giầy do các doanh nghiệp trong nước cung cấp chủ yếu phục vụ thị trường trung

bình và nông thôn do đó tác động của kinh tế thế giới đối với thị trường tiêu thụ sản

phẩm da giầy nội địa là không lớn.

Sự biến động của kinh tế thế giới trong những năm qua đã tác động làm giá trị

kim ngạch xuất khẩu đối với ngành da giầy không ổn định. Đối với thị trường tiêu thụ

nội địa của sản phẩm da giầy, các tác động lại mang một số yếu tố tích cực. Do có sẵn

những năng lực về nhà xưởng, máy móc thiết bị, công nhân, công nghệ…nên việc sụt

giảm thị trường xuất khẩu đã buộc các doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm xuất

khẩu quay lại với thị trường nội địa một cách nhanh chóng hơn rất nhiều.

Do sự biến động của kinh tế thế giới nên tình hình xuất khẩu vào các nước tiêu

thụ sản phẩm da giầy lớn trên thế giới của các quốc gia láng giềng với nước ta cũng

gặp khó khăn. Tác động này đã tạo cơ hội cho việc ‘sả hàng’ sang Việt Nam theo các

đường chính ngạch và không chính ngạch. Tình hình này đã tác động tiêu cực đến sản

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy nội địa. Các doanh

nghiệp đã yếu nay lại gặp những cơn lốc cạnh tranh không lành mạnh (hàng nhái, hàng

giả, hàng nhập lậu, hàng kém phẩm chất…) làm cho doanh nghiệp đã yếu lại càng yếu

hơn. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy phục vụ thị trường tiêu thụ nội địa

đang “điêu đứng trên sân nhà”.

3.2.1. Dự báo nhu cầu tiêu dùng sản phẩm giầy dép

Trong giai đoạn đến năm 2015, tầm nhìn 2020 cùng với sự tăng trưởng kinh tế

đất nước, mức sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu thiết yếu về giầy dép

cũng được nâng lên. Với số dân số ước sẽ tăng lên trên 95 triệu nguời vào năm 2020,

thị trường nội địa có tiềm năng lớn đối với Ngành, số lượng giầy dép hàng năm do các

doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất cung ứng sẽ gia tăng nhanh.

Giầy dép tiêu thụ tại thị trường nội địa chủ yếu là giầy dép do lực lượng thủ

công, các doanh nghiệp tư nhân sản xuất và một phần các sản phẩm không xuất được

của các doanh nghiệp sản xuất giầy dép xuất khẩu.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 80

Dự báo sản lượng giầy dép tiêu thụ trên thị trường nội địa được cụ thể như sau:

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Bảng 3.1: Dự kiến tiêu thụ giầy dép trong nước giai đoạn 2015 – 2025

Đơn vị

Năm 2010 Năm 2015 Năm 2020 Năm 2025

Triệu người 86,7 91,1 95,3 99,2 Dân số

Triệu đôi 130,1 164,0 209,7 248,0 Tiêu thụ giầy dép nội địa

Nguồn: Dự báo dựa trên các số liệu của Tổng cục Hải quan và Hiệp hội Da Giầy VN

1,5 1,8 2,2 2,5 Đôi/người/ năm Tiêu thụ bình quân đầu người

3.2.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng da thuộc thành phẩm

Trong thời gian tới nhu cầu da thuộc ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng

các sản phẩm giầy dép, cặp - túi - ví các loại, đặc biệt các loại giầy, cặp - túi - ví từ da.

Ngoài các loại da thuộc được sử dụng để sản xuất các loại giầy dép, cặp - túi - ví, các

loại da làm bọc đệm salon, các loại da mềm cao cấp để may quần áo da, găng tay mùa

đông cũng sẽ được quan tâm sử dụng.

3.2.3. Dự báo nhu cầu tiêu dùng cặp - túi - ví các loại

Các sản phẩm cặp - túi - ví rất đa dạng, bao gồm từ những sản phẩm có giá trị

rất lớn đến những sản phẩm có giá trị rất rẻ tiền. Có nhiều cách để phân loại giá trị của

các sản phẩm cặp - túi - ví trong đó có thể phân loại giá trị của các sản phẩm này theo

nguyên liệu chế biến sản phẩm.

Theo cách phân loại như trên, sản phẩm cặp - túi - ví được phân loại giá trị từ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 81

cao đến thấp như sau:

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Bảng 3.2: Phân loại cặp túi ví theo chất lượng sản phẩm

Vali Túi cặp Yên đệm Ví thắt lưng

Da thuộc đặc chủng Sản phẩm có giá trị đặc biệt cao

Da thuộc từ trâu, bò... Sản phẩm có giá trị cao

Sản phẩm có giá trị tương đối cao Giả da

Sản phẩm có giá trị thấp Vải

Sản phẩm có giá trị thấp Nhựa

Sản phẩm có giá trị tương đối cao

Theo số liệu dân số và các giả thiết về nhu cầu tiêu dùng trong nước dự kiến

nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm cặp - túi - ví trong nước như sau:

Đến năm 2015: 50,0 triệu chiếc

Đến năm 2020: 85,0 triệu chiếc

3.2.4. Dự báo nhu cầu nguyên phụ liệu

Bảng 3.3: Dự kiến nhu cầu nguyên phụ liệu ngành da giầy theo chủng loại

TT

Chủng loại

Đơn vị tính

2015

2020

Đến năm 2025

Da tổng hợp nhân tạo các loại

144,0

207,0

270,0

Triệu yard (=0,914m)

Vải làm giầy dép các loại

Triệu yard

248,0

356,5

465,0

1

Đế, gót giầy dép các loại

1.000 tấn

880,0

1.265,0

1.650,0

2

Phom giầy dép các loại

1.000 đôi

2.304,0

3.312,0

4.320,0

3

1.000 tấn

51,1

73,4

95,8

4

Dụng cụ cơ khí, phụ tùng và thiết bị máy móc

1.000 tấn

158,3

227,6

296,9

5

Phụ liệu kim loại làm giầy dép, đồ da các loại

1.000 tấn

16,0

23,0

30,0

6

Keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt, chống ẩm các loại

Phụ liệu dệt, vải các loại

1.000 tấn

17,0

24,5

31,9

7

Vật liệu từ giấy, bao bì, in các loại

1.000 tấn

255,4

367,1

478,8

8

9

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 82

Nguồn: Tính theo sản lượng quy hoạch và các định mức nguyên phụ liệu

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

3.3. Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị trường nội địa của ngành da

giầy Việt Nam đến năm 2015

3.3.1. Căn cứ đề xuất hệ thống giải pháp

Luận văn sử dụng kết hợp một số phương pháp để nghiên cứu đưa ra các đề

xuất hệ thống giải pháp nhằm định hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da

giầy giai đến năm 2015: phương pháp sử dụng ma trận SWOT ; phương pháp nghiên

cứu quan hệ Cung - Cầu.

3.3.2. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành da giầy trong

việc phát triển thị trường nội địa

Bảng 3.4: Phân tích theo ma trận SWOT đề xuất giải pháp

Định hướng phát triển thị trường nội địa sản phẩm da giầy

Điểm mạnh Điểm yếu

 Do phương thức sản xuất không  Do xuất phát điểm là một nước gia công sản

toàn diện, chủ yếu là phương phẩm da giầy lớn của các thị trường khó tính và

thức gia công, các doanh nghiệp có thương hiệu nên trình độ tay nghề về sản xuất

chủ động sản xuất chủ yếu là là điểm rất mạnh của Việt Nam;

doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở  Sẵn sàng cơ sở vật chất về đất đai, đã có hiểu

sản xuất nhỏ lẻ, làng nghề nên biết và kinh nghiệm thực tế trong công nghệ sản

việc ứng dụng các công nghệ cao xuất sản phẩm da giầy;

hạn chế;  Nguồn lao động dồi dào, trẻ và khéo tay;

 Thiếu năng lực thiết kế, cung  Chi phí lao động thấp so với các nước trong

vùng; ứng nguyên vật liệu, kiểm định,

 Có các trung tâm làng nghề hoặc một số doanh marketing, phân phối và hậu cần

nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy có uy tín trên chưa chuyên nghiệp, nhỏ lẻ,

thị trường nội địa; manh mún;

 Năng lực sản xuất sản phẩm của các doanh  Thiếu lao động trình độ kỹ thuật

nghiệp trong nước ở phân khúc thị trường dành và quản lý cao;

cho người có thu nhập trung bình hoặc nông  Thiếu liên kết ngành, liên kết

quốc gia; thôn rất cao, đáp ứng được nhu cầu, giá cả…

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 83

 Chưa có thương hiệu giầy dép  Nguồn khách hàng lớn, đang ngày càng ưa

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

quốc tế; (trừ Bitis) chuộng sản phẩm da giầy trong nước do giá cả

 Năng lực sản xuất sản phẩm ở hợp lí, chất lượng đảm bảo và mẫu mã đang

phân khúc thị trường trung, cao ngày đẹp hơn;

cấp còn hạn chế đặc biệt là các  Phương thức phân phối linh hoạt.

sản phẩm được sản xuất từ da

hoặc các nguyên phụ liệu cao

cấp;

 Thói quen ưa tiêu dùng hàng

ngoại do giá rẻ và chưa quan tâm

đến kiểm soát vệ sinh an toàn và

chất lượng chưa được cải thiện;

 Tiêu dùng sản phẩm da giầy của

Trung Quốc hiện nay đang trở

thành một trào lưu trong thị

trường nội địa do cả khách quan

và chủ quan.

 Hàng nội chưa tạo ra các kênh

phân phối chuyên nghiệp

Cơ hội Thách thức

 Nhiều doanh nghiệp có thương hiệu mạnh trên  Xu hướng tiêu dùng nhấn mạnh

thị trường gia công xuất khẩu sản phẩm da giầy đến thiết kế hợp thời trang và sản

đã bắt đầu có những dự kiến táo bạo cho phát phẩm chất lượng cao, bảo đảm

triển sản xuất sản phẩm da giầy để phục vụ thị sức khỏe và thoải mái. Nhưng

trường nội địa; các doanh nghiệp sản xuất sản

 Sản phẩm da giầy do các doanh nghiệp Việt phẩm da giầy trong nước chưa

Nam sản xuất đang ngày càng có uy tín trên thị sẵn sàng và chưa có khả năng

trường nội địa; đáp ứng nhu cầu trên;

 Nạn hàng nhái, hàng giả, hàng  Theo lộ trình gia nhập sâu vào WTO, từ 2009

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 84

các nhà kinh doanh bán lẻ lớn được mở rộng thị nhập lậu đang là vấn nạn của các

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

phần tại Việt Nam, cung cấp một nhóm các sản doanh nghiệp sản xuất sản phẩm

phẩm nhập khẩu chính ngạch có chất lượng phục da giầy trong nước. Các cơ quan

vụ phân khúc thị trường ở các thành phố lớn. chức năng chưa có giải pháp hữu

Điều này tạo cơ hội cạnh tranh quyết liệt giữa hiệu để ngăn chặn vấn nạn này;

các doanh nghiệp trong nước với thị trường nhập  Phân khúc thị trường sản phẩm

khẩu sản phẩm da giầy, từ đó nâng cao trình độ giá rẻ ở các nước phát triển có xu

toàn diện cho các doanh nghiệp trong Ngành; hướng giảm đi trong tương lai dễ

biến thị trường Việt Nam trở  Giá cả các sản phẩm nhập khẩu luôn cao hơn các

thành nơi “xả” hàng không xuất sản phẩm được sản xuất trong nước là cơ hội để các

khẩu được. doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm giữ được thị

trường nội địa ở các vùng nằm ngoài các thành phố

lớn;

 Kinh tế Việt Nam tiếp tục trụ vững và phát triển tạo

điều kiện nâng cao đời sống của người dân là cơ hội

tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội trong đó có sản

phẩm da giầy;

 Do sản phẩm da giầy có vòng đời ngắn nên nhu cầu

tăng lên về sản phẩm;

 Do được tiếp cận với các sản phẩm cao cấp ngay

trên sân nhà nên có cơ hội phát triển phân khúc sản

phẩm thị trường da giầy cao cấp có giá cạnh tranh,

 Môi trường kinh doanh được cải thiện và cơ sở hạ

thiết kế đẹp, theo kịp xu hướng thời trang ở EU;

tầng thuận lợi do phát triển các hình thức phân phối

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 85

tiên tiến: siêu thị, shop thời trang, chợ hiện đại…

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM DA GIẦY NỘI ĐỊA

CÁC KÊNH PHÂN PHỐI

Các công ty SX trong nước có thương hiệu

Các công ty đại lý các thương hiệu lớn

C¸c nhµ nhËp khÈu vµ ph©n phèi

Các nhà bán lẻ tại siêu thị lớn, cửa hàng nhỏ ,các shop thời trang,chợ

Bitis

ViNa Giầy

Ladoda

.......

Giầy TĐình

Nhãm gi¶i ph¸p 3

Nhãm gi¶i ph¸p 3

Nhãm gi¶i ph¸p 1

Nhãm gi¶i ph¸p 1 Nhãm gi¶i ph¸p 2 Nhãm gi¶i ph¸p 3

Doanh nghiệp gia công XK tham gia thị trường NĐ

DN nhập khẩu từ nước ngoài

DN,cở sở SX,làng nghề trong nước

CÁC KÊNH CUNG CẤP

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý

86

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

3.3.3. Hệ thống các giải pháp

3.3.3.1. Nhóm giải pháp 1: Tận dụng thế mạnh để Định hướng và Phát triển.

Trước mắt cần khẩn trương triển khai tốt chương trình quốc gia về phát triển thị

trường nội địa nhằm đánh giá chính xác những nhu cầu và năng lực đáp ứng nhu cầu

của thị trường đối với sản phẩm da giầy tại thị trường nội địa.

Xây dựng một chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ nội địa toàn diện (bao

gồm cả Cung lẫn Cầu). Mục tiêu của chiến lược nhằm tác động mạnh tới thái độ và

hành vi của người tiêu dùng Việt Nam cũng như các nhà sản xuất sản phẩm da giầy

trong nước; xây dựng được một hình ảnh đầy đủ về các doanh nghiệp sản xuất sản

phẩm da giầy trong nước đối với dân chúng. Thực hiện chiến lược theo phương châm

tích cực “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; “Người Việt Nam tự hào và

ưa chuộng dùng hàng Việt Nam”. Các doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện một số

giải pháp cụ thể như:

* Thay đổi chiến lược phát triển thị trường

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam chuyên sản xuất sản phẩm da giầy xuất

khẩu thì khi quay về thị trường nội địa không tránh khỏi những “bỡ ngỡ”. Muốn có hệ

thống phân phối tốt, các chính sách phát triển thị trường hợp lý thì các doanh nghiệp

này phải thay đổi ngay chiến lược phát triển thị trường của mình. Các doanh nghiệp

này cần tập trung vào thị trường nội địa bao gồm cả cạnh tranh về chất lượng giá cả

mẫu mã:

- Đảm bảo chất lượng sản phẩm và coi đó là sự khác biệt so với đối thủ canh

tranh;

- Cắt giảm chi phí, hạ giá thành sao cho giá bán có thể không thấp hơn sản

phẩm nhâp khẩu nhưng vẫn nằm trong khả năng tiêu dùng;

- Tập trung cải thiện mẫu mã đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.

* Tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu thị trường nội địa

Bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng là một tác nhân trên thị

trường nên phải nghiên cứu nhu cầu thị trường để phát triển sản xuất kinh doanh phù

hợp với thị trường. Nghiên cứu thị trường là xuất phát để đưa ra các chiến lựơc kinh

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 87

doanh, chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp. Trong những năm qua công

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

tác dự báo nhu cầu thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản

phẩm da giầy chưa được quan tâm hoặc quan tâm ở mức độ chưa cao, quy mô còn hạn

chế.

Để tìm hiểu thị trường các doanh nghiệp sản phẩm da giầy phải trả lời các câu

hỏi: Các sản phẩm da giầy nào được tiêu thụ nhiều? Thị hiếu người tiêu dùng tập trung

nhiều vào mẫu mã hay chất lượng? Đối tượng tiêu dùng là ai? Đối thủ cạnh tranh?...

Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu thị trường qua trung gian phân phối hoặc trực tiếp

nghiên cứu qua người tiêu dùng cuối cùng.

Nếu nghiên cứu qua trung gian phân phối đó là các đại lí sản phẩm. Doanh

nghiệp có thể chọn lọc vài đại lí để thực hiện điều tra nhu cầu khách hàng với các biện

pháp như: xúc tiến bán hàng giảm giá, thưởng hiện vật hay trả tiền cho mỗi phiếu điều

tra .

Nếu nghiên cứu trực tiếp qua người tiêu dùng thì doanh nghiệp phải cử cán bộ

trực tiếp đi đến tận hiện trường để nghiên cứu khảo sát, tiếp xúc trực tiếp với khách

hàng ở các quầy hàng, cửa hàng của doanh nghiệp hoặc thu thập phản ánh của người

tiêu dùng từ các cơ sản xuất kinh doanh. Hình thức điều tra này chủ yếu áp dụng ở Hà

Nội, thành phố Hồ Chí Minh nơi tập trung đông dân cư, qua hội chợ, triển lãm nhằm

tiết kiệm thời gian và chi phí.

* Nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí giảm giá thành sản phẩm

Nhằm đối phó với tình hình khó khăn chung của nền kinh tế, các doanh nghiệp

phải phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, nỗ lực, sáng tạo nhằm tìm ra cơ hội trong khó

khăn, tiếp tục duy trì và mở rộng sản xuất. Các doanh nghiệp chủ động nâng cao năng

suất, tiết kiệm chi phí giảm bằng cách tích cực củng cố lại công tác quản lý cũng như

khâu sản xuất.

+ Đối với công tác quản lý, điều hành

Các lãnh đạo và cán bộ quản lý của các doanh nghiệp cần thực hiện chỉ đạo và

điều hành một cách quyết liệt, linh hoạt, trực tiếp, hiệu quả. Tăng cường trách nhiệm

của người đứng đầu, xây dựng Quy chế trách nhiệm cho người đứng đầu, cơ cấu lại bộ

máy tổ chức cho hợp lý để phát huy những mặt mạnh, khắc phục ngay những mặt yếu

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 88

trong điều hành sản xuất kinh doanh để giảm giá thành ở mức tối thiểu.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

+ Đối với công tác tổ chức sản xuất

Các doanh nghiệp cần thiết lập kỷ luật sản xuất chặt chẽ đảm năng suất lao

động cao. Thực hiện tiết kiệm triệt để chi phí sản xuất: điện, nước, nguyên vật liệu,

nhân công… Tiến hành kiểm tra, giám sát chất lượng từng khâu, từng công đoạn trong

quy trình sản xuất giày dép tránh để một công đoạn phải làm lại nhiều lần hoặc sản bị

lỗi phải bỏ đi hoặc bán với giá rẻ hơn. Trong nội bộ doanh nghiệp tổ chức thi đua nâng

cao năng suất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất sản phẩm.

* Đầu tư công tác nghiên cứu, thiết kế mẫu mã sản phẩm

Hiện nay mẫu mã các mặt hàng da giầy của doanh nghiệp Việt Nam sản xuất

còn chưa phong phú. Muốn chiếm lĩnh thị trường cần có sự khác biệt hóa sản phẩm.

Các doanh nghiệp phải hợp tác với nhau xây dựng Viện thiết kế, trung tâm nghiên cứu

mẫu mã để sản xuất ra những sản phẩm có mẫu mã phong phú đáp ứng nhu cầu khách

hàng. Viện chủ đạo trong lĩnh vực thiết kế mẫu mốt thời trang, ra mẫu chào hàng, hỗ

trợ các doanh nghiệp trong tìm kiếm và mở rộng thị trường.

Ngay tại các doanh nghiệp cũng nên đầu tư phòng thiết kế, nghiên cứu mẫu mã.

Có như vậy các doanh nghiệp mới chủ động được việc đáp ứng nhu cầu người tiêu

dùng.

* Cố gắng tự chủ nguồn nguyên phụ liệu

Vì phải nhập và phụ thuộcquá nhiều vào nguyên phụ liệu của nước ngoài nên

chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành da giầy lớn, dẫn đến giá thành của

sản phẩm cao hơn một số loại sản phẩm cùng loại được bán trên thị trường. Để khắc

phục hạn chế này các doanh nghiệp phải có những giải pháp như sau:

- Để tạo nguồn nguyên liệu cung cấp sản xuất da, các doanh nghiệp cần kết hợp

với hộ nông dân đẩy mạnh việc chăn nuôi đàn trâu bò để tăng diện tích sử dụng của da

nguyên liệu;

- Các doanh nghiệp nên sử dụng những nguyên phụ liệu đã có, Việt Nam có thể

cung cấp được để thay thế cho nguyên phụ liệu và thiết bị nhập khẩu.

* Tiếp tục đào tạo, nâng cao đội ngũ cán bộ có năng lực, hiểu biết về nghiệp vụ

Khi kinh doanh trên thị trường nội địa - một thị trường thường xuyên biến

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 89

động, cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các cán bộ kinh doanh phải năng động sáng tạo, có

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

khả năng dự báo ứng phó kịp thời với những biến động của thị trường. Để có thể phát

triển tốt các doanh nghiệp cần phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có trình độ, tinh

thông nghiệp vụ, năng động sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu của công việc trong lĩnh

vực đảm trách. Đội ngũ cán bộ phải có kinh nghiệm, có tầm nhìn chiến lược, có khả

năng đưa ra các kế hoạch, các quyết định đúng đắn, sử dụng tốt các nguồn lực của các

doanh nghiệp. Các cán bộ nghiệp vụ cần hiểu biết rõ về công tác phát triển thị trường,

về mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh, biết nắm bắt thông tin và sử dụng thông tin có hiệu

quả... Do đó, các doanh nghiệp cần có kế hoạch phát triển nguồn lực đúng đắn, nâng

cao trình độ đội ngũ lao động thông qua việc :

- Cử cán bộ, nhân viên có năng lực đi nghiên cứu, học tập tại các lớp đào tạo

cán bộ kinh doanh trong và ngoài nước;

- Đào tạo nghiệp vụ kinh doanh và môn bổ trợ cho những cán bộ mới, giúp họ

nhanh chóng làm quen với công việc.

Bên cạnh đó, đội ngũ thiết kế cũng rất quan trọng quyết định sống còn tới việc

chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm da

giầy. Để phát triển đội ngũ này chúng ta có thể áp dụng các biện pháp sau:

- Cử đội ngũ thiết kế đi tham gia các hội chợ triển lãm, tham khảo các xu hướng

thiết kế mới, phù hợp với model hiện nay và thẩm mỹ quốc tế;

- Cử nhân viên thiết kế đi đào tạo tại các nước có ngành da giầy phát triển;

- Thành lập các phòng thiết kế quy mô ở các doanh nghiệp, có thể cùng nhau

tạo ra các khóa học, các trung tâm giảng dạy chuyên nghiệp đào tạo thiết kế…

Mặt khác với đội ngũ marketting cũng cần tuyển chọn những người năng động

và đặc biệt am hiểu về ngàng nghề cũng như từng loại mặt hàng phù hợp với thị hiếu

người tiêu dùng hiên nay. Đối với bất kỳ một ngành sản xuất nào marketting tốt đều

làm tăng giá trị của sản phẩm và thúc đẩy việc bán hàng tốt hơn. Song song với việc

phát triển đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, thiết kế, marketing thì các doanh nghiệp

cũng phải xây dựng đội ngũ công nhân đủ về số lượng, thạo về tay nghề đảm bảo đủ

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 90

điều kiện tiếp thu công nghệ mới.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Nhìn chung yếu tố con người luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi doanh

nghiệp, mọi tổ chức cho nên đây là một giải pháp cần được quan tâm và đầu tư thích

đáng.

3.3.3.2. Nhóm giải pháp 2: Nắm bắt Cơ hội và Thách thức nhằm xây dựng một

hình ảnh tốt cho sản phẩm da giầy do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất trên thị

trường nội địa

Từ lâu sản phẩm da giầy Việt Nam đã được khẳng định trên thị trường quốc tế.

Sản phẩm da giầy với thương hiệu gia công xuất khẩu đã từng được các thị trường EU,

Hoa Kỳ, Nhật Bản tiêu dùng với sản lượng cao. Tuy vậy, thương hiệu mới chỉ dừng lại

ở lĩnh vực gia công xuất khẩu và ở thị trường ngoài nước còn trong nước hình ảnh của

sản phẩm da giầy Việt Nam còn rất khiêm tốn. Do đó, việc xây dựng thương hiệu cho

các sản phảm da giầy được sản xuất từ trong nước là một việc làm hết sức cần thiết.

Khi đặt vấn đề xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp cần tránh tư tưởng

nóng vội, đốt cháy giai đoạn. Công việc này phải bắt đầu từ khâu thiết kế thương hiệu

đến khâu bảo vệ thương hiệu.

Trong khi xây dựng thương hiệu cần thực hiện theo hướng sau:

- Tập trung đầu tư cho các thương hiệu đã được khẳng định tại thị trường trong

nước và quốc tế như: Công ty TNHH may túi xách Minh Tiến - MiMi, Công ty sản

xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên - Biti's, Công ty Tư nhân Giầy Á Châu, Công ty TNHH

Thái Bình - TBS', Công ty 32 - Asega, Công ty Giầy An Lạc - Alsimex…

- Phấn đấu để tất cả các doanh nghiệp đều tham gia đăng kí được cấp giấy

chứng nhận bản quyền tác giả hoặc đăng kí nhãn hiệu hàng hoá tại các cơ quan có

thẩm quyền có giá trị cả trong nước và quốc tế. Tôn trọng các thương hiệu có bản

quyền. Cam kết không làm hàng nhái, hàng giả…

- Xây dựng hệ thống kênh phân phối

Cái khó nhất hiện nay là thị trường Việt Nam chưa có một kênh phân phối hàng

chuyên nghiệp như các nước trên thế giới. Để phát triển thị trường nội địa trước hết

cần chú trọng khâu này.

Thứ nhất: cần phát triển các cửa hàng phân phối sản phẩm ở các trung tâm

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 91

thương mại lớn, các khu dân cư đông đúc.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Thứ hai: xây dựng hệ thống các cơ sở bán buôn và bán lẻ, các đại lý rộng khắp

theo tôn chỉ “ phủ đầy, phủ dày”

Thứ ba: xây dựng kênh phân phối về thị trường nông thôn, miền núi sâu xa.

Các số liệu nghiên cứu đã chứng minh rằng thị trường nông thôn là miền đất rất tốt

cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nội địa, thay vì cứ phải “nhất quyết” ở các

thành phố lớn. Vùng nông thôn đang có 76,5% dân số sinh sống, đang giữ 62,5% tổng

GDP và có số lượng khách hàng sẵn sàng tiêu dùng nhiều gấp 3 lần khu vực thành thị.

Ngoài ra những người ở khu vực này thường có thu nhập chưa cao, thị hiếu tiêu dùng

của họ là phải lựa chọn những sản phẩm chất lượng tốt, độ bền cao. Mà sản phẩm da

giầy do các doanh nghiệp trong nước sản xuất đa phần có thể đáp ứng nhu cầu đó.

Thứ tư: các doanh nghiệp cần tích cực tham gia hội chợ, triển lãm.

Thư năm: các doanh nghiệp cần tăng cường quảng bá sản phẩm qua các phương

tiện truyền thông: quảng cáo trên tivi, mạng internet, báo,…

- Ngành da giầy Việt Nam do Hiệp hội da giầy Việt Nam làm đầu mối xây

dựng để tạo hình ảnh về cộng đồng các doanh nghiệp da giầy Việt Nam với các bạn

hàng gần xa đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thẻ trực tiếp trao đổi với

nhau qua hệ thống này, từ đó giúp phần tiếp cân, nắm bắt và giao dịch tốt hơn, hạn chế

rủi ro và cạnh tranh không lành mạnh... do thiếu thông tin.

3.3.3.3. Nhóm giải pháp 3: Vượt qua Hạn chế và Thách thức nhằm đẩy nhanh

sức tiêu dùng của xã hội cho sản phẩm da giầy trên thị trường nội địa

Trước mắt, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ nhân lực

hoạt động trong lĩnh vực thị trường.

Việc đưa sản phẩm ra thị trường là công việc của đội ngũ tiếp thị. Nhiều năm

qua, do phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài đã để lại cho chúng ta một nhiệm vụ

nặng nề và cấp bách là đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp thị xuất

khẩu khi bắt đầu chuyển sang phương thức xuất khẩu trực tiếp và hiện nay là kinh

doanh trên thị trường nội địa. Cũng giống như trong sản xuất, các thông tin thị trường

phải được thu thập và xử lý nhanh chóng thông qua đội ngũ cán bộ tiếp thị có trình độ.

Dựa vào xu hướng và nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp cần sản xuất và bán những

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 92

sản phẩm mà thị trường có nhu cầu. Để làm tốt công tác tiếp thị, cần một tri thức tổng

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

hợp về nhiều lĩnh vực khác nhau, từ hiểu biết rõ về sản phẩm đến các kỹ năng tiếp thị.

Cán bộ tiếp thị phải được đào tạo tốt về kỹ năng giao tiếp trong môi trường thị trường

nội địa để tăng sức mua của người tiêu dùng trong nước

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong Ngành nên chủ động trong việc đào tạo

đội ngũ công nhân có tay nghề sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của sản xuất theo công nghệ

tiên tiến hiện đại. Trong việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực, các doanh nghiệp của

Ngành phải đặc biệt đầu tư cho đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và tiếp thị xuất khẩu.

Tích cực cử cán bộ theo học các khoá đào tạo chuyên ngành trong nước hoặc nước

ngoài. Trong các doanh nghiệp sản xuất, số thợ cả vẫn còn rất thiếu. Vì không được

tiếp cận một cách trực tiếp thị trường thế giới nên các doanh nghiệp không thể theo kịp

được với xu hướng của người tiêu dùng để đáp ứng theo yêu cầu.

Hầu hết mẫu sản phẩm đều do các hãng lớn nổi tiếng thiết kế và đưa ra thị

trường như Nike, Reebok, Addidas, Timberland… Do chi phí thiết kế phát triển mẫu

mốt rất lớn nên các nhà sản xuất chỉ có khả năng triển khai trên cơ sở mẫu của họ.

Trước thực trạng đó, các doanh nghiệp nên tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật

triển khai mẫu mốt để có thể nhân mẫu và phát triển mẫu trên cơ sở mẫu của khách

hàng để đưa vào sản xuất hàng loạt như hiện nay đang làm.

Đào tạo đội ngũ tổ chức quản lý và điều hành sản xuất giỏi; huấn luyện đội ngũ

công nhân lành nghề sẵn sàng đáp ứng quá trình sản xuất với quy mô lớn và chất

lượng sản phẩm tin cậy.

Việc xây dựng các Trung tâm xúc tiến thương mại phục vụ tiêu dùng nội địa

đối với sản phẩm da giầy là một nhu cầu cấp bách. Trước mắt, Chính phủ và cộng

đồng các doanh nghiệp ngành da giầy cần hỗ trợ và chung tay để xây dựng 02 trung

tâm xúc tiến thương mại lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước đều gặp khó khăn như hiện nay,

các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn lớn. Đánh

giá về tầm vóc của các doanh nghiệp da giầy trong nước sản xuất kinh doanh phục vụ

thị trường nội địa đều cho thấy hiện tại hầu hết các doanh nghiệp thuộc Ngành đều có

qui mô nhỏ và yếu, chưa có đủ điều kiện trong hoạt động xúc tiến thương mại chuyên

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 93

nghiệp. Việc tổ chức triển lãm, trình diễn thời trang, quảng cáo, xây dựng tạp chí

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

chuyên ngành…nhằm phục vụ kớích thích sản xuất, kích thích tiêu dùng, kích thích

đầu tư mang tầm quốc gia và quốc tế đều manh mún. Toàn ngành chưa có cơ sở vật

chất để làm đầu mối giao dịch các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp trên

các lĩnh vực: xúc tiến thương mại, kỹ thuật đào tạo nhân lực quảng bá tuyên truyền sản

phẩm và tư vấn thông tin cho các doanh nghiệp... Do đó, việc xây dựng 02 Trung tâm

xúc tiến thương mại tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nhu cầu cấp

thiết nhằm bước đầu tạo dựng cơ sở vật chất cho hoạt động xúc tiến thương mại, giúp

các doanh nghiệp giải quyết những bất cập như hiện nay.

Việc chuyển đổi từ hoạt động gia công sang hoạt động độc lập là một thách

thức lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp, bước chuyển đổi này đòi hỏi mất

nhiều thời gian và công sức kể cả tiền bạc. Vì vậy, không thể thay đổi tất cả quá trình

sản xuất hiện tại ngay lập tức mà phải tiến hành dần từng bước và kết hợp cả hai

phương thức trong một giai đoạn nhất định, trong đó cần: gắn liền sản xuất với yêu cầu

của thị trường; bán hàng hoá với giá cả được thị trường chấp nhận; xúc tiến thương

mại phải ngày càng chuyên nghiệp trên cơ sơ tận dụng thành quả của khoa học công

nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin.

3.4. Đề xuất và khuyến nghị

3.4.1. Đối với Nhà nước

Xuất phát từ tầm quan trọng của các doanh nghiệp thuộc ngành da giày, các

doanh nghiệp này đóng góp lớn vào GDP của quốc gia, và điều cần thiết hơn cả là các

doanh nghiệp này đã và đang giải quyết công ăn, việc làm cho nhiều lao động trên cả

nước. Để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp này, Chính phủ cần có những giải

pháp tích cực giải quyết khó khăn trước mắt cũng như lâu dài cho các doanh nghiệp.

Đó là ngoài hỗ trợ trong lĩnh vực xuất khẩu còn phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp

phát triển tại thi trường nội địa.

- Về chính sách quản lý: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính

sách nhằm tạo thuận lợi hơn nữa trong việc tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp,

khuyến khích hoạt động của mọi thành phần kinh tế, quan tâm phát triển các doanh

nghiệp vừa và nhỏ; Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển các sản phẩm công

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 94

nghiệp; Nâng cao công tác quản lí thị trường, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

chất lượng; Tạo điều kiện để doanh nghiệp được tham gia các chương trình, đề án

nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển bền vững.

- Về phát triển sản xuất nguyên phụ liệu tại chỗ để tăng tỉ lệ nội địa hoá: Có

chính sách khuyến khích các dự án đầu tư và chuyển giao công nghệ thuộc da hiện đại

của nước ngoài vào nước ta. Ngành công nghiệp thuộc da là ngành cần rất nhiều vốn

để đầu tư chiều sâu. Do gây ô nhiễm nặng nề, nên chi phí bắt buộc cho việc xử lý môi

trường của ngành rất lớn. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư trong

nước chưa đủ khả năng tài chính để đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý chất thải; Có cơ chế

khuyến khích, ưu tiên cho các dự án đầu tư sản xuất các nguyên phụ liệu như: giả da

và da váng tráng PVC, PU, cao su tổng hợp, vật liệu phụ như mex, đế trong, nhãn mác

dệt, cơ khí chế tạo khuôn mẫu và phụ tùng thay thế cho các thiết bị da giày.

- Về chính sách thuế: Tiếp tục bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm thực

hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó

khăn đối với doanh nghiệp; Miễn giảm thuế thu thập doanh nghiệp, hỗ trợ tiền thuê đất

cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm da giày trong những năm đầu sản xuất phục

vụ thị trường nội địa.

- Về chính sách tín dụng: Cho phép áp dụng cơ chế tín dụng tài trợ cho các

doanh nghiệp trong Ngành từ Ngân hàng phát triển và các Ngân hàng thương mại với

lãi suất ưu đãi.

- Về chính sách đào tạo nguồn nhân lực: Chính phủ và Bộ Công thương cần hỗ

trợ (cả về kinh phí và chính sách) trong việc cho thành lập các trung tâm đào tạo nghề,

mở chuyên ngành da giày ở các trường đai học, để cung cấp nhân tài trong lĩnh vực

này; Tập trung ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ thiết kế, đội ngũ cán bộ kinh doanh giỏi

về marketing. Đây là lực lượng chủ yếu giúp doanh nghiệp chuyển đổi phương thức

sản xuất phù hợp, chiếm lĩnh thị trường mới; Xây dựng các trung tâm đào tạo nhân lực

ngành da giày.

3.4.2. Đối với Doanh nghiệp

- Để khai thác thị trường nội địa các doanh nghiệp cần có những chiến lược và

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 95

hướng đi nhất định trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mình.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

- Chú trọng đến việc tìm hiểu thị hiếu để đáp ứng mong muốn tốt của người tiêu

dùng, tìm hiểu xem họ có xu hướng mẫu mã như thế nào, giá cả để người tiêu dùng có

thể chấp nhận tiêu dùng.

- Tập trung đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng với giá cả phù hợp với mọi đối tượng.

- Quan tâm tới thị trường nội địa kể cả các vùng xa xôi; xây dựng hệ thống phân

phối, sản phẩm và chiêu thị rộng khắp với phương chấm kinh doanh “phủ dày, phủ

xa”.

3.4.3. Đối với người tiêu dùng

- Có chiến lược tác động đến nhận thức của người tiêu dùng trong việc tiêu thụ

sản phẩm, khuyến khích lòng tự hào của người dân khi sử dụng hàng Việt Nam.

- Phát huy vai trò đại diện của người tieu dùng thông qua Hội người tiêu dùng

Việt Nam nhằm: Đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng; tạo cơ hội người tiêu dung

tham gia đóng góp ý kiến vào sự phát triển nâng cao sản phẩm ngành.

3.5. Kết luận chương III

Chương III với tiêu đề: “Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị trường nội địa

ngành da giầy đến năm 2015”, trong chương này luận văn đã tập trung vào 02 nội

dung: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức và Hệ thống các giải pháp, kiến

nghị của ngành da giầy trong việc phát triển thị trường nội địa. Với 02 nội dung này,

luận văn đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể:

Trong phần Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành da giầy

trong việc phát triển thị trường nội địa, luận văn đã đưa ra nhận thức của tác giả về vấn

đề những thành tựu đã đạt được, những lợi thế cũng như những tồn tại khó khăn hiện

tại của Ngành. Song song với những lợi thế và những khó khăn tồn tại là những cơ hội

cũng như thách thức mà Ngành sẽ gặp phải trong giai đoạn tới.

Trong phần Hệ thống các giải pháp của ngành da giầy trong việc phát triển thị

trường nội địa, từ những nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới sự phát

triển của Ngành, luận văn đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm phát triển thị trường nội

địa của Ngành đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước và là một giải pháp hữu hiệu

cho các doanh nghiệp trong Ngành chuyên sản xuất sản phẩm xuất khẩu trong bối

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 96

cảnh kinh tế thế giới hiện giờ.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

KẾT LUẬN

Phát triển thị trường nội địa, thúc đẩy hoạt động thương mại cũng như bảo hộ

hàng hoá sản xuất trong nước đang rất cần một tầm nhìn chiến lược lâu dài và là một

quá trình đổi mới từ tư duy, nhận thức đến thiết kế chính sách pháp luật cũng như nâng

cao vai trò và hiệu quả của công tác quản lý của Nhà nước. Quá trình này cần phải

được sự đồng thuận của mọi cấp, ngành, doanh nghiệp và toàn xã hội. Có như vậy

chúng ta mới có quyền hy vọng có được một thị trường nội địa xứng tầm với vai trò vị

trí của nó trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Đối với quá trình định hướng phát triển thị trường nội địa của sản phẩm da giầy

cũng không nằm ngoài những qui luật chung đó và có những đòi hỏi riêng. Không thể

tồn tại một sự bất hợp lí cho một đất nước xuất khẩu hàng năm hàng tỷ USD với giá

gia công còn rất thấp để lại dùng tiền để đi nhập khẩu hoặc là chính tắc hoặc là nhập

lậu những sản phẩm kém chất lượng, giá cả cao chỉ vì thiếu sự định hướng, thiếu mẫu

mã đẹp và chi phí nhân công cao.

Một lần nữa khẳng định đây là thời điểm đã muộn nhưng không thể đừng cho

một sự định hướng nghiêm túc đối với sự phát triển của thị trường nội địa nói chung

và thị trường sản phẩm da giầy nội địa nói riêng.

Với những kết quả đạt được của Luận văn, tôi cũng nhận thấy đây là kết quả

bước đầu trong quá trình tập dượt để tham gia nghiên cứu khoa học, chắc chắn sẽ

không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý

kiến của các thầy, cô giáo và những người quan tâm đến vấn đề này để giúp tôi có thể

tiếp tục nghiên cứu phục vụ cho công việc hiện tại của mình.

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cảm ơn thầy giáo hướng dẫn đã giúp

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 97

đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢOTÀI LIỆUDANH MỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo tổng kết kế hoạch sản xuất kinh doanh ngành da giầy và túi xách năm

2011 - Hiệp hội Da giầy;

2. Giáo trình Kinh tế thương mại: Đặng Đình Đào – Hoàng Đức Thân NXB thống

kê 2003;

3. Giáo trình MarKeting căn bản: Trần Minh Đạo – NXB Giáo dục – 2003

4. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp: Hoàng Minh Đường - Nguyễn Thừa Lộc –

NXB LĐXH – 2006;

5. Viện Nghiên cứu và Đào tạo về Quản lý - Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm

mới - Nhà xuất bản Lao động - Hà nội 2005;

6. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn

2025 – Bộ Công Thương;

7. Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đến năm 2015 - Bộ Công

Thương;

8. Internet – Thông tin tra cứu và khai thác trên mạng

Gồm các trang Web chính sau:

http:// www.moit.gov.vn http:// www.gso.gov.vn http://www.lefaso.org.vn http://www.thuonghieu.com http://www.vietrade.gov.vn

http://www.thuonghieuviet.com.vn

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 98

http:// www.cbi.eu/marketinfo Bộ Công Thương - Quy hoạch tổng thể

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Da Giầy Việt Nam

Theo Loại Hình: Số Doanh nghiệp

Doanh nghiệp nhà nước 3

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 103

Liên doanh 9

100% Vốn nước ngoài 22

Công ty Cổ phần 47

TNHH Nhà nước một thành viên 3

Theo ngành nghề Số Doanh nghiệp

Giầy 153

Thuộc da 14

Nguyên phụ liệu 11

Cặp, túi xách các loại 6

Sửa chữa máy móc, thiết bị 3

Theo địa bàn Số Doanh nghiệp

Hồ Chí Minh 95

Hà Nội 33

Hải Phòng 22

Bình Dương 12

Hải Dương 6

Đồng Nai 4

Đà Nẵng 3

Cần Thơ 2

Thừa Thiên Huế 2

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 99

Vĩnh Phúc 2

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Phụ lục 2:

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm Ngành

trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Đơn vị: Triệu USD

2010

2011

2000

2005

2007

2008

2009

Kim ngạch xuất khẩu

1.721,1

3.511,5

4.622,4

5.601,2

5.303,0

6.082,8

7.802,0

I.Kim ngạch xuất khẩu giầy dép, cặp túi ví

1.468,1

3.039,6

3.994,3

4.767,2

4.000,0

5.124,0

6.523,0

- giày dép các loại

253,0

470,9

627,1

833,0

803,0

958,8

1.279,0

- cặp - túi - ví

61.400, 0

68.000, 0

96.300, 0

14.448, 1

32.442, 0

48.100, 0

58.600, 0

II. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước

11,9

10,8

9,6

9,6

8,6

8,9

8,1

Tỷ trọng I/II (%)

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 100

(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt nam và Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam)

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Phụ lục 3:

Sản xuất giầy dép toàn thế giới 2000 - 2010

Đơn vị: Triệu đôi

Khu vực 2000 2005 2007 2008 2010

Trung Quốc (TQ) 6.442,0 8.500,0 9.299,4 9.438,9 10.381,8

Châu Á (trừ TQ) 2.639,0 2.833,0 3.254,8 3.596,5 3.759,0

Trung Đông 375,0 357,0 464,9 488,2 640,2

Đông Âu 278,0 278,0 310,0 340,6 479,1

Tây Âu 917,0 646,0 620,0 651,1 635,2

Nam Mỹ 815,0 918,0 1.085,0 1.276.6 1.457,0

Bắc và Trung Mỹ 407,0 302,0 220,1 225,7 427,3

Châu Phi 194,0 184,0 232,5 241,0 301,9

Châu Đại Dương 12,0 9,0 12,3 15,4 19.5

Tổng 12.079,0 14.090,0 15.499,0 16.274,0 17.900,0

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 101

(Nguồn: Thị trường giày dép toàn thế giới, 2005 - 2010. SATRA TECHNOLOGY CENTRE, Kettering,)

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Phụ lục 4:

So sánh một số điều kiện hoạt động trong ngành giầy

(giữa Trung Quốc với các nước khác)

Trung Quốc Những khu vực khác của thế giới

Lực lượng lao động nhiều và tiền công rẻ , tổng chi phí xã hội thấp: 150 USD/tháng tương đương 0,75 USD/giờ

tương đương 1,35

Nguồn lao động dự trữ thậm chí không đủ và điều đó làm cho tiền công có thể là rất đắt khi được tính vào tổng chi phí xã hội: 150 USD/tháng USD/giờ

TQ hiện tại đã chiếm gần 60% tổng sản lượng toàn thế giới, các khu vực tập trung sản xuất giầy nằm dọc bờ biển với các dịch vụ hậu cần thuận lợi nhất Sản lượng (Năng lực) nhỏ hơn tại các quốc gia đơn lẻ với các dịch vụ hậu cần khó khăn hơn (như Ấn Độ và một số nước khác trong khu vực)

Có hệ thống MMTB đồng bộ/đạt tiêu chuẩn và có sự hỗ trợ công nghệ của Đài Loan

Nhiều loại máy móc/thiết bị đơn lẻ khác nhau và hạn chế về mặt khoa học công nghệ

Phải cạnh tranh, phải thoả mãn để đáp ứng theo các yêu cầu và trải qua nhiều nghiên cứu/phát triển lớn. Người mua tập trung theo các nhóm hàng; họ không có sự tiếp thị và không có chí phí R&D để hỗ trợ

Phần lớn các đơn đặt hàng từ Mỹ; các đơn hàng từ EU ngày càng gia tăng, đặc biệt từ sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO Các đơn hàng vào EU bị chia nhỏ và phải đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng và môi trường (những nhà cung cấp nhỏ lẻ rất khó đáp ứng các đòi hỏi này)

Người mua đưa các thiết kế, hoàn thiện sau cùng… Phải quan tâm các bộ sưu tập của chính nhà sản xuất

Thường phải theo các quy định chặt chẽ về nhân quyền và luật lao động.

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 102

Không bị cản trở bởi các quy tắc và các vấn đề theo quy định pháp luật và lợi ích thu được từ lách luật (được che chở); công nhân thu nhập thấp và tương đối dễ sai khiển.

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Nhãm gi¶i ph¸p 1 Nhãm gi¶i

Phụ lục 5:

Mục tiêu phát triển ngành Da - Giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025

Chỉ tiêu

Đơn vị

2010

2015

2020

2025

1 Tổng Giầy dép các loại

Triệu đôi

761,0

1.172,0

1.698,0

2.272,0

2 Cặp - túi - ví các loại

Triệu cái

98,0

170,0

285,0

438,0

3 Da thuộc

Da thuộc cứng

1000 Tấn

19,4

39,0

63,0

84,0

Da thuộc mềm (bia 30x30)

Triệu bia

122,5

197,0

277,0

353,0

4 Giá trị SXCN

Tỷ đồng

28.837,0

45.264,0

69.117,0

102.608,0

5 Lao động sử dụng

1000 người

682,0

838,0

1.003,0

1.167,0

6 Tổng KN XK ngành DG

Tỷ USD

5,4

9,1

14,5

21,0

Kim ngạch XK giầy dép

Tỷ USD

4,6

7,5

11,6

16,2

Kim ngạch XK cặp – túi - ví Tỷ USD

0,8

1,6

2,9

4,7

7 Tổng KN xuất khẩu cả nước Tỷ USD

60,2

106,0

170,0

250,0

8 XK DG/XK cả nước

%

9,0

8,6

8,5

8,4

9 Tỷ lệ nội địa hoá

%

50,0

60,0-65,0

75,0-80,0

80,0- 85,0

Tăng trưởng bình quân

2011-2015

2006-2010

2016-2020

2021- 2025

1 Tổng SL giầy dép các loại

%

7,2

9,0

7,7

6,0

2 Cặp - túi – ví các loại/năm

%

7,1

13,0

12,0

10,0

3 Da thuộc

Da thuộc cứng/năm

%

44,3

15,0

10,0

6,0

Da thuộc mềm (bia 30x30)/năm

%

33,2

10,0

7,0

5,0

4 Giá trị SXCN/năm

%

8,8

9,4

8,8

8,2

5 Lao động sử dụng

1000 người

4,8

4,2

3,6

3,1

Tổng KN XK ngành DG/năm

6

%

9,1

10,9

9,7

7,6

Kim ngạch XK giầy dép/năm

%

8,6

10,3

9,0

7,0

Kim ngạch XK cặp – túi – ví/năm

%

12,0

14,0

13,0

10,0

Tổng KN xuất khẩu cả nước/năm

7

%

13,1

11,9

10,0

8,0

(Nguồn: Số liệu tính toán của nhóm nghiên cứu)

Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 103