Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------
NGUYỄN THỊ DIỄM HẰNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.NGUYỄN VĂN LỊCH
Hà nội, năm 2012
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào.
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Diễm Hằng
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 1
Khóa: CH 2009 - 2011
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Phát triển thị trường nội địa đang là một nội dung đang được các doanh nghiệp
sản xuất giầy da trong nước quan tâm, phát triển trong chiến lược kinh doanh của
mình. Về mặt lý luận đây là một trong những vấn đề không mới, nhưng luôn có tính
thời sự, luận văn đòi hỏi phải có cần có cơ sở lý luận vững chắc làm nền tảng phân tích
thực trạng và chỉ ra thành tựu, hạn chế cũng như những nguyên nhân. Trên cơ sở đó
giúp tác giả đưa ra được những giải pháp khả thi nhằm đóng góp vào việc phát triển thị
trường nội địa cho sản phẩm giầy da Việt Nam trong những năm tiếp theo. Vì vậy,
luận văn không thể hoàn thành nếu không có giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của giảng viên
hướng dẫn và các giảng viên Khoa Kinh tế và Quản lý - Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo về sự giúp đỡ vô cùng quý báu đó.
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các cấp Lãnh đạo Viện
nghiên cứu Giầy da Việt Nam và các doanh nghiệp Giầy da đã tạo điều kiện để tác giả
được tập trung nghiên cứu và xây dựng luận văn, góp một phần nhỏ cho công cuộc xây
dựng và phát triển ngành Giầy da Việt Nam.
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động
viên tác giả hoàn thành công trình này.
Xin cảm ơn.
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Diễm Hằng
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 2
Khóa: CH 2009-2011
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................... 1 LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................... 2 MỤC LỤC .......................................................................................................................... 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ....................................................................................... 6 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ ....................................................................... 7 MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 8 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA ....................................................................................................... 11 1.1. Lý thuyết chung về thị trường và thị trường nội địa ................................................. 11 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về thị trường ............................................................. 11 1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thị trường nội địa ................................................. 15 1.2. Các tiêu chí đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp ...................... 35 1.2.1 Khả năng mở rộng và duy trì thị phần ............................................................... 35 1.2.2. Tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh ......................................... 36 1.2.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng ...................................................... 36
1.3. Sự cần thiết phải phát triển thị trường nội địa của các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Nam ........................................................................................................................... 37 1.3.1. Giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp ...................................................... 37 1.3.2. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường nội địa .................... 39
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 3
1.4. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á và một số doanh nghiệp Việt Nam trong việc phát triển thị trường nội địa ...................................................................................... 40 1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á ............................................................ 40 1.4.2. Kinh nghiệm phát triển thị trường nội địa của một số doanh nghiệp trong Ngành .......................................................................................................................... 42 1.5. Kết luận Chương I ..................................................................................................... 46 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM ...................................................................... 47 2.1. Đặc điểm phát triển của Ngành da giầy Việt Nam .................................................... 47 2.1.1. Cơ cấu ngành theo thành phần kinh tế .............................................................. 47 2.1.2. Thực trạng sản xuất ........................................................................................... 47 2.1.3. Tổ chức quản lý ................................................................................................. 50 2.1.4. Công tác đầu tư ................................................................................................. 51 2.1.5. Máy móc thiết bị ............................................................................................... 52
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2.1.6. Công nghệ ......................................................................................................... 54 2.1.7. Công tác đo lường và quản lý chất lượng sản phẩm ......................................... 56 2.1.8. Nguồn nhân lực ................................................................................................. 57 2.1.9. Công tác đào tạo ................................................................................................ 59 2.1.10. Nghiên cứu khoa học công nghệ ..................................................................... 60 2.1.11. Vệ sinh, an toàn lao động ................................................................................ 61 2.1.12. Bảo vệ môi trường .......................................................................................... 61 2.2. Thực trạng về thị trường tiêu thụ nội địa của ngành da giầy Việt Nam .................... 63 2.2.1. Tình hình tiêu thụ .............................................................................................. 63 2.2.2. Tình hình cung cấp sản phẩm da giầy cho thị trường nội địa ........................... 65 2.2.3. Khả năng phân phối .......................................................................................... 67
2.3. Đánh giá chung về tình hình phát triển thị trường nội địa của sản phẩm ngành da giầy trong thời gian qua .................................................................................................... 68 2.3.1. Thành tựu .......................................................................................................... 68 2.3.2. Hạn chế ............................................................................................................. 68
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy ............................................................................................................................... 70 2.4.1. Nguyên nhân khách quan .................................................................................. 70 2.4.2. Nguyên nhân chủ quan ...................................................................................... 72
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG, DỤ BÁO VÀ HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY ĐẾN NĂM 2015 ........................................................................................................................ 75 3.1. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam .................... 75 3.1.1. Quan điểm và Định hướng phát triển ................................................................ 75 3.1.2. Mục tiêu phát triển ............................................................................................ 76 3.1.3. Định hướng Quy hoạch phát triển ..................................................................... 76 3.1.4. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành Da – Giầy.............................................. 78 3.1.5. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam ....... 78 3.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm ngành da giầy ........................................... 79 3.2.1. Dự báo nhu cầu tiêu dùng sản phẩm giầy dép ................................................. 80 3.2.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng da thuộc thành phẩm ............................................... 81 3.2.3. Dự báo nhu cầu tiêu dùng cặp - túi - ví các loại ............................................... 81 3.2.4. Dự báo nhu cầu nguyên phụ liệu ...................................................................... 82
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 4
3.3. Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam đến năm 2015.................................................................................................................... 83
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 5
3.3.1. Căn cứ đề xuất hệ thống giải pháp .................................................................... 83 3.3.2. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành da giầy trong việc phát triển thị trường nội địa ........................................................................................ 83 3.3.3. Hệ thống các giải pháp ...................................................................................... 87 3.4. Đề xuất và khuyến nghị ............................................................................................. 94 3.4.1. Đối với Nhà nước .............................................................................................. 94 3.4.2. Đối với Doanh nghiệp ....................................................................................... 95 3.4.3. Đối với người tiêu dùng .................................................................................... 96 3.5. Kết luận chương III ................................................................................................... 96 KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 98 PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 99
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất theo thành phần kinh tế .................................. 47
Bảng 2.2. Số lượng các doanh nghiệp sản xuất theo chuyên ngành ............................... 48
Bảng 2.3: Cơ cấu số lượng doanh nghiệp sản xuất phân bố theo vùng........................... 48
Bảng 2.4: Tổng hợp sản lượng giầy dép phục vụ thị trường nội địa năm 2011 của các
doanh nghiệp trong nước ................................................................................ 49
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo các chuyên ngành và tỷ trọng lao động của ngành da
giầy trong ngành công nghiệp và ngành công nghiệp chế biến ...................... 57
Bảng 2.6: Cơ cấu trình độ lao động của toàn ngành và theo các chuyên ngành năm
2010 ................................................................................................................. 58
Bảng 2.7:Tổng hợp sản lượng tiêu thụ sản phẩm giầy dép phục vụ thị trường nội địa
năm 2011 ......................................................................................................... 65
Bảng 2.8: Tỉ giá hối đoái theo thời gian .......................................................................... 71
Bảng 3.1: Dự kiến tiêu thụ giầy dép trong nước giai đoạn 2015 – 2025 ........................ 81
Bảng 3.2: Phân loại cặp túi ví theo chất lượng sản phẩm ............................................... 82
Bảng 3.3: Dự kiến nhu cầu nguyên phụ liệu ngành da giầy theo chủng loại ................. 82
Bảng 3.4: Phân tích theo ma trận SWOT đề xuất giải pháp Định hướng phát triển thị
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 6
trường nội địa sản phẩm da giầy ..................................................................... 83
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mô hình năm năng lực lượng cạnh tranh ............................................ 29
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 7
Hình 3.1 Các kênh phân phối sản phẩm Ngành da giầy tại thị trường nội địa... 86
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngành da giầy Việt Nam đã có chiều dài lịch sử hình thành và phát triển trên
dưới nửa thế kỷ. Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, Ngành đều có những đóng góp
đáng kể cho sự phát triển kinh tế và thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội trong và
ngoài nước.
Trong các thập niên đầu tiên của thế kỷ IXX, do điều kiện giao thương với nước
ngoài còn hạn chế, sản xuất của Ngành còn ở trình độ thủ công, nền kinh tế còn nghèo
nàn lạc hậu, phụ thuộc thì vai trò của Ngành chủ yếu là đáp ứng tiêu dùng trong nước
cho một nhóm dân cư trong xã hội về sản phẩm giầy dép. Vị trí đóng góp về phát triển
kinh tế còn hạn chế so với các ngành khác như: nông nghiệp, buôn bán, khai thác mỏ...
Từ năm 1987 đến nay, trước nhu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế, ngành da giầy mới thực sự trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật tương đối độc lập,
hoạt động của Ngành với vị trí vai trò mới đã đóng góp một cách có hiệu quả không
thua kém các ngành kinh tế khác.
Tuy phát triển lớn mạnh và vượt bậc như vậy song tiêu thụ sản phẩm của
Ngành chủ yếu tập trung ở thị trường nước ngoài thông qua các hợp đồng gia công
xuất khẩu cho các hãng có thương hiệu lớn, các nhà nhập khẩu trực tiếp, các nhà nhập
khẩu trung gian (Nike, Rebook, Adidat, Skechers…). Trong suốt 10 năm qua, kim
ngạch xuất khẩu của Ngành thường xuyên chiếm tỷ trọng khoảng hơn 8% trong toàn
bộ kim ngạnh xuất khẩu chung của cả nước. Kết quả này đã đưa Ngành lên vị trí luôn
đứng ở trong nhóm 5 ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn của cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được trong xuất khẩu thì đã có không
ít những bài học đắt giá cho nhiều doanh nghiệp thuộc ngành da giầy Việt Nam. Trong
khi mải lo chạy đua, cạnh tranh khốc liệt ở bên ngoài, thì ngay chính trên “Sân nhà”
của mình lại để cho sản phẩm nước ngoài thống lĩnh. Đối với sản phẩm giầy dép, mặc
dù là một trong 5 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới nhưng các doanh nghiệp da giầy
Việt Nam lại phải chen chân trong việc cung ứng sản phẩm cho hơn 86 triệu dân tại thị
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 8
trường nội địa.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, năm 2011 sản lượng giày dép do
các doanh nghiệp trong nước sản xuất và tiêu thụ nội địa đạt gần 70 triệu đôi, chiếm tỷ
trọng gần 50% so với nhu cầu tiêu thụ 130 - 140 triệu đôi/năm.Các loại cặp, túi xách,
ba lô tiêu thụ nội địa ước khoảng 25 triệu chiếc, trong đó có khoảng 15 triệu chiếc
được sản xuất từ các doanh nghiệp Việt Nam, chiếm tỷ trọng trên 60%. 50% thị phần
còn lại là các sản phẩm nhập ngoại mà chủ yếu là sản phẩm Trung Quốc.
Nhưng quan trọng nhất là tình trạng nhập lậu các sản phẩm da giầy nước ta hiện
nay diễn ra tràn lan, với số lượng lớn không kiểm soát được. Tại một đất nước đông
dân, có tốc độ đô thị hoá rất cao, đang ở trong thời kì có tỷ lệ “dân số vàng”, có sức
mạnh trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm da giầy lại diễn ra tình trạng trên là một bất
cập lớn. Trên khắp các đường phố cũng như tại các vùng nông thôn hẻo lánh nơi đâu
cũng thấy trưng bày và tình trạng buôn bán “tấp nập” hàng giầy dép và đồ phụ trang
(túi xách, cặp ví ...) nhập lậu từ các vùng biên giới của các nước láng giềng với giá rẻ,
chất lượng kém. Sự xuất hiện một số gian hàng bán lẻ sản phẩm của một số thương
hiệu như Bata, Clarks,…tại một số siêu thị cao cấp với giá cao gấp khoảng từ 5 - 10
lần so với giá của hàng nhập lậu và hàng sản xuất trong nước đang tạo nên một thị
trường các sản phẩm da giầy nội địa hỗn loạn, khó kiểm soát. Các doanh nghiệp sản
xuất và kinh doanh trong lĩnh vực da giầy của Việt Nam tại thị trường nội địa đang bị
đẩy ra ngoài cuộc cạnh tranh và trở thành như những người “đứng ngoài cuộc” với tâm
trạng tiếc nuối và điêu đứng vì đã để mất vị thế của mình ngay trên “sân nhà” trong khi
cũng chính bàn tay mình đang làm ra những sản phẩm đẹp, chất lượng và giá cả cao để
mang đến “sân khách” với giá gia công rẻ.
Đứng trên giác độ hiệu quả kinh tế, tình hình sử dụng hàng nhập ngoại tràn lan,
khó kiểm soát về số lượng và chất lượng đang gây lãng phí cho nền kinh tế nói chung
và ngành công nghiệp da giầy nói riêng.
Nghiên cứu đánh giá tình hình thị trường nội địa của ngành da giầy trong giai
đoạn hiện nay là việc làm cần thiết nhằm đề xuất các giải pháp phát triển thị trường
nội địa của Ngành trong giai đoạn tới vừa theo đúng qui luật vốn có của nó vừa phù
hợp với thực trạng nền kinh tế đang khó khăn hiện tại của Việt Nam cũng như của thế
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 9
giới. Bên cạnh đó phát triển thị trường nội địa, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
các sản phẩm của Ngành cũng là việc làm thiết thực hưởng ứng cuộc vận động “Người
Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị.
Do đó, vì những lý do trên tôi chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường nội
địa của ngành da giầy Việt Nam đến năm 2015”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn nhằm đánh giá thực trạng tình hình cung cấp sản phẩm nhằm phục vụ
nhu cầu tiêu thụ cũng như tình hình tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa của ngành
da giầy để từ đó đưa ra đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển thị
trường, ổn định sản xuất trong nước và tận dụng những cơ hội để tăng trưởng bền vững.
Để thực hiện được mục tiêu đó nhiệm vụ nghiên cứu yêu cầu:
- Làm rõ những khái niệm về phát triển thị trường nội địa nói chung và vị
trí, vai trò của ngành da giầy Việt Nam nói riêng trong phát triển kinh tế xã hội.
- Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng tình hình sản xuất cũng như tiêu thụ tại
thị trường nội địa sản phẩm ngành da giầy từ đó đưa ra đề xuất các giải pháp và một số
khuyến nghị nhằm định hướng phát triển thị trường tiêu thụ nội địa sản phẩm da giầy.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở những quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và các chính
sách, văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến nội dung nghiên cứu.
- Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: thu thập số
liệu qua thực tiễn phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu ngành da giầy của Vụ Thị
trường trong nước, Vụ Xuất nhập khẩu, Vụ Kế hoạch (Bộ Công Thương), Viện
Nghiên cứu Da – Giầy, Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam trong những năm qua; khảo sát,
phân tích và tổng hợp đánh gia các văn bản pháp luật, phương pháp thống kê, hệ thống
hóa các dự án, công trình nghiên cứu đã được công bố...
4. Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường nội địa.
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường nội địa sản phẩm ngành da giầy Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng, dự báo và Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 10
trường nội địa sản phẩm ngành da giầy đến năm 2015.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
1.1. Lý thuyết chung về thị trường và thị trường nội địa
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về thị trường
1.1.1.1. Khái niệm thị trường
Có rất nhiều khái niệm về thị trường, mỗi nhà kinh tế định nghĩa theo một cách
khác nhau:
Nếu như Mc Carthy định nghĩa: “Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách
hàng tiềm năng với những nhu cầu tương đương và những người bán đưa ra các sản
phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thoả mãn các nhu cầu đó”.
Thì nhiều nhà kinh tế học khác lại quan niệm: “Thị trường là lĩnh vực trao đổi
mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa,
dịch vụ”. Hay đơn giản hơn người ta lại quan niệm: “Thị trường là tổng hợp các số
cộng của người mua về một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ”. Hay “Thị trường là cái
chợ, là nơi mua bán hàng hoá”.
Thời gian gần đây có nhà kinh tế còn định nghĩa: “Thị trường là nơi mua bán
hàng hóa, là một quá trình trong đó người mua và người bán trao đổi một thứ hàng hóa
tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, là nơi diễn ra các hoạt
động mua bán bằng tiền trong một thời gian và không gian nhất định.”
Các định nghĩa trên đây về thị trường đã nhấn mạnh về địa điểm mua bán và vai
trò của người mua - người bán. Nhưng đã nói đến thị trường là phải nói đến các yếu tố
sau:
1. Phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn với địa điểm xác định;
2. Khách hàng phải có nhu cầu được thoả mãn, đây chính là động cơ thúc đẩy
khách hàng thể hiện nhu cầu mua sắm;
3. Khách hàng phải có khả năng thanh toán;
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 11
4. Phương tiện và hình thức thanh toán chủ yếu là tiền.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
1.1.1.2. Phân loại thị trường
Có thể có nhiều cách thức khác nhau để mô tả thị trường, sở dĩ có sự khác nhau
đó là do mục đích và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Với mục đích nghiên cứu
thị trường để tìm ra giải pháp phát triển thị trường thì doanh nghiệp cần phải xem xét
thị trường của mình theo phương thức tổng quát đó là chia thị trường của mình thành:
Thị trường đầu vào và Thị trường đầu ra.
a) Thị trường đầu vào: việc nghiên cứu Thị trường đầu vào là quan trọng và đặc
biệt ý nghĩa đối với sự hiệu quả và ổn định của nguồn cung cấp nguyên vật liệu, hàng
hoá và dịch vụ cho doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Thị trường
đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và chất lượng của sản phẩm. Tuy nhiên trong
đề tài này ta chỉ chú trọng đến việc phân loại thị trường và cách thức phân loại thị
trường đầu ra.
b) Thị trường đầu ra: Nghiên cứu Thị trường đầu ra trực tiếp ảnh hưởng đến
các chiến dịch Marketing của doanh nghiệp. Mục tiêu của các chiến dịch Marketing là
giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Để mô tả thị trường đầu ra của
doanh nghiệp ta có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp 03 tiêu thức cơ bản: sản phẩm,
địa lý và thị hiếu khách hàng như sau:
- Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức sản phẩm:
Thị trường phân loại theo tiêu thức sản phẩm thường được các doanh nghiệp
phân loại theo các tiêu chí sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra bao gồm: Thị trường
tư liệu sản xuất và thị trương tư liệu tiêu dùng.
+ Tư liệu sản xuất là những sản phẩm dùng để sản xuất. Thị trường tư liệu sản
xuất là loại thị trường sơ cấp. Sản phẩm của thị trường này có các loại máy móc, thiết
bị sản xuất hay các loại hóa chất dùng trong sản xuất…
+ Hàng tiêu dùng là những sản phẩm dùng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá
nhân như: quần áo, giày dép, thuốc chữa bệnh, thực phẩm… Thị trường tư liệu tiêu
dùng là loại thị trường thứ cấp, cung cấp sản phẩm cuối cùng trong chuỗi sản xuất ra
thị trường.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 12
- Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức địa lí:
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức địa lý tùy thuộc vào chiến lược của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp thường xác định phạm vi địa lí, lãnh thổ mà sản phẩm của
họ có thể tiêu thụ hoặc vươn tới để kinh doanh. Theo tiêu thức này có thể phân chia
thành hai loại vùng lãnh thổ đó là: Thị trường trong nước và Thị trường quốc tế.
+ Thị trường trong nước: hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ chú
trọng đến thị trường trong nước. Thị trường trong nước có thể lưu thông hàng hóa dễ
dàng hơn và ít chịu hàng rào thuế quan cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm.
Tùy theo từng doanh nghiệp có thể chia thị trường trong nước ra các tiêu thức nhỏ hơn
theo miền, vùng, tỉnh/thành phố…
+ Thị trường quốc tế: thường thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn,
các công ty đa quốc gia. Tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm được quy định chặt chẽ theo
quy chuẩn quốc tế, doanh nghiệp có khả năng tài chính để dễ dàng vượt qua được các
hàng rào thuế quan của các nước để thâm nhập thị trường quốc tế. Thị trường loại này
có thể chia thành thị trường theo châu lục, thị trường theo khu vực…
- Thị trường tiêu thụ theo tiêu thức thị hiếu khách hàng:
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp mô tả thị trường của mình theo các nhóm
khách hàng mà họ có thể hưởng tới để thỏa mãn. Khách hàng của doanh nghiệp bao
gồm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Về nguyên lý, tất cả các khách
hàng có mặt trên thị trường đều có thể là khách hàng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối
với mỗi nhóm khách hàng khác nhau thì tiêu chí về sản phẩm khác nhau. Ví dụ: đối
với nhóm khách hàng thuộc vùng có thu nhập thấp thì yêu cầu cao nhất là giá rẻ còn
chất lượng của sản phẩm chỉ cần đạt được ở mức có thể chấp nhận được, còn đối với
nhóm khách hàng có thu nhập cao thì tiêu chí hàng đầu là mẫu mã đẹp và chất lượng
sản phẩm cao. Doanh nghiệp không thể đáp ứng được hết các nhu cầu đa dạng đó mà
chỉ có thể đáp ứng tốt một hoặc một số yêu cầu về cách thức mua sắm nào đó của
khách hàng. Tất cả những điều nêu trên dẫn đến một thực tế là hình thành trên thị
trường những nhóm khách hàng mà doanh nghiệp có thể chinh phục.
1.1.1.3. Chức năng của thị trường
Thị trường có tác động đến nhiều mặt của sản xuất tiêu dùng xã hội. Thị trường
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 13
là một loại dung môi đảm bảo cho các hoạt động sản xuất tiêu dùng phát triển liên tục
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
với quy mô ngày càng mở rộng. Thị trường đảm bảo cho hàng hóa tiêu thụ hợp lý, phù
hợp với nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Khi đã được thỏa mãn nhu cầu, thị trường
có tác dụng thúc đẩy, gợi mở nhu cầu đưa đến những sản phẩm chất lượng cao, đa
dạng làm cho chất lượng sống tăng lên, thúc đẩy xã hội phát triển. Vì vậy, thị trường
có các chức năng cơ bản sau:
a) Chức năng thừa nhận: đối với các doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm sản
xuất ra là để bán, các sản phẩm này muốn được tiêu thụ phải được thị trường thừa
nhận. Đối với các doanh nghiệp thương mại, mặc dù không trực tiếp sản xuất ra sản
phẩm nhưng sản phẩm hoặc dịch vụ họ cung cấp cũng phải được thị trường thừa nhận.
Nếu hàng hóa, dịch vụ được thị trường thừa nhận tức là có thể bán được thì doanh
nghiệp mới thu hồi được vốn và có lãi, thậm chí có thể mở rộng quy mô. Ngược lại,
nếu không được thị trường thừa nhận, doanh nghiệp sẽ dẫn đến chỗ phá sản. Do đó, để
được thị trường thừa nhận, trước khi cung cấp sản phẩm, doanh nghiệp đều phải tiến
hành nghiên cứu thị trường nhất là nhu cầu khách hàng về sản phẩm mà họ sẽ cung
cấp.
b) Chức năng thực hiện: Qua tiêu thụ, hàng hóa mới thực hiện được chức năng
giá trị của mình tức là chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái già trị. Thông qua thị
trường, hàng hóa được tiêu thụ khi đó tính hữu ích của sản phẩm mới được xác định.
Sự gặp gỡ giữa người mua và người bán được xác định bằng giá hàng hóa và hàng hóa
thực hiện được chức năng giá trị tức là chuyển từ người bán sang người mua. Thị
trường có chức năng thực hiện quá trình này.
c) Chức năng điều tiết và kích thích: Thông qua hành vi trao đổi hàng hóa trên
thị trường, thị trường điều tiết và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển hoặc ngược
lại. Thị trường thực hiện chức năng điều tiết khiến điều hòa sự rút lui hoặc gia nhập
của các doanh nghiệp. Chức năng này được thực hiện thông qua cơ chế đặc trưng của
thị trường. Nếu hàng hóa được tiêu thụ tốt sẽ kích thích doanh nghiệp mở rộng sản
xuất, đồng thời kích thích các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường để đa dạng
hóa sản phẩm cùng loại; ngược lại, nếu hàng hóa tiêu thụ kém hoặc không được tiêu
thụ thì doanh nghiệp buộc phải tìm giải pháp kinh doanh mới buộc doanh nghiệp rút
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 14
lui khỏi thị trường sản phẩm hiện tại.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thị trường nội địa
1.1.2.1. Khái niệm thị trường nội địa
Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm thị trường theo các góc độ khác nhau. Thị
trường nội địa được định nghĩa như sau:
Thị trường nội địa là tập hợp các thoả thuận, mà thông qua đó, người mua và
người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia.
1.1.2.2. Các đặc điểm của thị trường nội địa
1.1.2.2.1. Các đặc điểm vi mô
a) Các yếu tố về lực lượng bên trong của doanh nghiệp:
Đó là những nhiệm vụ, chiến lược, mục tiêu cụ thể, các chính sách và định
hướng phát triển do Ban lãnh đạo công ty vạch ra. Tình hình tài chính, máy móc thiết
bị của công ty. Các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn….
b) Những người cung ứng:
Những người cung ứng là các doanh nghiệp và các cá nhân đảm bảo cung ứng
các yếu tố cần thiết cho công ty và các đối thủ cạnh tranh để sản xuất ra hàng hoá và
dịch vụ nhất định. Bất kỳ một sự biến động nào từ phía nhà cung ứng, sớm hay muộn,
trực tiếp hay gián tiếp cũng sẽ ảnh hưởng tới đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty. Nguồn lực khan hiếm, giá cả tăng có thể làm xấu đi cơ hội thị trường cho việc
kinh doanh những hàng hoá và dịch vụ nhất định, tồi tệ hơn có thể buộc doanh nghiệp
phải ngừng sản xuất.
c) Các trung gian Marketing
Đó là các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp khác và các cá nhân giúp cho công
ty tổ chức tốt hơn việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình tới người tiêu
dùng cuối cùng.
Những người trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai trò rất
quan trọng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng hoặc là thực hiện công việc
bán hàng cho họ. Đó là những đại lý bán buôn, bán lẻ, đại lý phân phối độc quyền, các
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 15
công ty kho vận……
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
d) Khách hàng
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự
thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, quy
mô khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Khách hàng sẽ bao gồm nhu cầu. Bản thân
nhu cầu lại không giống nhau giữa các nhóm khách hàng và thường xuyên biến đổi.
Nhu cầu và sự biến đổi nhu cầu lại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, đến lượt mình
nhu cầu và sự biến đổi của nó lại ảnh hưởng đến các quyết định marketing của doanh
nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi khách hàng. Hiện nay,
doanh nghiệp thường tập trung vào 04 loại thị trường khách hàng sau:
- Thị trường người tiêu dùng: các cá nhân và hộ tiêu dùng mua hàng hoá và
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân.
- Thị trường khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến: các tổ chức và
các doanh nghiệp mua hàng hoá và dịch vụ để gia công chế biến thêm hoặc để sử dụng
vào quá trình sản xuất khác.
- Thị trường buôn bán trung gian: các tổ chức và các cá nhân mua hàng hoá và
dịch vụ cho mục đích bán lại để kiếm lời.
- Thị trường các cơ quan và tổ chức của Đảng và Nhà nước: mua hàng hoá và
dịch vụ mua mục đích sử dụng trong lĩnh vực quản lý và hoạt động công cộng hoặc để
chuyển giao tới các tổ chức, cá nhân khác đang có nhu cầu sử dụng.
e) Đối thủ cạnh tranh
Các Công ty đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Có 4 cấp
độ cạnh tranh như sau:
- Cạnh tranh mong muốn: tức là với cùng một lượng thu nhập người ta có thể
dùng vào các mục đích khác nhau. Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh mong muốn,
điều quan trọng là phải biết được những xu hướng tiêu dùng và do đó cách thức người
ta phân bổ thu nhập cho người tiêu dùng.
- Cạnh tranh giữa các loại sản phẩm khác nhau: để cùng thoả mãn một nhu cầu
mong muốn. Ví dụ như mong muốn về nước uống có thể gây ra sự cạnh tranh giữa các
hãng sản xuất nước uống tinh khiết, các hãng sản xuất nước ngọt, hãng sản xuất
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 16
bia….Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh này, doanh nghiệp cần phải biết thị trường có
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
thái độ như thế nào đối với các loại sản phẩm khác nhau và quan niệm của họ và giá trị
tiêu dùng mỗi loại.
- Cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm: ví dụ như trong cùng một công ty sản
xuất nước khoáng thì có thể sản xuất nhiều loại nước khoáng như: nước khoáng có ga
và nước khoáng tinh khiết… Khi quan tâm đến đối thủ cạnh tranh này, các nhà quản
trị marketing phải biết thị hiếu của từng thị trường đối với các dạng sản phẩm khác
nhau.
- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu: khi nghiên cứu cạnh tranh giữa các nhãn hiệu
cần phải biết sức mạnh và điểm yếu của từng nhãn hiệu và các công ty tương ứng.
f) Công chúng trực tiếp
Đó là một nhóm, một tổ chức nào có mối quan tâm thực sự hoặc có thể sẽ quan
tâm hay ảnh hưởng tới khả năng đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Có ba loại
công chúng trực tiếp:
- Công chúng tích cực: là nhóm quan tâm tới doanh nghiệp với thái độ thiện chí
- Công chúng tìm kiếm: là nhóm mà công ty đang tìm sự quan tâm của họ
- Công chúng không mong muốn: là nhóm mà doanh nghiệp cố gắng thu hút sự
chú ý của họ, nhưng luôn phải đề phòng sự phản ứng từ nhóm khách hàng.
1.1.2.2.2. Các đặc điểm vĩ mô
a) Môi trường nhân khẩu học
Nhân khẩu học nghiên cứu các vấn đề về dân số và con người như quy mô, mật
độ, phân bố dân cư, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết… Môi trường nhân khẩu học ảnh hưởng lớn
đến doanh nghiệp, bởi vì nó bao hàm con người và con người tạo ra thị trường cho
doanh nghiệp.
b) Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung về
cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình hình đó có thể tạo nên tính hấp dẫn của thị
trường và sức mua khác nhau đối với các thị trường hàng hoá khác nhau.
Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 17
chi tiêu của người tiêu dùng
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Ở Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì một bộ phận không nhỏ tầng lớp dân cư có thu
nhập thấp, do đó đòi hỏi chất lượng hàng hoá dịch vụ chưa cao, đặc biệt dân cư nông
thôn. Cho nên nông thôn cơ cấu chi tiêu và mua sắm càng khác so với thành phố.
c) Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều
mặt tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà sản xuất - kinh doanh và chúng có
thể gây ảnh hưởng cho các hoạt động marketing trên thị trường.
d) Môi trường công nghệ - kỹ thuật
Môi trường công nghệ - kỹ thuật bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh hưởng
tới công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường.
e) Môi trường chính trị
Môi trường chính trị là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến các
quyết định marketing của doanh nghiệp. Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật
và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy và cơ
chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội.
f) Môi trường văn hoá
Văn hoá được định nghĩa là một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm tin, truyền
thống và các chuẩn mực hành vi đơn nhất với một nhóm người cụ thể nào đó được
chia sẻ một cách tập thể. Văn hoá là vấn đề khó nhận ra và hiểu thấu đáo, mặc dù nó
tồn tại khắp nơi, và tác động thường xuyên tới kinh doanh của doanh nghiệp và các
quyết định marketing của nó. Đôi khi nó trở thành hàng rào “gai góc” đối với các nhà
hoạt động marketing.
1.1.2.3. Các nhân tố cấu thành của thị trường nội địa
1.1.2.3.1. Thị trường người tiêu dùng
a) Thị trường người tiêu dùng và hành vi mua của người tiêu dùng
* Khái quá về thị trường người tiêu dùng
Người tiêu dùng là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm và dịch vụ
nhằm thoả mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân.Họ là người tiêu dùng cuối cùng sản
phẩm do quá trình sản xuất tạo ra. Theo các nhà kinh tế học, việc tiêu dùng của họ một
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 18
mặt, được xem như là việc sử dụng hoặc huỷ bỏ một tài sản kinh tế mặt khác cũng là
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
một cách họ tự thể hiện mình. Người tiêu dùng có thể là một cá nhân, một hộ gia đình
hoặc một nhóm người.
Thị trường người tiêu dùng bao gồm tất cả các cá nhân, các hộ gia đình và các
nhóm người hiện có và tiềm ẩn mua sắm hàng hoá hoặc dịch vụ cho mục đích thoả
mãn nhu cầu cá nhân
Đặc điểm cơ bản của thị trường người tiêu dùng
Có quy mô lớn và thường xuyên gia tăng
Khách hàng của thị trường người tiêu dùng rất khác nhau về tuổi, giới tính, thu
nhập, trình độ văn hoá,... do đó tạo nên sự phong phú và đa dạng về nhu cầu và ước
muốn của họ trong việc mua sắm và sử dụng hàng hoá, dịch vụ
Cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, ước muốn,sở thích, các đặc tính về hành vi, sức mua của người tiêu dùng, cơ
cấu chi tiêu … cũng không ngừng biến đổi
* Hành vi mua của người tiêu dùng
Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc
lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá
và chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ.
Mô hình hành vi người tiêu dùng được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa ba
yếu tố: các kích thích, “hộp đen ý thức” và những phản ứng đáp lại các kích thích của
người tiêu dùng
- Các kích thích: Là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có
thể gây ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng như: giá bán, những cách thức phân
phối, các hoạt động xúc tiến, môi trường xã hội, cạnh tranh, chính trị, văn hoá, xã
hội,…
- Hộp đen ý thức của người tiêu dùng: là cách gọi bộ não của con người và cơ
chế hoạt động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải
pháp đáp ứng trở lại các kích thích được tiếp nhận. Hộp đen ý thức được chia làm hai
phần: đặc tính của người tiêu dùng và quá trình quyết định mua của người tiêu dùng.
- Những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng: là những phản ứng người tiêu
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 19
dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
* Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng
- Những nhân tố thuộc về văn hoá
Các nhân tố văn hoá có ảnh hưởng sâu rộng đến hành vi người tiêu dùng. Chính
văn hoá là lực lượng cơ bản đầu tiên biến nhu cầu tự nhiên của con người thành ước
muốn – cái mà người tiêu dùng cố gắng thoả mãn khi mua sắm và tiêu dùng hàng hoá
dịch vụ
Văn hoá ấn định những điều cơ bản về giá trị, sự thụ cảm, sự ưa thích và những
sắc thái đặc thù của sản phẩm vật chất
Văn hoá ấn định cách cư xử được xã hội chấp nhận: những tục lệ, thể chế nào là
chuẩn mực ? Người cùng một nền văn hoá được giao tiếp bằng ngôn ngữ, cử chỉ ra
sao? Nền văn hoá xác định những gì là bình thường được cộng đồng chấp nhận, những
gì là cấm kị, bị dư luận nên án…
Văn hoá có tính hệ thống: với mỗi cá nhân văn hoá được hấp thụ ngay từ thời
khắc đầu tiên của cuộc sống con người và đeo bám họ suốt cuộc đời. Với xã hội văn
hoá được giữ gìn truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác…
Sự hội nhập văn hoá: Quá trình mỗi cá nhân tiếp thu các văn hoá khác để làm
phong phú thêm văn hoá của mình và cũng chính trong quá trình đó, khẳng định giá trị
văn hoá cốt lõi của họ được gọi là quá trình “hội nhập văn hoá ”
Sự biến đổi văn hoá: Sự biến đổi văn hoá chính là cách thức tồn tại của một nền
văn hoá trong sự biến đổi không ngừng của môi trường tự nhiên và xã hội. Quá trình
đó có thể do sự biến đổi nội tại hoặc sự biến đổi bắt nguồn từ bên ngoài.
Tất cả những đặc điểm đó của văn hoá ảnh hưởng rất lớn tới hành vi của người
tiêu dùng.
- Những nhân tố mang tính xã hội
+ Giai tầng xã hội
Giai tầng xã hội là các lớp người khác nhau do kết quả của sự phân chia tương
đối đồng nhất và ổn định trong mội xã hội, được sắp xếp theo thứ bậc, những thành
viên trong từng thứ bậc cùng chia xẻ những giá trị lợi ích và cách ứng xử giống nhau.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 20
+ Nhóm tham khảo (nhóm tiêu biểu).
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Nhóm tham khảo là những nhóm mà một cá nhân xem xét (như một sự tham
khảo) khi hình thành thái độ và quan điểm của người đó.
Nhóm tham khảo gồm:
Nhóm tham khảo đầu tiên (nhóm có ảnh hưởng trực tiếp – Philip Kotler) bao
gồm : gia đình, láng giềng, đồng nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ hay hành
vi của những thành viên trong nhóm.
Nhóm tham khảo thứ hai gồm những tổ chức mang tính chất hiệp hội như: tổ
chức tôn giáo, hiệp hội ngành nghề, công đoàn, đoàn thể, nhóm vui chơi giải trí. Các
nhóm này ra đời dựa trên từ sự tương hợp về tâm lý, nhu cầu, sở thích…vì vậy nên
hành vi của mỗi cá nhân luôn chịu ảnh hưởng của các thành viên khác trong nhóm
+ Vai trò địa vị của cá nhân
Cá nhân thể hiện vai trò của họ thông qua các hoạt động gây ảnh hưởng tới
những người xung quanh. Một vai trò của cá nhân sẽ ảnh hưởng tới quyết định mua
của họ. Mỗi vai trò có một địa vị nhất định phản ánh sự kính trọng của xã hội, phù hợp
với vai trò đó. Người tiêu dùng thường dành sự ưu tiên khi lựa chọn hàng hoá, dịch vụ
phản ánh vai trò và địa vị xã hội của họ, đặc biệt là những vai trò địa vị theo họ là
quan trọng nhất.
- Các nhân tố thuộc về bản thân
Các quyết định mua sắm hàng hoá của người tiêu dùng luôn chịu ảnh hưởng
lớn của những yếu tố thuộc về bản thân người ấy như: tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh
kinh tế, lối sống, nhân cách sống và những quan niệm về chính bản thân mình. Vì
không thể phủ nhận một điều hiển nhiên là họ mua hàng là nhằm thoả mãn nhu cầu cá
nhân
- Những nhân tố thuộc về tâm lý
Hành vi chọn mua hàng của con người chịu ảnh hưởng rất lớn của bốn yếu tố
cơ bản thuộc về tâm lý: động cơ, nhận thức, niềm tin và thái độ.
b) Thị trường các tổ chức và hành vi mua của các tổ chức
* Thị trường và hành vi mua của các doanh nghiệp sản xuất
- Đặc trưng của thị trường các doanh nghiệp sản xuất
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 21
+ Khái niệm thị trường của doanh nghiệp sản xuất:
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Thị trường các doanh nghiệp sản xuất bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức
mua sắm sản phẩm dịch vụ khác, để bán, cho thuê hay cung ứng cho những người
khác để kiếm lời.
+ Những đặc trưng cơ bản của thị trường các doanh nghiệp sản xuất:
Quy mô thị trường: Thị trường tư liệu sản xuất có quy mô, danh mục hàng hoá,
khối lượng tiền tệ chu chuyển lớn hơn nhiều thị trường hàng tiêu dùng bởi vì, để có
được những sản phẩm tiêu dùng cuối cùng, xã hội đã phải thực hiện cả một chuỗi
những giai đoạn sản xuất, phân phối và thực hiện một khối lượng giao dịch khổng lồ
để mua – bán vô số các chủng loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau.
Đặc tính của cầu: Cầu của thị trường hàng tư liệu sản xuất mang tính chất thứ
phát hay phái sinh, Cầu hàng tư liệu sản xuất co giãn rất thấp về giá, Cầu hàng tư liệu
sản xuất biến động mạnh với một mức độ lớn hơn nhiều so với cầu hàng tiêu dùng, Thị
trường các doanh nghiệp sản xuất có tính chất tập trung theo vùng địa lý.
Kết cấu thị trường: trên thị trường tư liệu sản xuất, người mua có số lượng ít,
song, khối lượng mua của một khách hàng thường rất lớn. Thậm chí có một số thị
trường, chỉ có một vài khách hàng, chi phối toàn bộ hoạt động mua và bán.
Những người mua sắm hàng tư liệu sản xuất: Hoạt động mua sắm hàng tư liệu
sản xuất thường có sự tham gia của nhiều thành viên và việc mua sắm có tính chất
chuyên nghiệp.
- Hành vi mua tư liệu sản xuất của các doanh nghiệp
Mô hình về hành vi mua hàng tư liệu sản xuất
Các dạng chính của việc mua sắm hàng tư liệu sản xuất:
Mua hàng lặp lại không có sự thay đổi (mua theo thông lệ)
Mua lặp lại có sự thay đổi
Mua cho những yêu cầu, nhiệm vụ mới
Những người tham gia vào quá trình mua: Người sử dụng, người ảnh hưởng,
người quyết định, người mua
Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi mua hàng: Trong quá trình thông qua quyết định
mua, người mua tư liệu sản xuất chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: Môi trường, tổ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 22
chức, quan hệ giữa các cá nhân tham gia vào trung tâm mua, cá nhân người mua.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Các bước của tiến trình mua
Nhận thức vấn đề
Mô tả khái quát nhu cầu
Đánh giá các đặc tính của TLSX
Tìm kiếm các nhà cung ứng
Yêu cầu chào hàng
Lựa chọn nhà cung ứng
Làm các thủ tục đặt hàng
Xem xét hiệu quả các quyết định
* Thị trường và hành vi mua của các tổ chức thương mại
- Thị trường các tổ chức thương mại và các đặc tính cơ bản
Thị trường các tổ chức thương mại bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức mua
hàng hoá để bán lại hoặc cho thuê nhằm mục đích kiếm lời. Nói một cách cụ thể hơn
chính là những người bán buôn (bán sỉ) và bán lẻ các loại hàng và dịch vụ.
Thị trường người mua là các tổ chức thương mại có những đặc trưng cơ bản
sau: Đảm nhận khối lượng hàng hóa luân chuyển lớn, các tổ chức thương mại phân
tán hơn các doanh nghiệp sản xuất, nhưng tập trung hơn những người tiêu dùng cá
nhân, mục đích mua mà các tổ chức thương mại theo đuổi là bán lại để kiếm lời. Danh
mục và chủng loại hàng hoá họ mua sắm rất phong phú và đa dạng.
- Một số đặc trưng trong hành vi mua của các tổ chức thương mại
Với những mặt hàng thông thường, tổ chức thương mại căn cứ vào lượng hàng
tồn kho để thực hiện đơn đặt hàng tiếp theo.
Tổ chức thương mại luôn căn cứ vào sự biến động về doanh số và mức lời mà
họ đạt được làm căn cứ thoả thuận với người cung ứng về giá cả.
Ngoài yếu tố giá cả tổ chức thương mại còn lựa chọn một số tiêu chuẩn để ra
quyết định lựa chọn người cung cấp.
Xu thế phổ biến hiện nay, năng lực kinh doanh người bán hàng ngày càng được
hoàn thiện. Sản phẩm của nhiều người cung ứng đã đem nhãn hiệu của những tổ chức
thương mại, chịu sự chi phối của họ.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 23
* Thị trường và hành vi mua của các tổ chức Nhà nước.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Thị trường các tổ chức Nhà nước bao gồm những tổ chức của Chính phủ và các
cơ quan địa phương, mua hay thuê những mặt hàng cần thiết để thực hiện những chức
năng cơ bản theo sự phân công của chính quyền.
- Người tham gia vào tiến trình mua của các tổ chức Nhà nước
Người thực hiện việc mua là các cấp tổ chức Nhà nước từ Trung ương đến địa
phương đảm nhiệm các chức năng xã hội giao phó cho họ.
- Các quyết định mua của người mua là các tổ chức Nhà nước
Khi mua sắm hàng hoá và dịch vụ, mỗi tổ chức Nhà nước cần phải thông qua
hàng loạt các quyết định: mua các loại hàng hoá, dịch vụ nào? Trong mỗi loại số lượng
mua là bao nhiêu? Mua của nhà cung ứng nào? Chi phí mua sắm là bao nhiêu? Cần
yêu cầu dịch vụ nào sau khi mua sắm?
- Những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi của các tổ chức Nhà nước
Những nhân tố đó là: Môi trường, tổ chức, tương quan cá nhân, cá nhân những
người tham gia tiến trình mua.
Có hai phương thức mua mà các tổ chức Nhà nước thường áp dụng: đấu thầu
công khai và hợp đồng dựa vào thương lượng.
- Cách thực hiện quyết định mua của các tổ chức Nhà nước
1.1.2.3.2. Thị trường người bán
Người bán trên thị trường đối với doanh nghiệp chính là các nhà sản xuất –
cung ứng. Đó là các cá nhân hay tổ chức đảm bảo cung ứng các yếu tố cần thiết cho
Công ty và các đối thủ cạnh tranh để có thể sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhất định.
Bất kì một sự biến đổi nào từ phía người cung ứng đều làm ảnh hưởng tới hoạt
động của Công ty. Đối với ngành sản xuất nước uống tinh khiết của nước ta các nhà
cung ứng nguyên vật liệu chủ yếu là trong nước. Các nhà cung ứng trong nước còn ít và
chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu để sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao.
1.1.2.4. Các hoạt động phát triển thị trường nội địa
1.1.2.4.1. Lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường
a) Đo lường và dự báo cầu thị trường
* Những khái niệm chính trong đo lường và dự báo cầu
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 24
- Tổng cầu thị trường
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Định nghĩa tổng cầu thị trường
Tổng cầu thị trường về một loại sản phẩm là tổng khối lượng sản phẩm mà một
nhóm khách hàng nhất định sẽ mua tại một địa bàn nhất định, trong một thời gian nhất
định với môi trường Marketing nhất định và một chương trình Marketing nhất định.
Tiềm năng thị trường và dự báo thị trường
Tiềm năng thị trường là giới hạn tiệm cận của cầu thị trường khi chi phí
Marketing tiến tới vô hạn, trong một môi trường Marketing nhất định,
Dự báo cầu thị trường cho biết mức thị trường tương ứng với một mức chi phí
Marketing dự kiến của ngành trong một môi trường Marketing nhất định.
- Cầu của doanh nghiệp
Định nghĩa cầu của doanh nghiệp: Cầu của doanh nghiệp là phần cầu của thị
trường thuộc về doanh nghiệp.
Công thức tính :
Qi = Si.Q
Trong đó: Qi - Cầu của doanh nghiệp i
Si - Thị phần của doanh nghiệp i
Q - Tổng cầu thị trường
Tiềm năng tiêu thụ của doanh nghiệp và mức dự báo cầu của doanh nghiệp
Tiềm năng tiêu thụ của doanh nghiệp: là giới hạn tiệm cận của cầu doanh
Dự báo cầu của doanh nghiệp (hay dự báo mức tiêu thụ dự kiến): Dự báo
nhu cầu của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp dự báo mức tiêu thụ của mình căn
cứ vào kế hoạch Marketing đã chọn và môi trường Marketing được giả định.
* Ước tính cầu hiện tại
nghiệp khi nỗ lực Marketing tăng lên tương đối so với đối thủ cạnh tranh.
+ Ước tính tổng nhu cầu thị trường
Công thức:
Q = n.q.p
Trong đó:
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 25
Q - Tổng nhu cầu thị trường trong một năm
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
n - Số lượng người mua đối với một loại sản phẩm - thị trường nhất định với
những giả thiết nhất định
q – Số lượng sản phẩm trung bình một người mua trong năm
p – Giá trung bình của một đơn vị sản phẩm
+ Ước tính tổng nhu cầu thị trường khu vực
Có hai phương pháp chủ yếu để ước tính tổng nhu cầu thị trường khu vực:
Phương pháp xây dựng thị trường và phương pháp chỉ số đa yếu tố.
Phương pháp xây dựng thị trường: Đây là phương pháp được áp dụng chủ yếu
đối với các nhà cung cấp tư cấp sản xuất để dự báo tiềm năng thị trường của khu vực.
Phương pháp này đòi hỏi phải phát hiện được tất cả những người mua tiềm ẩn ở từng
khu vực thị trường và ước tính khả năng mua của họ.
Phương pháp chỉ số đa yếu tố: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở các
Công ty cung ứng hàng tiêu dùng. Theo phương pháp này, phải xác định được các yếu
tố có mối tương quan với tiềm năng thị trường khu vực và kết hợp chúng thành một
chương trình đa biến: mỗi biến kèm theo một trọng số thể hiện mức độ ảnh hưởng của
yếu tố (biến số) đó tới mức tiêu thụ của thị trường khu vực.
Ước tính được mức tiêu thụ thực tế của toàn ngành giúp cho công ty phát
hiện được đối thủ cạnh tranh và mức tiêu thụ của họ: và bằng cách so sánh mức tiêu
thụ của mình với toàn ngành, công ty có thể đánh giá được thực trạng kinh doanh
của mình và xu thế mà họ phải đối mặt trên thị trường.
* Ước tính cầu tương lai
+ Ước tính mức tiêu thụ ngành
Dự báo cầu trong tương lai phục vụ cho việc lập kế hoạch kinh doanh dài hạn,
tính lượng mức tiêu thụ cho thị trường mục tiêu
Dự báo trong Công ty thường sử dụng quy trình ba giai đoạn: dự báo vĩ mô, dự
báo mức tiêu thụ ngành và dự báo mức tiêu thụ của công ty
Dự báo vĩ mô được thực hiện dựa trên các dự đoán về tình trạng lạm phát, tình
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 26
trạng thất nghiệp, lãi suất, cán cân thanh toán, GDP…
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Dự báo mức tiêu thụ ngành: từ các số liệu vĩ mô sẽ được sử dụng cùng với các
dữ kiện gắn với môi trường ngành. Sau đó, công ty sẽ suy ra mức tiêu thụ của mình
dựa vào thị phần mục tiêu mà công ty theo đuổi.
Để dự báo được cầu tương lai các công ty có thể sử dụng các phương pháp:
Thăm dò ý định người mua: Bằng điều tra, phỏng vấn, xác định xác suất mua,
tình cảm và mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng, Công ty có thể đoán được mức tiêu
thụ của khách hàng trong tương lai.
Tổng hợp ý kiến của lực lượng bán hàng: Công ty có thể yêu cầu các đại diện bán
hàng ước tính xem những khách hàng hiện có và tương lai sẽ mua bao nhiêu sản phẩm
của Công ty theo từng chủng loại thuộc phạm vi phân phối của các đại diện bán hàng.
Các phương pháp khác
* Khái quát chung về lựa chọn thị trường mục tiêu
b) Lựa chọn thị trường mục tiêu
Lựa chọn thị trường mục tiêu là một trong những khâu quan trọng nhất và
không thể thiếu trong tiến trình hoạch định các kế hoạch hay chiến lược phát triển của
công ty vì những lý do sau:
Thị trường tổng thể luôn bao gồm một số lượng rất lớn khách hàng với rất
nhiều nhu cầu khác nhau, đặc tính mua hàng khác nhau. Sẽ không có một doanh
nghiệp cá biệt nào có khả năng đáp ứng được
Các công ty phải đối đầu với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Mỗi
doanh nghiệp thường chỉ có một hoặc vài thế mạnh trong việc thoả mãn nhu cầu và
ước muốn của thị trường
Vì vậy để kinh doanh có hiệu quả công ty phải tìm cho mình những đoạn thị
trường mà ở đó họ có khả năng đáp ứng nhu cầu và ước muốn của khách hàng hơn hẳn
các đối thủ cạnh tranh. Những đoạn thị trường đó chính là thị trường mục tiêu.
* Phân đoạn thị trường
- Khái niệm:
Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành các nhóm
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 27
trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, ước muốn và các đặc tính hay hành vi.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Đoạn thị trường là một nhóm người tiêu dùng có đòi hỏi (phản ứng) như nhau
đối với cùng một tập hợp kích thích Marketing
- Yêu cầu của phân đoạn thị trường
Một đoạn thị trường có hiệu quả là một nhóm các khách hàng mà doanh nghiệp
có khả năng đáp ứng được nhu cầu và ước muốn của họ, đồng thời có số lượng đủ lớn
để tạo ra dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi cho những nỗ lực của công ty.
- Các cơ sở để phân đoạn thị trường
+ Phân đoạn thị trường theo cơ sở địa lý
Khi phân đoạn thị trường theo cơ sở địa lý, thị trường tổng thể sẽ được chia cắt
theo địa dư, vùng khí hậu… Các đoạn thị trường đặc trưng tương ứng với các tiêu thức
thuộc cơ sở này là: thị trường quốc gia, vùng, miền, tỉnh, …
+ Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học
Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học là phân chia khách hàng thành các
nhóm căn cứ vào: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, quy mô gia đình,
tình trạng hôn nhân…
+ Phân đoạn thị trường theo tâm lý học
Phân đoạn thị trường theo tiêu chí cơ sở này là chia thị trường thành các nhóm
khách hàng căn cứ vào vị trí xã hội, lối sống và nhân cách của họ.
+ Phân đoạn theo hành vi
Theo hành vi thị trường người tiêu dùng sẽ được phân chia thành các nhóm
đông nhất về các đặc tính như: lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, sự trung thành, số
lượng và tỷ lệ sử dụng …
* Lựa chọn thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là một hoặc vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn
và quyết định tập trung nỗ lực Marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh
của mình. Để lựa chọn đúng thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải quyết định sẽ lựa
chọn loại khách hàng nào (đoạn thị trường nào) và có bao nhiêu loại khách hàng được
lựa chọn.
Để xác định được các đoạn thị trường phù hợp cần thực hiện hai nhóm công
việc sau:
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 28
- Đánh giá các đoạn thị trường
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Mục đích là nhận dạng được mức độ hấp dẫn của chúng trong việc thực hiện
mục tiêu của công ty.
Khi đánh giá các đoạn thị trường người ta dựa vào ba tiêu chuẩn sau:
+ Quy mô và mức tăng trưởng của đoạn thị trường
Một đoạn thị trường được coi là có hiệu quả nếu nó có đủ tầm cỡ để bù đắp lại
những nỗ lực marketing không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai của công ty. Vì
vậy, việc xác định đúng đắn quy mô và khả năng tăng trưởng luôn được coi là vấn đề
đầu tiên khi lựa chọn thị trường mục tiêu.
+ Mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường
Ngành sản xuất Nước uống tinh khiết ở thị trường nội địa hiện nay có rất nhiều
công ty hoạt động sản xuất - kinh doanh. Mỗi công ty trong đó không phải là người
bán duy nhất trên thị trường, họ thường xuyên phải đối phó với các áp lực cạnh tranh
và sự đòi hỏi của khách hàng. Một đoạn thị trường không hấp dẫn nếu mức độ cạnh
tranh trong đoạn đó quá gay gắt.
Maichael Porter đã đưa ra năm lực lượng cạnh tranh chính quyết định mức độ
hấp dẫn nội tại về khả năng sinh lời của một đoạn thị trường.
Đe doạ từ sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh
Sức ép từ phía khách hàng
Sức ép từ phía nhà cung cấp
Cạnh tranh giữa các hãng trong ngành
Đe doạ của hàng thay thế
(Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản)
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 29
Hình 1.1: Mô hình năm năng lực lượng cạnh tranh
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
+ Mối đe doạ của cạnh tranh trong ngành
Một đoạn thị trường sẽ không được coi là hấp dẫn nếu có quá nhiều đối thủ cạnh
tranh trong ngành cùng hoạt động. Mối đe doạ của cạnh tranh trong ngành gồm có:
Mối đe doạ của đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Một đoạn thị trường sẽ kém hấp dẫn nếu tiềm ẩn cơ hội thu lợi nhuận cao, có
sức hút mạnh những doanh nghiệp ngoài ngành nhập cuộc. Sự xuất hiện của họ sẽ đem
vào thị trường khả năng cung ứng mới, làm gia tăng áp lực cạnh tranh và áp lực phân
chia thị phần. Vì vậy, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp hiện có giảm mạnh.
Khả năng gia nhập của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào rào cản của sự gia nhập vào
một đoạn thị trường như là: khả năng chống trả của các doanh nghiệp hiện có trong
ngành, mức độ trung thành của khách hàng với những nhãn hiệu hiện có, tính khác biệt
của sản phẩm, đòi chi phí đầu tư cơ bản và sự hấp dẫn về lợi nhuận mà đoạn thị trường
hứa hẹn.
Đe dọa của các sản phẩm thay thế
Một đoạn thị trường sẽ không hấp dẫn nếu có nhiều sản phẩm thay thế thực
hiện hoặc tiềm ẩn. Khả năng thay thế của sản phẩm càng cao, giá cả và lợi nhuận có xu
hướng giảm xuống
Đe dọa về quyền thương lượng của khách hàng
Một đoạn thị trường mà quyền lực thị trường của khách hàng lớn, thì đoạn thị
trường đó được coi là kem hấp dẫn. Khi khách hàng có quyền lực thị trường cao họ sẽ
ép giá ở mức thấp, đòi hỏi chất lượng hàng hoá cao hơn, số lượng dịch vụ nhiều hơn…
khiến chi phí cho hoạt động kinh doanh nhiều hơn, khả năng sinh lời thấp và giảm dần.
Các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp
Một đoạn thị trường hấp dẫn có thể bị loại bỏ do chúng không ăn khớp với mục
tiêu lâu dài và khả năng của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp cứ cố gắng theo đuổi
sức hấp dẫn của đoạn thị trường vượt quá khả năng và mục tiêu của họ thì nguồn lực
của doanh nghiệp sẽ bị phân tán, không tập trung cho các mục tiêu chiến lược.
- Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 30
hoặc mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời các hoạt động
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
marketing của doanh nghiệp có thể tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và đạt được
các mục tiêu kinh doanh đã định. Thị trường mục tiêu chính là những đoạn thị trường
hấp dẫn mà doanh nghiệp quyết định lựa chọn để tập trung nỗ lực marketing của mình.
1.1.2.4.2. Định vị thị trường
a) Khái niệm
Định vị thị trường là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm
chiếm được một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu.
Định vị thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quyết định khuyếch trương
bao nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào dành cho khách hàng mục tiêu.
b) Các hoạt động trọng tâm của chiến lược định vị
Tạo ra một hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, nhãn hiệu trong tâm trí khách
hàng ở thị trường mục tiêu
Hình ảnh trong tâm trí của khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá
của khách hàng về doanh nghiệp và các sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng. Nó là
một tập hợp các ấn tượng, cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và
nhãn hiệu đó.
Lựa chọn vị thế của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu
Hình ảnh khắc hoạ trong tâm trí khách hàng không chỉ do bản thân sản phẩm và
hoạt động Marketing của doanh nghiệp tạo dựng mà còn do tương quan so sánh với
các sản phẩm cạnh tranh. Vì vậy, công việc của một chiến lược định vị không chỉ dừng
lại ở việc tạo dựng được một hình ảnh mà còn phải lựa chọn hình ảnh có vị thế trên thị
trường mục tiêu.
Tạo được sự khác biệt cho sản phẩm, nhãn hiệu
Tạo ra sự khác biệt hay dị biệt cho sản phẩm là thiết kế một loạt những điểm
khác biệt có ý nghĩa để khách hàng có thể phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với
sản phẩm cạnh tranh.
Lựa chọn và khuyếch trương những điểm khác biệt có ý nghĩa
Những điểm khác biệt được lựa chọn, được khuyếch trương phải gắn với lợi ích
mà khách hàng mong đợi sản phẩm và hoạt động cung ứng của doanh nghiệp…
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 31
c) Các bước của tiến trình định vị
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Bước 1: Tiến hành phân đoạn thị trường, lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu
theo đúng yêu cầu của marketing
Bước 2: Đánh giá thực trạng của những định vị hiện có trên thị trường mục tiêu
Bước 3: Chọn hình ảnh và vị thế cho nhãn hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp
trên bản đồ định vị.
Bước 4: Soạn thảo chương trình marketing mix để thực hiện chiến lược định
vị đã chọn.
1.1.2.4.3. Các hoạt động phân phối sản phẩm
a) Bản chất và tầm quan trọng của các kênh phân phối
Khái niệm
Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập và phụ
thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất tới người tiêu
dùng.
Trung gian thương mại nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng
là thành viên quan trọng trong nhiều kênh phân phối. Một số loại trung gian thương mại:
Nhà bán buôn: Là những trung gian bán hàng hoá và dịch vụ cho các trung gian
khác, cho nhà bán lẻ hoặc những nhà sử dụng công nghiệp.
Nhà bán lẻ: Là những người trung gian bán hàng hoá và dịch vụ trực tiếp cho
người tiêu dùng cuối cùng
Đại lý và môi giới: Là những nhà trung gian có quyền hành động hợp pháp thay
mặt cho nhà sản xuất.
Vai trò của trung gian thương mại – thành viên kênh
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất đến
người tiêu dùng. Vai trò chính của các trung gian thương mại là làm cho cung và cầu
phù hợp một cách trật tự và hiệu quả. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục
được những khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với
những người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ.
Chức năng của các thành viên của kênh phân phối
Nghiên cứu thị trường: Nhằm thu thập thông tin cần thiết để lập chiến lược
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 32
phân phối
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Xúc tiến khuyếch trương cho những sản phẩm họ bán: Soạn thảo và truyền bá
những thông tin về hàng hoá.
Thương lượng: Để thoả thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh.
Thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác.
Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá.
Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người
mua tiềm năng.
Hoàn thiện hàng hoá: Làm cho hàng hoá đáp ứng được những yêu cầu của
người mua, nghĩa là thực hiện một phần công viêc của nhà sản xuất.
Tài trợ: Cơ chế tài chính trợ giúp cho các thành viên kênh trong thanh toán.
San sẻ rủi ro: Những rủi ro liên quan đến quá trình phân phối.
b) Cấu trúc và tổ chức kênh phân phối
Cấu trúc kênh phân phối
Cấu trúc kênh phân phối được xác định qua chiều dài và bề rộng của kênh phân
phối
- Chiều dài của kênh phân phối: Chiều dài của kênh phân phối được xác định
bằng số cấp độ trung gian có mặt trong kênh. Dưới đây là các kênh phân phối được
cấu trúc theo chiều dài
Các kênh phân phối cho hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cá nhân:
+ Kênh A là kênh trực tiếp: Nhà SX Người TD
+ Kênh B là kênh 1 cấp: Nhà SX Nhà bán lẻ Người TD
+ Kênh C là kênh 2 cấp: Nhà SX Nhà bán buôn Nhà bán lẻ Người TD
+ Kênh D là kênh 3 cấp: Nhà SX Đại lý Nhà bán buôn Nhà bán lẻ
Người tiêu dùng
Các kênh phân phối cho hàng hoá và dịch vụ công nghiệp:
+ Kênh A là kênh trưc tiếp: Nhà SX Người SDCN
+ Kênh B: Nhà SX Người PPCN Người SDCN
+ Kênh C: Nhà SX Đại lý Người SDCN
+ Kênh D: Nhà SX Đại lý Người PPCN Người SDCN
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 33
- Bề rộng của kênh phân phối
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Để đạt được sự bao phủ thị trường tốt nhất, doanh nghiệp phải quyết định số
lượng các trung gian thương mại ở mỗi cấp độ phân phối. Có 3 phương thức phân
phối: Phân phối rộng rãi, phân phối chọn lọc, phân phối duy nhất (đặc quyền)
+ Phân phối rộng rãi là doanh nghiệp bán sản phẩm qua nhiều trung gian
thương mại ở mỗi cấp độ phân phối.
+ Phân phối duy nhất là phương thức ngược với phân phối rộng rãi, trên một
khu vực doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm qua trung gian thương mại duy nhất.
+ Phân phối chọn lọc nằm giữa phân phối rộng rãi và phân phối duy nhất nghĩa
là doanh nghiệp bán sản phẩm qua một số trung gian thương mại được chọn lọc theo
những tiêu chuẩn nhất định ở mỗi cấp độ phân phối.
Tổ chức và hoạt động của kênh
Một kênh phân phối là sự liên kết các doanh nghiệp sản xuất và thương mại
khác nhau vì lợi ích chung. Mỗi thành viên trong kênh đều dựa vào các thành viên
khác của kênh và thành công của họ gắn liền với thành công của các thành viên kênh
khác. Mỗi thành viên giữ một vai trò riêng và chuyên thực hiện một hoặc một số chức
năng. Kênh sẽ hiệu quả nhất khi từng thành viên được giao những nhiệm vụ họ có thể
làm tốt nhất.
1.1.2.4.4. Các hoạt động xúc tiến hỗn hợp
a) Khái quát về xúc tiến hỗn hợp
Bản chất của xúc tiến hỗn hợp chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp
tới khách hàng để thuyết phục họ mua.
Một số dạng chủ yếu thường được công ty sử dụng trong các chiến lược xúc
tiến hỗn hợp là:
Quảng cáo: Bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao
những ý tưởng, hàng hoá và dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng
cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí.
Xúc tiến bán hàng (khuyến mại): Là những biện pháp tác động tức thời ngắn
hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm hay dịch vụ.
Tuyên truyền (quan hệ với công chúng): Là việc kích thích một cách gián tiếp
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 34
nhằm tăng nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ hay tăng uy tín của một đơn vị kinh doanh
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các
phương tiện thông tin đại chúng và miễn phí.
Bán hàng cá nhân: Là sự giới thiệu bằng miệng về hàng hoá và dịch vụ của
người bán hàng qua cuộc đối thoại với một hoặc nhiều khách hàng tiềm năng nhằm
mục đích bán hàng.
Marketing trực tiếp: Là việc sử dụng một hoặc nhiều công cụ truyền thông
Marketing để ảnh hưởng đến quyết định mua trực tiếp của khách hàng và tạo nên các
giao dịch kinh doanh ở mọi địa điểm.
Mỗi loại trên lại bao gồm một tập hợp các công cụ chuyên biệt để thực hiện
truyền thông Marketing thích hợp trong những thị trường cụ thể đối với những hàng
hoá cụ thể.
b) Các công cụ xúc tiến hỗn hợp
Những công cụ xúc tiến hỗn hợp chủ yếu là:
Quảng cáo gồm các công cụ: Báo chí và truyền thanh, truyền hình,bao bì
bên ngoài, phim ảnh, sách mỏng và tờ gấp, áp phích và tờ rơi, sách niên giám, pano,
bảng hiệu, trưng bày tại cửa hàng, tư liệu nghe nhìn, biểu tượng và logo.
Khuyến mại gồm các công cụ: Thi trò chơi, sổ xố, thưởng, quà tặng. mẫu
chào hàng, hội chợ và triển lãm thương mại, trưng bày, trình diễn, phiếu thưởng, giảm
giá, tài trợ lãi suất thấp, tiếp khách, phiếu mua hàng, bán kèm có giảm giá.
Quan hệ công chúng gồm có các công cụ: Họp báo, nói chuyện, hội thảo,
đóng góp từ thiện, bảo trợ, tuyên truyền, quan hệ với cộng đồng, vận động hành lang,
tạp chí của doanh nghiệp, tổ chức các sự kiện.
Bán hàng cá nhân gồm các công cụ: Trình diễn bán hàng, hội nghị bán hàng,
chương trình khen thưởng, mẫu chào hàng, hội chợ và triển lãm thương mại.
Marketing trực tiếp gồm các công cụ: Catalog, thư, marketing qua điện
thoại, mua bán qua máy tính, mua bán qua vô tuyến truyền hình.
1.2. Các tiêu chí đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp
1.2.1 Khả năng mở rộng và duy trì thị phần
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 35
Khả năng mở rộng và duy trì thị phần của doanh nghiệp là tiêu chí quan trọng
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
nhất đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Nó cho thấy vị thế của
doanh nghiệp trên thị trường. Những doanh nghiệp có năng lực vượt trội sẽ giành được
thị phần lớn thậm chí là toàn bộ thị trường; còn những doanh nghiệp không có lợi thế
hoặc mới gia nhập ngành chỉ có thị phần nhỏ.
1.2.2. Tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết quả sản xuất kinh doanh là một tiêu chí tổng hợp phản ánh khả năng chiếm
lĩnh thị trường của doanh nghiệp.Nó thể hiện qua giá trị mà DN thu được khi tiêu thụ
sản phẩm…
1.2.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp thể hiện khả năng làm
vừa lòng khách hàng, tạo được sự tín nhiệm của khách hàng. Các doanh nghiệp có
năng lực cao thì thương hiệu của họ sẽ được biết đến trên thị trường, còn những doanh
nghiệp năng lực yếu hơn nhập ngành sẽ rất vất vả trong việc tạo dựng uy tín. Khả năng
đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các yếu tố
sau:
- Chất lượng sản phẩm
Doanh nghiệp muốn giành được sự tin tưởng của khách hàng thì không thể
không chú ý đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng phải xứng đáng với số tiền mà
người tiêu dùng bỏ ra. Doanh nghiệp sản xuất hàng kém chất lượng, hoặc chất lượng
sản phẩm không đúng với những gì quảng cáo và cam kết sớm muộn cũng bị đào thải.
- Giá cả sản phẩm
Bên cạnh chất lượng, giá cả cũng là yếu tố rất quan trọng thu hút người mua.
Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp luôn phải cố gắng căt giảm chi phí để có
được giá bán thấp. Doanh nghiệp thậm chí có thể bán phá giá, bán với giá thấp hơn cả
chi phí sản xuất để triệt hạ đối thủ.
- Chất lượng phục vụ
Bên cạnh giá cả và chất lượng sản phẩm, thì cách thức phục vụ cũng là yếu tố
qua trọng đem lại sự thoải mái cho người mua. Chất lượng phục vụ thể hiện ở một số
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 36
khía cạnh:
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Thời gian thực hiện hợp đồng: Doanh nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ hợp đồng.
Hàng hóa phải được cung cấp đúng hạn, không kéo dài gây thiệt hại cho khách hàng.
Mạng lưới phân phối: doanh nghiệp càng có có nhiều địa điểm bày bán sản
phẩm thì người tiêu dùng càng cảm thấy thoải mái trong việc lựa chọn, đánh giá hàng
hóa.
Các dịch vụ hậu mãi như lắp đặt, bảo hành, bảo dưỡng… giúp cho người mua
yên tâm sử dụng sản phẩm.
1.3. Sự cần thiết phải phát triển thị trường nội địa của các doanh nghiệp
ngành da giầy Việt Nam
Phát triển thị trường nội địa là một giải pháp chiến lược hàng đầu hướng vào
mục tiêu phát triển bền vững có tác động nhiều mặt đến thúc đẩy sản xuất kinh doanh,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn dân. Thị trường nội địa được đánh giá có nhiều
tiềm năng là cơ sở cho nhiều doanh nghiệp tiếp tục đứng vững và phát triển do có quy
mô hơn 86 triệu dân, sức tiêu thụ hàng hóa lớn. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
giai đoạn 2011 - 2020 có định hướng cần phải “Mở rộng thị trường nội địa, phát triển
mạnh thương mại trong nước; đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu
quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do và thị trường tiềm năng...”.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giầy Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn 2025 thì: “Ngành da giầy Việt Nam cần định hướng phát triển theo cả 2
hướng là làm hàng xuất khẩu và làm hàng nội địa thông qua làm chủ công nghệ và
thiết kế để phát triển đủ chuỗi giá trị gia tăng” và “Việc phát triển thị trường nội địa
cũng là giải pháp tốt nhất cho các doanh nghiệp. Khi quay về chiếm lĩnh được thị
trường nội địa, xây dựng thương hiệu, phát triển các sản phẩm da giầy cao cấp…
ngành da giầy sẽ giảm dần được tỷ lệ gia công hàng, xây dựng được thương hiệu với
thị trường quốc tế và xuất khẩu ở phân khúc thị trường cao hơn, có giá trị kinh tế hơn”.
1.3.1. Giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp
Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị
trường quốc tế hiện nay về sản phẩm da giầy (xếp thứ 4 về xuất khẩu sản phẩm giầy
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 37
dép), riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam
tăng giảm thất thường vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: môi trường kinh tế của các
nước nhập khẩu (nếu kinh tế tăng trưởng cao thì lượng cầu sẽ tăng và giữ mức ổn định
và nếu kinh tế suy giảm lượng cầu nhập khẩu chắc chắn sụt giảm theo), môi trường
chính trị- pháp luật (chế độ chính sách thuế như thế nào, chính trị ổn định hay không).
Việt Nam là một nước rất là mở về mặt thương mại, có nghĩa là hiện nay, xuất
khẩu của Việt Nam chiếm đến khoảng từ 65 đến 68% GDP và nhập khẩu trên dưới
80% GDP, tức là cộng lại, xuất nhập của Việt Nam chiếm 160 % GDP. Xuất khẩu
cũng tạo công ăn việc làm cho Việt Nam. Tác động đến xuất khẩu của Việt Nam là
qua nhiều mặt. Một là số lượng đơn đặt hàng da giầy. Sức mua và nguồn nhập khẩu
trên thị trường thế giới nay bị hạn chế rất nhiều. Bức tranh khủng hoảng kinh tế toàn
cầu bi đát trong năm 2009, khiến cho nhu cầu đã làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu
giày dép ở Việt Nam phải “ lao đao”. Lượng cầu xuất khẩu giầy dép giảm mạnh. Hiệp
hội Da giầy Việt Nam đã phải tính đến phương án hỗ trợ, liên kết nhau, doanh nghiệp
này giúp doanh nghiệp kia giải bài toán chống thất nghiệp cho công nhân dù năng lực
sản xuất của nhiều doanh nghiệp đã sụt giảm 50% so với trước.
Hiệp hội đề nghị, thông qua hình thức doanh nghiệp nào có được đơn hàng lớn
thì các doanh nghiệp dồn tổng lực, nhân công cho doanh nghiệp đó rút ngắn thời gian
giao hàng để đi tìm các hợp đồng mới về và tiếp tục cùng nhau chia sẻ. Thị trường thế
giới bị thu hẹp một cách đáng kể vì vậy việc chuyển hướng sang thị trường trong nước
là một hướng đi mà doanh nghiệp trước đây chuyên xuất khẩu phải tính đến.
Bên cạnh đó, từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 Liên minh Châu Âu đưa ngành da
giầy Việt Nam ra khỏi diện được hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) giai
đoạn 2009 - 2011. Các Đại sứ, trưởng Đại diện phái đoàn các nước thành viên EU tại
Uỷ ban châu Âu đã bỏ phiếu thông qua việc không tiếp tục dành Quy chế ưu đãi thuế
quan phổ cập (GSP) giai đoạn 2009 – 2011 cho hàng hoá thuộc mục XII của Việt Nam
xuất khẩu vào EU (chủ yếu là các mặt hàng giầy dép, túi xách, ô dù…) sau khi đã cho
Việt Nam hưởng Quy chế này trong giai đoạn 2006 - 2008. Quyết định trên làm cho
sản phẩm ngành da giầy Việt Nam phải gánh chịu mức thuế cao hơn khi tiêu thụ tại thị
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 38
trường EU. Theo Hiệp hội Da giầy Việt Nam, ngành da giầy là ngành công nghiệp
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
quan trọng của Việt Nam, chính sách ưu đãi thuế quan GSP đã đóng góp lớn vào sự
tồn tại và phát triển của Ngành trong những năm qua. Việc bãi bỏ GSP sẽ tác động đến
các doanh nghiệp thuộc Ngành và tốc độ phát triển Ngành..
Với tình trạng này, có thể sẽ có một số đối tác nước ngoài di dời đơn hàng sang
một số nước khác trong khu vực để tranh thủ lợi thế về GSP. Điều này làm cho các
doanh nghiệp nhỏ sẽ giảm đơn hàng do khách hàng di dời đơn hàng sang các nước
được hưởng GSP như Indonesia, Bangladesh...
Ngoài ra, mặc dù thuế chống bán phá giá vào thị trường EU đối với giày mũ da
của Việt Nam đã chính thức chấm dứt vào ngày 31/3/2011, nhưng Uỷ ban châu Âu
vẫn tiếp tục giám sát mặt hàng này thêm một năm nữa để sẵn sàng áp dụng biện pháp
phòng vệ khẩn cấp... cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng
này.
Với các khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu đối với các
doanh nghiệp trong ngành da giầy vốn chỉ xuất khẩu muốn tồn tại thì cần có chiến
lược kinh doanh thay đổi đó là hướng về thị trường nội địa - một thị trường tiềm năng
nhưng vẫn bị “bỏ ngỏ”.
1.3.2. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường nội địa
Các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm da giầy cần nắm bắt được thị
hiếu người tiêu dùng để phân đoạn thị trường và xác định mục tiêu thị trường hướng
tới.
Người tiêu dùng nội địa cần những sản phẩm da giầy không những có hình thức
phong phú mà còn phải có chất lượng tốt. Thị trường nội địa vốn dĩ bị chiếm lĩnh bởi
sản phẩm nhập khẩu trong đó chủ yếu là sản phẩm nhập từ Trung Quốc. Những sản
phẩm từ Trung Quốc này có giá thành rẻ, mẫu mã bắt mắt nhưng chất lượng thì không
được đảm bảo. Người tiêu dùng, khi được hỏi, đều chỉ trả lời là họ quan tâm đến mẫu
mã và giá cả. Chất lượng, nếu có ai để ý đến, cũng chỉ là độ bền của sản phẩm và chất
liệu mà họ “cảm thấy mềm mại, giầy dép đi nhẹ và không đau chân là được”. “Chắc là
chẳng ai đi mua giầy dép, túi xách mà lại tìm hiểu xem sản phẩm này có chất gì độc
hại cho sức khỏe không, mà cái chính là chọn được dáng giày, dáng túi đẹp và hợp túi
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 39
tiền”. Trước đây khi đời sống khó khăn và trình độ nhận thức chưa cao thì người dân
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
đa phần chọn lựa những loại mặt hàng này. Tuy nhiên khi mức sống, trình độ dân trí
được nâng lên một cách rõ rệt thì người dân sẵn sàng bỏ thêm một lượng tiền không
quá lớn để có thể sở hữu một sản phẩm có chất lượng tốt, có lợi cho sức khoẻ và có độ
bền cao. Hiện nay có một nghịch lý là “giày dép Việt Nam tốt, có thể xuất khẩu sang
nhiều nước trên thế giới, tại sao người Việt lại cứ có xu hướng chọn giày dép Trung
Quốc…chất lượng không cao, không biết số tiền bỏ ra có xứng đáng với chất lượng
không?” Có rất nhiều sản phẩm giầy dép Trung Quốc khi sử dụng gây tác hại khó
lường cho người sử dụng. Ngay cả những loại giầy cao cấp của Trung Quốc có mặt
trên các thị trường lớn như Pháp, Ý cũng không đảm bảo chất lượng, an toàn cho
người sử dụng, thậm chí còn chứa các hóa chất độc hại gây ung thư.
Ngoài ra kinh tế trong nước đang trong tình trạng khó khăn, lạm phát tăng cao
nên từ Chính phủ đến người tiêu dùng đều ủng hộ việc các doanh nghiệp xuất khẩu nói
chung và doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép nói riêng quay về thị trường nội địa nhằm
duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc làm cho người lao động. Chính phủ đã có
chủ trương kích cầu nội địa, cùng với các Bộ ngành trong cả nước Bộ công thương
cũng đang thực hiện cuộc vận động hưởng ứng “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng
Việt Nam” những yếu tố đó tạo nên môi trường tâm lí xã hội thuận lợi: tự hào và mong
muốn sử dụng hàng Việt nhằm giúp đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn.
1.4. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á và một số doanh nghiệp Việt
Nam trong việc phát triển thị trường nội địa
1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước Đông Á
Biện pháp quan trọng nhất là kích thích tiêu dùng nội địa. Sau khủng hoảng,
chính phủ một số nước Đông Á vẫn chủ yếu đi theo những biện pháp kích cầu truyền
thống nhằm kích thích tiêu dùng và sản xuất trong nước như: nới lỏng chính sách tiền
tệ, giảm lãi suất, trợ cấp cho người tiêu dùng, tăng chi tiêu chính phủ cho các nhu cầu
công cộng. Chính phủ Hàn Quốc đã bơm hàng trăm tỷ USD vào nền kinh tế, hỗ trợ sản
xuất để các công ty chuyển hướng chiến lược sản phẩm. Chính phủ Thái Lan đã đặt
nhiệm vụ kích thích tiêu dùng làm trọng tâm của chính sách kinh tế bằng cách loại bỏ
hầu hết các rào cản hạn chế tiêu dùng. Ví dụ: Chính phủ Thái đã loại bỏ quy định về
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 40
việc các ngân hàng khi cho vay phải đặt điều kiện tiền lương tối thiểu đối với người
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
vay. Việc giảm các loại thuế cũng là một biện pháp mang lại hiệu quả tích cực. Còn ở
Inđônêxia, chính phủ lại sử dụng một biện pháp trái ngược là quy định nâng mức
lương tối thiểu đối với người làm việc trong khu vực công ty lên 10% so với trước đây
và cũng đem lại hiệu quả tương ứng.
Sự gia tăng chi tiêu ngân sách của chính phủ cũng là một yếu tố góp phần tạo
nên sự tăng cầu nội địa. Chính sách kích thích chi tiêu trọn gói đã được chính phủ Hàn
Quốc, Malaixia và Thái Lan áp dụng nhằm kích thích cầu trong nước. Các chính sách
kích thích chi tiêu ngân sách chủ yếu được sử dụng ở những vùng nông thôn và những
vùng bị tác động nặng nề nhất của khủng hoảng, và chủ yếu bao gồm các dự án đầu tư
công cộng sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Chính sách đầu tư
nhằm vào việc tuyển dụng công nhân không lành nghề và thúc đẩy công ăn việc làm
trong những ngành vốn đang dư thừa năng lực sản xuất. Các biện pháp kích thích tiêu
dùng ở khu vực thành thị cũng được mở rộng như trợ cấp thu nhập, tạo việc làm, thực
hiện chính sách bảo trợ xã hội, tăng lương cho khu vực công ty, cung cấp các dịch vụ
đào tạo và tái tuyển dụng.
Trong số những nước áp dụng những biện pháp kích cầu trong nước, Hàn Quốc,
Thái Lan và Malaixia tỏ ra kích cầu hiệu quả nhất. Tại Malaixia, nhu cầu tiêu dùng nội
địa năm 2010 đã tăng 8% so với năm trước. Tại Thái Lan, mức tiêu thụ các mặt hàng
tiêu dùng tăng gấp 3 lần so với thời gian xảy ra khủng hoảng. Sự gia tăng mạnh mẽ
tiêu dùng nội địa trước hết là do nền kinh tế của các nước này đã bắt đầu tăng trưởng
trở lại, nhưng quan trọng hơn là do chính sách kích cầu hiệu quả từ phía chính phủ,
đặc biệt là kích cầu trong khu vực nông thôn và dân nghèo thành thị.
Biện pháp thứ hai là chính phủ điều chỉnh cơ cấu sản xuất trong nước bởi hầu
hết chính phủ các nước Đông Á đều cho rằng nguyên nhân chính dẫn tới sự thu hẹp thị
trường nội địa là do lỗi của mô hình kinh tế cũ chứ không phải bắt nguồn từ sự sa sút
nhu cầu trong nước và thế giới. Bởi trong giai đoạn vừa qua, hầu hết các nước Đông Á
đều tập trung đầu tư vào các ngành hướng mạnh về xuất khẩu, đặc biệt là những ngành
xuất khẩu sử dụng nhiều vốn và lao động. Kết quả là đã dẫn đến một cơ cấu ngành
hàng sản xuất tương đồng giữa các nước, cả về giá cả, cơ cấu chất lượng, do vậy dẫn
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 41
đến sự ế thừa hàng hóa tràn lan ở cả thị trường trong nước và thị trường thế giới. Xu
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
hướng đầu tư vào một số mặt hàng xuất khẩu nhất định cũng đã dẫn đến sự tập trung
thu nhập vào những địa phương có sức hút đầu tư cao, do vậy dẫn đến sự dư thừa lao
động và cơ hội thu nhập không được mở rộng ở những vùng địa phương kém sức hút
đầu tư. Sự mất cân đối về cơ cấu ngành đã dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập và đầu
tư giữa các vùng và cũng là một trong những nguyên nhân khiến cầu trong nước bị thu
hẹp.
1.4.2. Kinh nghiệm phát triển thị trường nội địa của một số doanh nghiệp
trong Ngành
Một số doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép đã có nhưng chiến lược chiếm được
thị trường nội địa, sản phẩm của họ không những có mặt trên thị trường xuất khẩu mà
còn được nhiều người tiêu dùng trong nước biết đến như Công ty TNHH Nhà nước
một thành viên giầy Thượng Đình (với sản phẩm giầy dép Thượng Đình), Công ty Cổ
phần giày Việt-Vina Giày (với sản phẩm giầy dép, mang thương hiệu Vina Giày).
Những doanh nghiệp này đã cạnh tranh được với giày dép nước ngoài ngay trên "sân
nhà" như Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (với sản phẩm dép xốp, sandan).
Vì vậy những doanh nghiệp trước kia chỉ chú trọng xuất khẩu cần học hỏi kinh
nghiệm chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp này. Dưới đây là một số
thành tựu, chiến lược cũng như kinh nghiệm mà các doanh nghiệp trên đã thực hiện.
1.4.2.1. Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình
Được thành lập năm 1957, tiền thân là xưởng X30 thuộc Cục quân nhu – Tổng
cục hậu cần – Quân đội nhân dân Việt Nam. Với gần 200 có nhiệm vụ sản xuất mũ
cứng, dép cao su phục vụ cho quân đội, công nghệ chủ yếu là thủ công và bán cơ khí.
Đến nay, công ty đã hoạt động trên 40 năm trong lĩnh vực sản xuất giày dép, số
CBCNV hiên nay khoảng hơn 2000 người, và có 7 dây chuyền sản xuất giày dép hiện
đại. Với sản phẩm giày dép Thượng Đình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
đã tương đối thành công trên cả thị trường xuất khẩu cũng như thị trường nội địa.
Công ty giày Thượng Đình với phương thức xuất khẩu trực tiếp và khai thác thị
trường nội địa Công ty luôn có sự ổn định về nhịp độ sản xuất, chất lượng sản phẩm và
hiệu quả kinh doanh ngày càng được nâng cao. Công ty không liên doanh với nước
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 42
ngoài và cũng không nhận máy về làm gia công mà tiếp cận các Công ty nước ngoài
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
để học hỏi kinh nghiệm, từng bước nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ quản lý, cán
bộ kỹ thuật và đội ngũ công nhân. Đồng thời Công ty còn đẩy mạnh công tác khai thác
nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động nguồn hàng, tích cực tìm kiếm đối tác. Với
phương thức này sản phẩm của Công ty giờ đây đã có chỗ đứng vững chắc trên thị
trường EU, Bắc Mỹ, Đông Âu, châu Á và Braxin. Không những thành công trên thị
trường xuất khẩu, Công ty giày Thượng Đình còn thành công trong việc cung cấp giày
nội địa. Số lượng giày dép cung ứng cho thị trường nội địa chiếm khoảng 60% tổng
sản lượng, doanh thu chiếm khoảng 40% tổng doanh thu.
Để khai thác thị trường nội địa công ty cũng đã có những chiến lược và hướng
đi nhất định trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mình. Với chiến lược khai thác
thị trường nội địa, đầu tiên công ty luôn chú trọng đến việc tìm hiểu thị hiếu để đáp
ứng mong muốn tốt của người tiêu dùng, tìm hiểu xem họ có xu hướng mẫu mã như
thế nào, giá cả để người tiêu dùng có thể chấp nhận tiêu dùng. Thị trường của giày
Thượng Đình hướng tới chủ yếu là người tiêu dùng có thu nhập ở mức trung bình, học
sinh, sinh viên, người lao động,… với các sản phẩm giày bata, giày nam, giày nữ, giày
trẻ em, giày vải, giày thể thao. Sau đó Công ty chú trọng đến công tác xây dựng mạng
lưới tiêu thụ và quảng bá sản phẩm cũng được triển khai mạnh trên phạm vi toàn quốc.
Hiện nay Công ty đã có mạng lưới phân phối rộng khắp, các chi nhánh sản xuất và đại
lí, cửa hàng.
Do có chất lượng tốt, Công ty đã đạt rất nhiều thành tích giải thưởng đối với sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp:
+ Sản phẩm của Công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn TOPTEN, liên
tục được công nhận là Hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1996 đến 2006 (do
Người tiêu dùng bình chọn - Báo Sài gòn tiếp thị tổ chức). Đạt nhiều Huy chương
vàng bạc tại các Hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế.
+ Thương hiệu giầy Thượng Đình luôn được bình chọn là thương hiệu tiêu biểu
của ngành công nghiệp Hà Nội và của cả nước (do Thời báo kinh tế tổ chức).
+ Năm 2004, Công ty đạt giải thưởng Cúp chân dung Bạch Thái Bưởi, cúp vàng
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 43
Hà Nội, doanh nghiệp tiêu biểu.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
+ Năm 2005, Công ty đạt giải thưởng Hà Nội vàng cho sản phẩm giầy thể thao,
03 huy chương vàng cho 3 sản phẩm giầy thể thao tại Hội chợ Hà Nội vàng hướng tới
1000 năm Thăng Long Hà Nội.
+ Thương hiệu giầy Thượng Đình được công nhận là một trong những thương
hiệu mạnh năm 20042005 do phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức.
Ngoài ra công ty giày thượng Đình còn tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng
và uy tín sản phẩm. Cùng với đầu tư mở rộng sản xuất, Công ty là doanh nghiệp đầu
tiên trong ngành giày Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9002.
1.4.2.2. Công ty cổ phần giày Việt - Vina Giày
Công ty cổ phần giày Việt – Vina giày với thương hiệu sản phẩm Vina-Giày. Dù
trên thương trường cạnh tranh khắc nghiệt nhưng Vina – Giày vẫn không ngừng tăng
trưởng, mỗi năm tăng hơn 30% doanh số. Sản phẩm Vina – Giày đã có mặt tại hầu hết
các nước phát triển. Tuy nhiên, thời gian qua, với phương châm hướng đến thị trường
nội địa là chủ yếu, Vina – Giày chỉ xuất khẩu khoảng 30% sản phẩm ra nước ngoài.
Công ty cung cấp cho thị trường giày da nội địa một số lượng lớn và có chất
lượng cao. Khởi đầu phát triển từ tập trung vào thị trường nội địa với chiến lược:
+ Tập trung vào mẫu mã, mẫu mã thay đổi theo mùa đáp ứng cho mọi lưá tuổi.
Sản phẩm của Vina-giày chủ yếu là da, giả da. Mẫu mã khá lịch sự, tao nhã;
+ Giá cả phù hợp với người tiêu dùng.
Vina- giày nhiều năm liền được người tiêu dùng bình chọn “hàng Việt Nam chất
lượng cao” “hàng Việt Nam được người tiêu dùng ưa thích”.
1.4.2.3. Công ty Biti’s
Qua 22 năm hoạt động, Biti’s hiện nay là Công ty hàng đầu của Việt Nam trong
ngành sản xuất kinh doanh giày dép. Biti’s đã trở thành một nhóm công ty bao gồm 3
công ty thành viên: Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Biti’s) chuyên sản
xuất dép xốp, hài, sandal tiêu thụ trong nước và xuất khẩu , Công ty TNHH Bình Tiền
Đồng Nai (DONA Biti’s) chuyên sản xuất giày thể thao (công nghệ Hàn Quốc), PU,
xốp…, Công ty Liên doanh Sơn Quán - đơn vị liên doanh giữa hợp tác xã Cao Su Bình
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 44
Tiên với công ty SunKuan Đài Loan - chuyên sản xuất hài, dép xuất khẩu.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Với Biti’s: “Biti’s nâng niu bàn chân Việt” đã trở thành slogan quen thuộc với
người tiêu dùng trong cả nước. Biti’s tự hào là một trong những doanh nghiệp Việt
Nam đã và đang rất thành công trong việc quảng bá thương hiệu sản phẩm giày dép
Việt Nam trong nước và ra thế giới.Tiêu dùng nội địa chiếm trên 70% tổng doanh thu.
Chiến lược được công ty biti’s đưa ra là:
+ Họ rất quan tâm tới thị trường nội địa kể cả các vùng xa xôi, miền trung và
Tây Nguyên;
+ Công ty đầu tư vào công tác tạo mẫu;
+ Thu thập thông tin về thị hiếu khách hàng;
+ Kết hợp yếu tố giá cả;
+ Hệ thống phân phối, sản phẩm và chiêu thị.
Ví dụ điển hình là kết hợp clip quảng cáo “ Nâng niu bàn chân Việt “ và xây
dựng hình tượng mang đậm nét truyền thống Việt Nam về thuơng hiệu Biti’s.
Ngoài phương thức kinh doanh truyền thống, Biti’s luôn tìm tòi những hướng đi
mới, dám chấp nhận rủi ro, táo bạo trong kinh doanh nhằm phục vụ cho chiến lược
kinh doanh “phủ dày, phủ xa”. Với chiến lược này, Biti’s quyết tâm đưa sản phẩm của
mình đến gần với người tiêu dùng. Đã hơn 10 năm kể từ ngày áp dụng thành công
chiêu thức trên, hiện nay, ngoài hệ thống phân phối chính thức, sản phẩm của Biti’s
còn thông qua một mạng lưới phân phối lẻ không chính thức chằng chịt, có mặt tại
những vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh. Từ chính sách này, Biti’s đã từng bước đẩy lùi
các sản phẩm cùng loại của Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan vốn một thời làm mưa
làm gió trên thị trường Việt Nam. Ngoài ra, chính sách “áp dụng một giá” trên toàn
quốc đã được người tiêu dùng an tâm khi chọn mua giày dép Biti’s ở các đại lý trong
toàn quốc mà không phải lo trả giá, sợ mua hớ hay mua nhầm. Điều đó càng khẳng
định tất cả sản phẩm của Biti’s đều cùng một chất lượng, không có hàng thứ phẩm.
Chỉ một vài ý tưởng mới trong kinh doanh thôi cũng đã làm cho doanh thu Biti’s
tăng cao, thương hiệu Biti’s ngày càng nổi tiếng và đứng vững trên thị trường nội địa.
Hiện nay, sản phẩm của Biti’s đã có mặt tại 3 trung tâm thương mại, 9 chi nhánh và
hơn 4.500 đại lý bán lẻ và hệ thống văn phòng đại diện, showroom giới thiệu sản phẩm
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 45
ở 40 quốc gia trên thế giới.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
1.5. Kết luận Chương I
Chương I với tiêu đề “Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường nội
địa”, luận văn đã tập trung vào làm sáng tỏ các nội dung và khái niệm liên quan đến
việc phát triển thị trường nội địa nói chung và phát triển thị trường nội địa của ngành
da giầy Việt Nam cụ thể như sau:
Đã làm rõ một số vấn đề lý luận về thị trường cũng như thị trường nội địa trong
nền kinh tế nói chung và của ngành da giầy nói riêng.
Trong phần nội dung về phát triển thị trường nội địa đã nêu được những nội
dung cơ bản nhất đó là các đặc điểm của thị trường nội địa, các nhân tố cấu thành của
thị trường nội địa, các hoạt động phát triển thị trường nội địa cũng như sự cần thiết
phải phát triển thị trường nội địa nói chung và thị trường ngành da giày nói riêng.
Tất cả những nội dung đã nêu ở chương I sẽ được vận dụng để nêu và giải
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 46
quyết các vấn đề trong chương II và chương III.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm phát triển của Ngành da giầy Việt Nam
2.1.1. Cơ cấu ngành theo thành phần kinh tế
Tính đến năm 2011, toàn Ngành có 812 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm da
giầy. Xét theo thành phần kinh tế, số lượng các doanh nghiệp thuộc khối doanh nghiệp
ngoài nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 70%) trong cơ cấu ngành. Tỷ trọng
các doanh nghiệp nhà nước giảm từ 18,6% năm 2000 xuống 1,9% năm 2011. Nguyên
nhân giảm là do nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tiến hành cổ phần hoá thành các
công ty cổ phần, một số doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh không hiệu quả
phải ngừng sản xuất hoặc giải thể.
Cơ cấu doanh nghiệp theo thành phần kinh tế qua các năm như sau:
Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất theo thành phần kinh tế
Loại hình doanh nghiệp 2000 2005 2010 2011
DN nhà nước (%) 18,6 5,5 2,6 1,9
DN ngoài nhà nước (%) 78,7 68,5 70,7 74,6
DN có vốn ĐTNN (%) 2,7 26,0 26,7 23,5
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê)
Số liệu trên cho thấy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đóng góp
lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của toàn Ngành. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sở
hữu vốn của doanh nghiệp khá rõ, từ năm 2000 đến 2011 số lượng các doanh nghiệp nhà
nước giảm dần và doanh nghiệp có vốn từ các thành phần kinh tế khác tăng lên.
2.1.2. Thực trạng sản xuất
Tính đến năm 2011, mặc dù toàn ngành da giày nước ta có tổng số 812 doanh
nghiệp và hơn trăm làng nghề hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm da giầy.
Tuy nhiên, chỉ có khoảng 30 doanh nghiệp và hơn 1.000 cơ sở sản xuất nhỏ lẻ cung
ứng sản phẩm cho thị trường nội địa (đáp ứng khoảng 50% nhu cầu của thị trường nội
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 47
địa).
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Bảng 2.2. Số lượng các doanh nghiệp sản xuất theo chuyên ngành
Số lượng doanh nghiệp Ngành SX 2000 2005 2010 2011
Giầy dép các loại 187 372 413 516
Da thuộc 8 23 32 33
Cặp, túi, ví các loại 63 185 218 263
Tổng cộng 258 580 663 812
(Nguồn: Số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê ) Các doanh nghiệp sản xuất của ngành phân bố không đều trên toàn lãnh thổ, tập trung chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng (chiếm 89,1% tổng số cơ sở sản xuất của ngành). So với năm 2000, năm 2011 số lượng doanh nghiệp tăng nhanh ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lại giảm đi ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung, cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Cơ cấu số lượng doanh nghiệp sản xuất phân bố theo vùng
Vùng 2000 2005 2010 2011
Vùng Trung du miền núi phía Bắc (%) 0,4 0,9 0,7 1,1
Vùng Đồng bằng sông Hồng (%) 25,6 20,5 18 0 18,2
Vùng Duyên hải miền Trung (%) 3,9 3,3 3,2 2,3
Vùng Tây Nguyên (%) - 0,2 0,2 0,1
Vùng Đông Nam Bộ (%) 65,5 71,0 71,6 70,9
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (%) 4,7 4,1 6,3 7,4
(Nguồn: Xử lý từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê )
Năng lực sản xuất giầy dép tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (chiếm 77,4% năng lực sản xuất của toàn ngành), vùng đồng bằng sông Hồng (11,1%) và duyên hải miền Trung (6,4%). Năng lực sản xuất giầy dép tập trung chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội.
Năng lực sản xuất cặp túi ví tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, thành
phố Đà Nẵng và thành phố Hà Nội.
Năng lực sản xuất da thuộc của ngành tập trung ở vùng Đông Nam Bộ (chủ yếu
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 48
tại các tỉnh Bình Dương, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Sản phẩm Ngành ở mức trung bình và thấp, nhưng cũng vẫn đang vật vã cạnh
tranh với hàng Trung Quốc vốn có lợi thế nguồn nguyên liệu, phụ liệu, đa dạng về
chủng loại, mẫu mã và giá cả. Bên cạnh phần lớn là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ,
lẻ nay đã phát triển thêm những doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và uy tín trên thị
trường như Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Bis’tis), Công ty Tư nhân
Giầy Á Châu (Asia Shoes), Công ty Giầy Thượng Đình, Công ty sản xuất thương mại
đồ da (Ladoda), làng nghề da giầy Quận 4 TP. Hồ Chí Minh, làng nghề da giầy Phú
Yên, Phú Xuyên, Hà Nội, … cũng sản xuất sản phẩm cung ứng cho thị trường nội địa.
Sự phát triển của các công ty trên đã tạo nên một diện mạo mới cho Ngành nói
chung và thị trường nội địa nói riêng. Chính sự vươn lên để phát triển của các doanh
nghiệp này đã tạo nên thế đứng mới, đối trọng mới cho Ngành khỏi mất vị thế ngay
trên sân nhà.
Bảng 2.4: Tổng hợp sản lượng giầy dép phục vụ
thị trường nội địa năm 2011 của các doanh nghiệp trong nước
Loại hình doanh nghiệp Sản lượng (Đôi) Giá trị (USD)
Doanh nghiệp xuất khẩu 39.679.000 520.023.000
Doanh nghiệp tự chủ sản xuất 5.186.000 102.906.000
Làng nghề 24.092.000 125.165.000
Cơ sơ sản xuất nhỏ 324.000 1.906.000
Tổng 69.281.000 750.000.000
Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt Nam
Qua số liệu tổng hợp cho thấy bình quân hàng năm, tổng sản lượng sản phẩm
giầy dép được sản xuất để phục vụ cho thị trường nội địa là gần 70 triệu đôi. Trong đó
khối các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gia công xuất khẩu vẫn là những đơn
vị chủ lực để cung cấp sản phẩm cả cho thị trường nội địa (57,3%). Các làng nghề
truyền thống đang đứng ở vị trí sau các doanh nghiệp lớn (34,8%) để phục vụ và
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 49
hướng tới chiếm lĩnh thị trường nội địa.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Mặc dù có sự phát triển vượt bậc so với thời kì trước, song có một thực tế là
khả năng sản xuất nhằm cung cấp cho thị trường nội địa của các doanh nghiệp da giầy
trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Đến thời điểm hiện nay, các sản phẩm được cung cấp từ các nhà sản xuất trong
nước đều có giá cả phải chăng, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của phân khúc thị
trường dân số đông và có thu nhập trung bình trở xuống. Các sản phẩm chủ yếu là giầy
vải, dép làm từ nhựa, xốp và giả da. Các sản phẩm da giầy cao cấp hoặc có chất lượng
tương đối cao đều phải nhập từ nước ngoài trong đó Châu Á là châu lục cung cấp đến
65% sản phẩm da giầy cho thị trường nội địa Việt Nam.
2.1.3. Tổ chức quản lý
Trong những năm qua ngành da giầy Việt Nam hoạt động và phát triển dưới
nhiều hình thức sở hữu khác nhau: doanh nghiệp nhà nước (tổng công ty, công ty, xí
nghiệp), doanh nghiệp ngoài nhà nước (công ty TNHH, công ty tư nhân, công ty cổ
phần) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (công ty liên doanh, công ty có 100%
vốn đầu tư nước ngoài). Các doanh nghiệp trong ngành hoạt động độc lập theo Điều lệ
công ty và theo Luật Doanh nghiệp.
Từ năm 2003 về trước, ngành da giầy có Tổng công ty da giầy Việt Nam bao
gồm 18 công ty con hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc. Ngày 19 tháng 6 năm 2003 Bộ
Công nghiệp ra Quyết định số 100/QĐ-BCN giải thể Tổng công ty da giầy Việt Nam
do không đáp ứng đủ tiêu chí tổng công ty theo quy định mới của Chính phủ. Các
doanh nghiệp thành viên hoạt động độc lập theo Luật doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
có đủ điều kiện thì chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.
Ngành da giầy có Hiệp hội da giầy Việt Nam và Hội da giầy ở một số thành
phố như Hội da giầy thành phố Hồ Chí Minh, Hội da giầy thành phố Hà Nội. Hiệp hội
da giầy Việt Nam là đầu mối kết nối các doanh nghiệp trong nước và xúc tiến các quan
hệ hợp tác quốc tế, hỗ trợ kỹ thuật - công nghệ, đào tạo, cung cấp các thông tin chuyên
ngành đến các doanh nghiệp hội viên và bảo vệ lợi ích chung của các doanh nghiệp
khác trong ngành. Hiệp hội da giầy Việt Nam hoạt động ngày càng hiệu quả phục vụ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 50
cho sự phát triển ngành.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2.1.4. Công tác đầu tư
Trong những năm qua, ngành da giầy đã thực hiện đầu tư xây dựng và cải tạo
nhà xưởng, đầu tư thiết bị, dây chuyền sản xuất đồng bộ, đầu tư các dự án mới và đầu
tư di dời các cơ sở sản xuất ở gần khu dân cư hoặc các cơ sở gây ô nhiễm vào các khu
công nghiệp.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng tài sản của ngành sau 10 năm từ năm
2000 đến năm 2011 đã tăng 6,3 lần, đạt giá trị 82.554 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp
ngoài nhà nước chiếm 45,7%, doanh nghiệp FDI chiếm 41,8% và doanh nghiệp nhà
nước chiếm 12,6%.
Sản xuất giầy dép cần vốn đầu tư không lớn và có khả năng thu hồi vốn nhanh.
Các doanh nghiệp bỏ vốn trang bị thiết bị đồng bộ trả chậm trừ dần vào công phí hoặc
đối tác nước ngoài cung cấp thiết bị để gia công sản phẩm. Vốn đầu tư mua thiết bị
chiếm 77,3% và vốn đầu tư xây dựng và cải tạo nhà xưởng chiếm 22,7% trong tổng
vốn đầu tư. Một số doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống thiết bị tiên tiến, hiện đại, tự động
hoặc bán tự động, hệ thống CAD, CAM ở các công đoạn sản xuất như pha cắt, gò ráp
hoàn thiện sản phẩm. Một số doanh nghiệp như Công ty CP Giầy An Lạc, Công ty
Công nghiệp Đông Hưng, Công ty CP Giầy Thái Bình, Công ty Tae Kwang Vina,
Công ty TNHH Shyang Hung Cheng, Công ty TNHH Pou Yuen Việt Nam, Công ty
Pou Chen, Công ty TNHH Ching Luh Việt Nam, Công ty sản xuất hàng tiêu dùng
Bình Tiên (Biti’s) thành phố Hồ Chí Minh, Biti’s Đồng Nai, Công ty CP Giầy Thượng
Đình đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hoá thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử
nghiệm phục vụ công tác ra mẫu chào hàng.
Khu vực doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có đủ tiềm lực để đầu tư mới nhà
xưởng, máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn sản xuất công nghiệp với quy mô hợp lý,
khép kín. Các doanh nghiệp nhà nước và liên doanh đầu tư theo hướng tận dụng các cơ
sở hiện có và cải tạo từ hệ thống kho tàng cũ để hình thành nhà xưởng khang trang,
phù hợp để bố trí thiết bị sản xuất giầy.
Do đặc thù, sản xuất da thuộc cần vốn đầu tư rất lớn so với sản xuất giầy dép và
cặp - túi - ví. Ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị, các doanh nghiệp còn phải đầu tư hệ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 51
thống xử lý nước thải để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trước năm 2000, lĩnh vực thuộc da không được các doanh nghiệp nước ngoài
quan tâm, các cơ sở trong nước đầu tư nhỏ lẻ, manh mún. Từ năm 2001- 2002, ngoài
công ty thuộc da Hào Dương được thành lập, một số doanh nghiệp thuộc da 100% vốn
nước ngoài cũng được cấp phép xây dựng và đi vào hoạt động như Công ty TNHH
Samwoo Vietnam, Công ty TNHH Green Tech (Hàn Quốc), Công ty TNHH Prime Asia
(Hồng Kông), Công ty TNHH Tong Hong Vietnam (Trung Quốc). Giai đoạn 2004 -
2006 việc có thêm 2 doanh nghiệp FDI là Công ty TNHH Vina Rong Hsing (Trung
Quốc), Perrin Rostaning (Pháp) đã góp phần gia tăng nhanh sản lượng da thuộc.
Các doanh nghiệp thuộc da đầu tư trước đây không có hệ thống xử lý nước thải,
gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện di dời nhà xưởng vào các khu công nghiệp để
đảm bảo vấn đề về môi trường và phát triển bền vững.
Hầu hết các doanh nghiệp do chưa có kinh nghiệm nên đầu tư còn mất cân đối
giữa các công đoạn (chuẩn bị thuộc, thuộc và hoàn thiện); năng lực sản xuất ở các
công đoạn không tương ứng nên khả năng khai thác công suất thấp. Do khó khăn về tài
chính, nên công trình đầu tư ở các doanh nghiệp thường bị kéo dài, tiến độ thực hiện
không đạt được so với kế hoạch đề ra, gây thiệt hại về tài chính và đôi khi mất thời cơ
sản xuất đáp ứng thị trường. Nhiều doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngắn hạn, lãi suất
cao hoặc dùng vốn lưu động để đầu tư, sản xuất không đủ bù đắp chi phí vay, đến hạn
ngân hàng không trả được.
Do thiếu tôn trọng quy hoạch cụ thể, thiếu sự hợp tác giữa các doanh nghiệp,
giữa các thành phần kinh tế nên xảy ra tình trạng đầu tư tràn lan trong khi năng lực sản
xuất cục bộ còn dư thừa, dẫn tới sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh
nghiệp trong ngành.
2.1.5. Máy móc thiết bị
Thiết bị sản xuất giầy dép hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là thiết bị của Đài Loan
(50%) Hàn Quốc (20%), Trung Quốc (10%) và khác (20%). Nhìn chung, các thiết bị
có trình độ cơ khí cao; thiết bị bán tự động hoặc tự động bao gồm: máy cắt mẫu tự
động, hệ thống phay chép phom, hệ thống in thêu, may theo chương trình.
Thiết bị ở công đoạn pha cắt nguyên liệu được đánh giá thuộc loại trung bình
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 52
tiên tiến ở khu vực, chủ yếu là các loại máy chặt thuỷ lực khổ rộng, máy chặt thuỷ lực
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
khổ nhỏ, máy chặt thuỷ lực đầu chặt di động, hệ thống máy in, thêu, máy lạng da, máy
dẫy mép. Một số doanh nghiệp đầu tư thiết bị cắt điều khiển tự động theo chương trình
thế hệ mới phục vụ cho việc cắt mẫu dưỡng và chi tiết sản phẩm mẫu. Một số doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư thiết bị cắt bằng tia lade, tia nước. 60% số thiết bị
ở công đoạn pha cắt đã sử dụng trên 10 năm và 40% thiết bị sử dụng dưới 10 năm.
Các thiết bị sử dụng trong công đoạn may ráp là máy may các loại, máy gấp
mép, máy tẽ hậu, máy đính ô dê.... Các thiết bị này chủ yếu nhập của Đài Loan, Hàn
Quốc. Một số ít doanh nghiệp sử dụng máy may chuyên dùng điều khiển bán tự động
hoặc ghép nguyên công, cắt chỉ tự động, may theo chương trình của Nhật Bản, Đức.
Số thiết bị ở công đoạn may đã sử dụng trên 10 năm khoảng 65%, sử dụng dưới 10
năm là 35%.
Hệ thống thiết bị gò ráp và hoàn thiện giầy chủ yếu của Đài Loan và Hàn Quốc.
Một số doanh nghiệp nhập thiết bị của Ý nhưng ở dạng thiết bị lẻ (như máy gò, máy
định hình hậu, máy mài chân gò, máy ép đế có thành). Một số thiết bị dùng trong sản
xuất giầy vải như băng tải, hệ thống sấy, nồi hấp giầy, máy mài nhám chân gò, máy
bôi keo, máy đốt chỉ... được chế tạo trong nước. Có tới 80% thiết bị ở công đoạn này
đã sử dụng trên 10 năm, còn lại 20% là sử dụng dưới 10 năm.
Tiền chế đế lắp ráp thực hiện trên các thiết bị cơ khí và bán cơ khí, chủ yếu là
các loại máy mài, máy ép. Các thiết bị này chủ yếu nhập từ Đài Loan và Hàn Quốc.
Tiền chế đế định hình sử dụng thiết bị được nhập khẩu từ các nước khác nhau, tuỳ
thuộc vào đế lắp ráp, đế ép phun hay đế ép đúc (đế lắp ráp, thiết bị nhập từ Đài Loan,
Hàn Quốc; đế ép đúc thiết bị nhập từ Đài Loan, Tiệp Khắc; đế ép phun, thiết bị nhập
từ các nước châu Âu như Đức, Ý).
Đóng gói giầy thực hiện thủ công, ngay trên băng chuyền.
Dụng cụ cơ khí bao gồm các loại khuôn mẫu, dao chặt, cữ may, ống viền, đục
các loại, giá kệ, xe chuyển do các doanh nghiệp cơ khí và xưởng cơ khí ở một số
doanh nghiệp giầy sản xuất và chế tạo.
Hiện nay ngành gần như phải nhập khẩu hoàn toàn phụ tùng, thiết bị phục vụ
cho sản xuất. Trong lĩnh vực chế tạo thiết bị cho sản xuất giầy dép, việc chế tạo phụ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 53
tùng, thiết bị trong nước không đáng kể, chỉ chế tạo được một số thiết bị thông thường
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
và đơn giản như máy chặt thuỷ lực, băng tải. Các thiết bị lắp ráp, chế tạo trong nước
vẫn phải nhập khẩu một số phụ tùng, linh kiện quan trọng. Nói chung, chất lượng các
sản phẩm chế tạo không cao, mức độ chuẩn hoá và khả năng lắp lẫn thấp, gây khó
khăn cho người sử dụng và hạn chế hiệu quả về kinh tế trong quá trình sửa chữa thay
thế trong khi giá thành còn cao nên thị trường tiêu thụ bị hạn chế.
Hầu hết máy móc thiết bị trong sản xuất da thuộc đều thuộc thế hệ mới, có gía
bán cao xuất xứ từ Ý, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc. Nhìn chung các máy
này có khả năng sản xuất các mặt hàng da có chất lượng tốt. Mức cơ khí hoá trong lĩnh
vực sản xuất da thuộc đã được nâng lên. Nhiều công đoạn thủ công như nâng chuyển
nguyên liệu, hóa chất đã được cơ khí hoá. Tuy nhiên cũng giống như trong lĩnh vực
giầy, hiện tại, trong nước mới chỉ sản xuất được một vài thiết bị đơn giản như máy đo
diện tích da, máy bào, thùng quay công suất nhỏ và thực hiện việc bảo trì, bảo dưỡng
thiết bị.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn như Công
ty thuộc da Hào Dương, Công ty CP da Green Tech, Công ty Samwoo, Công ty Tong
Hong, Công ty TNHH Huynh đệ thuộc da Hưng Thái, Cơ sở Kim Thành, Công ty
thuộc da Đặng Tư Ký đã đầu tư hàng triệu đô la Mỹ cho nhà xưởng, máy và thiết bị. Ở
phía Bắc, ngoài Công ty CP Da Vinh được tiếp nhận máy và thiết bị từ Nhà máy Da
Thuỵ Khuê, Nhà máy Da Tam Kỳ và bổ sung thiết bị nhập ngoại cho đồng bộ, các
doanh nghiệp khác chỉ đầu tư mua thiết bị cũ, lạc hậu.
Đánh giá chung, thiết bị sử dụng trong ngành thuộc da trên 50% có chất lượng
tốt, 30% chất lượng trung bình và gần 20% chất lượng kém, lạc hậu cần được thay thế.
Hầu hết thiết bị sản xuất cặp - túi - ví được nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc, Trung
Quốc. Ở khâu pha cắt, nhiều cơ sở chỉ dùng các loại máy cắt, dụng cụ cắt đơn giản
như máy cắt vải vòng, dao cắt.
2.1.6. Công nghệ
Trình độ công nghệ sản xuất giầy dép phổ biến ở mức trung bình và trung bình khá
so với khu vực. Quá trình sản xuất mới được cơ giới hoá mà chưa tự động hoá. Tỷ lệ công
việc làm thủ công hiện còn ở mức cao, điển hình là các công đoạn trải nguyên liệu, bôi
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 54
keo, đục tán ô dê, mài, xén, kiểm đếm, vận chuyển nguyên liệu và bán thành phẩm.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Bí quyết công nghệ trong lĩnh vực bồi vải và cán luyện cao su thuộc về từng
nhà sản xuất; việc chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp cũng ở chừng mực
nhất định. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khác biệt về chất lượng giữa các nhà
sản xuất.
Những công nghệ cao sản xuất các loại giầy đặc chủng, giầy thể thao chuyên
dụng đẳng cấp cao, giầy y tế và giầy thời trang cao cấp hiện còn ở ngoài tầm của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay các doanh nghiệp gia
công làm hàng cho các hãng nước ngoài vẫn phải sử dụng thiết kế được làm từ nước
ngoài. Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo mẫu thiết kế. Tuy nhiên trong một vài năm
gần đây, một số doanh nghiệp đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hoá thiết kế, ứng
dụng CAD, CAM trong tạo mẫu và quản lý sản xuất, đáp ứng nhanh yêu cầu của
khách hàng.
Ở các tiệm giầy tư nhân, tổ hợp sản xuất giầy, việc thiết kế hoàn toàn thủ công,
chủ yếu là làm theo kinh nghiệm. Họ không nhân ni số mà chỉ làm theo từng ni phom.
Việc rập mẫu chính xác với các cơ sở này không quan trọng lắm vì các sai sót này có
thể chỉnh sửa (cắt xén hoặc ráp thêm) bằng tay sao cho hoàn chỉnh một đôi giầy.
Trình độ thiết kế mẫu của ngành nói chung còn yếu do chưa có đủ phương tiện
cũng như kiến thức để tiến hành mô đun hoá công nghệ. Sản xuất giầy, đồ da đang chế
tác theo các mẫu của nước ngoài, mới ở mức độ cải biên chứ chưa đạt tới mức độ tự
thiết kế để tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hoá của từng cộng đồng sử
dụng.
Đối với sản xuất da thuộc, phần lớn các doanh nghiệp đang áp dụng các tiêu
chuẩn, quy trình công nghệ của nước ngoài. Trình độ công nghệ thuộc da được đánh
giá vào loại trung bình tiên tiến trong khu vực.
Những năm gần đây, các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần đang tiến hành
đổi mới về công nghệ thông qua sự hướng dẫn của đại diện các hãng hoá chất nước
ngoài tại Việt Nam. Các hãng này tiến hành các hoạt động trên nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ hoá chất thuộc da. Hiện nay các nước phát triển và đang phát triển
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 55
đang áp dụng công nghệ sạch và thân thiện với môi trường để giảm thiểu ô nhiễm môi
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
trường và hạn chế lượng hoá chất độc hại còn tồn đọng trong sản phẩm da thuộc.
Trong khi đó ở Việt Nam, hiện mới chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
hoặc doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu sử dụng công nghệ này.
Công nghệ may cặp túi ví không có gì phức tạp; thợ có tay nghề bậc 2, bậc 3 đã
có thể tiếp thu, nắm bắt và thực hiện tốt các công đoạn trong dây chuyền sản xuất.
Báo cáo “Đánh giá trình độ công nghệ ngành Da - Giầy Việt Nam” của Bộ
Công nghiệp do các chuyên gia trong ngành thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp
ATLAS công nghệ đã đánh giá trình độ công nghệ của ngành và đánh giá từng thành
phần như sau: T = 0,68; H = 0,63; I = 0,65; O = 0,70.
2.1.7. Công tác đo lường và quản lý chất lượng sản phẩm
Các doanh nghiệp trong ngành đã và đang xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu
chuẩn quốc tế ISO.
Đa số các doanh nghiệp sản xuất giầy chưa có đủ trang thiết bị để phân tích,
kiểm nghiệm các tiêu chuẩn chất lượng nguyên vật liệu và sản phẩm giầy. Việc kiểm
tra các điều kiện kỹ thuật của công nghệ, bán thành phẩm và thành phẩm chủ yếu theo
phương pháp cảm quan dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp của cán bộ và công nhân lâu
năm trong nghề (đặc biệt là kiểm tra chất lượng cao su cán luyện làm đế giầy). Một số
ít doanh nghiệp vốn trong nước đã đầu tư xây dựng phòng kiểm nghiệm nhưng không
đủ thiết bị nên một số chỉ tiêu quan trọng vẫn phải gửi ra nước ngoài để kiểm tra đánh
giá. Trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trang bị đầy đủ các thiết
bị kiểm tra chỉ tiêu cơ lý hoá của vật liệu và sản phẩm giầy.
Các doanh nghiệp thuộc da FDI và doanh nghiệp tư nhân ở phía Nam thực hiện
quản lý công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế nên phần lớn trong số họ đã tham gia phục
vụ xuất khẩu tại chỗ và trực tiếp xuất khẩu các sản phẩm da thuộc.
Cùng với sự phát triển của ngành và theo yêu cầu của khách hàng, các doanh
nghiệp thuộc da đã và đang từng bước đầu tư các thiết bị phục vụ kiểm tra ở từng công
đoạn, thay thế dần cho việc kiểm tra dựa trên kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật và công
nhân lành nghề, hạn chế tối đa hàng phế phẩm. Một số doanh nghiệp thuộc da mới
được đầu tư đã trang bị các thiết bị cho phòng thí nghiệm phân tích nhỏ của bản thân
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 56
doanh nghiệp.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Do thay đổi cơ chế hiện nay vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn Việt Nam TCVN hoàn chỉnh
phục vụ công nghệ thuộc da để làm chuẩn mực cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm.
2.1.8. Nguồn nhân lực
Theo số liệu của Ngành, năm 2011 ngành da giầy sử dụng 623.905 ngàn lao
động trong cả nước (không kể lao động tại các làng nghề, cơ sở nhỏ). Do sản xuất tập
trung ở các khu vực như Tp. HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Hải Phòng, nên
phần lớn lao động của ngành da giày là nhập cư với tỷ lệ giao động từ 75% đến 85%,
trong đó sản xuất giầy dép có 562.249 lao động, chiếm 90,1%; sản xuất da thuộc có
6.030 lao động, chiếm 1,0% và sản xuất cặp túi ví có 55.626 lao động, chiếm 9,0%.
Lao động trong Ngành chiếm tỷ trọng 9,9% trong cơ cấu lao động ngành công
nghiệp chế biến và 9,0% trong cơ cấu lao động của toàn ngành công nghiệp.
Lao động nữ chiếm 83% tổng số lao động của ngành, tập trung ở các doanh
nghiệp sản xuất giầy dép và sản xuất cặp túi ví.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút khoảng 71,8% tổng số lao động
trong ngành, trong khi khu vực ngoài nhà nước thu hút 25,5% và khu vực nhà nước
thu hút 2,7%.
Lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 438.511 người so với năm
2000, tăng bình quân 62,1%/năm, trong khi lao động ở khu vực ngoài nhà nước giảm
58.800 người và khu vực nhà nước giảm 52.444 người, tương ứng giảm bình quân
3,9%/năm và 16,2%/năm.
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo các chuyên ngành và tỷ trọng lao động của
ngành da giầy trong ngành công nghiệp và ngành công nghiệp chế biến
2005
2010
2011
2000
Tỷ trọng lao động
Ngành Da - Giầy SX giày dép các loại (%)
91,7
90,9
90,7
90,1
SX da thuộc (%)
0,2
0,5
0,8
1,0
8,1
8,6
8,5
8,9
9,0
SX cặp - túi - ví các loại (%) Ngành Da - Giầy / ngành CN (%)
7,6
9,6
9,4
9,9
Ngành da - giầy/ ngành CNCB (%)
8,4
10,5
10,3
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 57
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê)
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Theo số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm 2010, cơ cấu
theo giới tính và trình độ của lao động ngành da giầy như sau:
Bảng 2.6: Cơ cấu trình độ lao động của toàn ngành và
theo các chuyên ngành năm 2010
Sản xuất giày dép
Sản xuất da thuộc
SX cặp, túi, ví
Toàn ngành
Cơ cấu trình độ lao động
Tổng số lao động (%)
100,00
100,00
100,00
100,00
Trong đó: nữ (%)
83,66
46,35
79,60
83,01
Tiến sỹ (%)
0,001
-
0,002
0,001
Thạc sỹ (%)
0,04
0,02
0,01
Đại học (%)
1,15
5,80
1,99
1,26
Cao đẳng (%)
0,88
2,43
1,15
0,91
Trung cấp chuyên nghiệp (%)
1,87
4,64
2,27
1,93
Dạy nghề dài hạn (%)
16,62
14,73
17,15
16,65
Dạy nghề ngắn hạn (%)
24,46
3,71
28,51
24,63
Đào tạo kèm cặp trực tiếp trên dây chuyền SX (%)
55,03
68,63
54,62
48,91
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê) Tỷ lệ lao động của ngành có trình độ trên đại học chiếm 0,01%; đại học và cao đẳng chiếm 2,17%; trung cấp chiếm 1,93%; công nhân qua đào tạo dài hạn chiếm 16,65%; công nhân qua đào tạo ngắn hạn chiếm 24,63% và công nhân chưa qua đào tạo chiếm 54,62%.
Cán bộ quản lý của các doanh nghiệp thuộc da khu vực nhà nước tuy có trình
độ chuyên môn học vấn cao nhưng trong điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh, xét
về mặt mang lại hiệu quả kinh tế, thì không bằng cán bộ quản lý của các doanh nghiệp
khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Trong tổ chức và điều hành sản xuất ở các doanh
nghiệp sản xuất giầy vẫn cần đến sự hỗ trợ của các chuyên gia nước ngoài.
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật tại các doanh nghiệp sản xuất giầy dép hầu hết không
được đào tạo chính quy; chủ yếu là tự học, tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm do
chuyên gia nước ngoài hướng dẫn trong quá trình chuyển giao công nghệ và hợp tác
sản xuất. Năng lực và trình độ ngoại ngữ còn hạn chế của số đông cán bộ kỹ thuật đã
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 58
làm giảm hiệu quả tiếp thu công nghệ, kỹ thuật được chuyển giao. Các biện pháp, sáng
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
kiến đưa ra trong quá trình sản xuất nặng về giải pháp tình thế mà thiếu cơ sở khoa học
để có thể giải quyết triệt để. Đội ngũ cán bộ thiết kế mẫu thiếu trầm trọng từ lâu nhưng
đến nay tình hình vẫn chưa được cải thiện.
Cán bộ kỹ thuật làm việc tại các doanh nghiệp thuộc da được đào tạo chính quy
nhưng số lượng ngày càng giảm đi do đến tuổi về hưu hoặc bỏ nghề và không có
nguồn bổ sung trong nhiều năm nay. Nhìn chung trình độ của cán bộ kỹ thuật thuộc da
đã được nâng lên qua học tập, thực tập tại nước ngoài và qua quá trình chuyển giao
công nghệ của các hãng hoá chất.
Một số ít công nhân kỹ thuật được đào tạo tại nước ngoài (Đức, Tiệp Khắc cũ)
hoặc tại các trường cao đẳng công nghiệp là nòng cốt trong việc tiếp thu kỹ thuật mới
và chuyển giao công nghệ. Còn lại là lao động phổ thông không có tay nghề, trình độ
văn hoá tốt nghiệp lớp 12 hoặc thấp hơn.
Các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất giầy dép,
thường xuyên phải đối mặt với tình trạng công nhân “nhảy việc”, nhất là sau thời gian
nghỉ Tết. Thời gian gần đây, sự biến động lao động của ngành càng trầm trọng hơn.
Nhiều doanh nghiệp không có đủ đơn hàng nên phải giảm sản xuất và cho công nhân
tạm nghỉ việc. Nhưng khi có đơn hàng thì lại không có đủ công nhân để thực hiện do
số công nhân tạm nghỉ việc đã bỏ sang nghề khác hoặc đang làm ở doanh nghiệp khác.
Năng suất lao động ở các doanh nghiệp không thể nâng lên được do thường xuyên
phải đào tạo lao động mới vào nghề.
2.1.9. Công tác đào tạo
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật của Ngành còn chắp vá, chưa có hệ thống,
chưa có một chương trình đào tạo cơ bản, thống nhất.
Đào tạo nghề cho doanh nghiệp thường ở 2 dạng:
- Các doanh nghiệp tự đào tạo nhân lực;
- Các cơ sở dạy nghề cung ứng lao động đã qua đào tạo cho doanh nghiệp.
Đối với đào tạo nghề tại doanh nghiệp hay còn gọi là đào tạo tại chỗ, người lao
động được kèm cặp học nghề và thực tập ngay trên dây chuyền sản xuất của doanh
nghiệp. Người truyền nghề là công nhân có tay nghề cao trong doanh nghiệp hoặc là
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 59
giáo viên ở các cơ sở dạy nghề doanh nghiệp mời đến giảng dạy. Việc đào tạo nghề tại
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
các doanh nghiệp có lợi về nhiều mặt. Trước hết là đáp ứng ngay nhu cầu lao động của
doanh nghiệp ở từng công đoạn trên dây chuyền sản xuất. Doanh nghiệp không phải
gửi lao động của mình đến cơ sở đào tạo, không bị gián đoạn công việc nên tiết kiệm
được chi phí. Hơn nữa, trình độ của người lao động được đào tạo phù hợp với yêu cầu
về ngành nghề và trình độ công nghệ của doanh nghiệp.
Ngoài ra, công nhân còn được học các lớp bồi dưỡng, đào tạo theo chương trình
nâng bậc công nhân kỹ thuật hàng năm do doanh nghiệp tổ chức.
2.1.10. Nghiên cứu khoa học công nghệ
Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ của Ngành còn nhiều bất cập, chưa
đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển ngành.
Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ chưa được quan tâm và đầu tư thoả
đáng, chưa có quỹ hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học công nghệ . Các kết quả nghiên cứu
và phát triển (R&D) theo chuẩn mực quốc tế còn hạn chế. Trang thiết bị của Viện
nghiên cứu, của phòng kỹ thuật và triển khai sản xuất tại các doanh nghiệp còn rất
thiếu, không đồng bộ và lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến trong khu vực.
Phần lớn các doanh nghiệp chưa có bộ phận nghiên cứu và triển khai công nghệ. Hoạt
động nghiên cứu và triển khai công nghệ do đối tác nước ngoài thực hiện.
Thiếu sự liên kết giữa sản xuất và nghiên cứu khoa học công nghệ; thiếu sự hợp
tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu phát triển trong ngành với các trường đại học
và các doanh nghiệp.
Hệ thống dịch vụ khoa học công nghệ bao gồm thông tin khoa học công nghệ,
tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn
yếu cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ.
Thiếu cán bộ khoa học công nghệ giỏi, thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao,
chưa có trường đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ. Sự phân bố cán bộ kỹ
thuật của ngành không hợp lý, 80% tập trung ở Viện song sự hỗ trợ về công nghệ của
Viện đối với các doanh nghiệp còn rất hạn chế.
Đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp
ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 60
kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Công tác nghiên cứu ở các doanh nghiệp là nghiên cứu đề tài phục vụ trực tiếp
cho sản xuất của doanh nghiệp. Toàn ngành có một Viện Nghiên cứu da giầy chuyên
thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, thực hiện các đề tài nghiên cứu các cấp phục
vụ cho sản xuất kinh doanh của ngành, trong đó có các đề tài nghiên cứu về công nghệ
thuộc các sản phẩm mới và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tổ chức các lớp bồi dưỡng
và đào tạo công nhân kỹ thuật cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều đề tài nghiên
cứu của Viện chưa được ứng dụng trong sản xuất, tính khả thi còn thấp.
2.1.11. Vệ sinh, an toàn lao động
Các quy định trong Luật Lao động, nội dung của các văn bản pháp luật về vệ
sinh, an toàn lao động và những yêu cầu từ phía khách hàng đã thúc đẩy sự quan tâm
hơn nữa của các doanh nghiệp đến sức khoẻ và môi trường làm việc của người lao
động. Các doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về vệ sinh, an toàn lao
động, nội quy phòng cháy chữa cháy cho từng khâu, từng công đoạn sản xuất. Người
lao động được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động như nút chống ồn,
găng tay, khẩu trang, mặt nạ phòng chống độc hại, giày ủng, quần áo bảo hộ lao động
để làm việc. Các doanh nghiệp xây dựng phòng y tế với các trang thiết bị, dụng cụ và
thuốc men cần thiết để kịp thời ứng cứu sơ bộ nạn nhân khi xảy ra sự cố, thực hiện
chương trình kiểm tra sức khỏe định kỳ cho cán bộ, công nhân viên.
2.1.12. Bảo vệ môi trường
Việc đầu tư đổi mới thiết bị không những cải thiện và nâng cao chất lượng sản
phẩm mà còn giảm hao phí trong sản xuất, giảm nguồn thải, góp phần cải thiện tình
trạng gây ô nhiễm môi trường.
Chất thải trong quá trình sản xuất giầy dép, cặp túi ví bao gồm chất thải sinh
hoạt và chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất như các loại ba via từ vật liệu
sản xuất mũ, lót và đế giầy bằng da, vải, giả da, cao su, PU, PVC, vỏ bao bì. Hiện nay,
chỉ một lượng nhỏ chất thải rắn được xử lý qua lò đốt, còn phần lớn được chôn lấp
cùng rác thải sinh hoạt ở các bãi rác. Chưa có doanh nghiệp nào đầu tư tự xử lý chất
thải. Đa số các doanh nghiệp thuê chở rác thải ra bãi rác vứt hoặc thuê Công ty Môi
trường đô thị chuyển đi xử lý. Lượng chất thải đem đi xử lý chỉ chiếm một phần rất
nhỏ vì chi phí để xử lý triệt để rác thải da giày không rẻ. Tuy không bốc mùi xú uế như
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 61
rác sinh hoạt, nhưng do chủ yếu là ba via xốp dẻo nên rác thải da giầy rất khó phân
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
huỷ khi chôn lấp, gây độc hại lâu dài cho môi trường. Mặc dù dễ cháy nhưng khi đốt
trong điều kiện thường, rác thải sẽ tạo ra chất dioxin, một tác nhân gây ung thư. Hiện
chưa có những khu xử lý riêng rác thải da giày.
Ngành thuộc da cũng thải ra một lượng lớn chất thải rắn. Khoảng 25% khối
lượng da (chưa thuộc và đã thuộc) bị loại ra dưới dạng chất thải rắn. Hầu hết chất thải
rắn trong thuộc da mới chỉ được thu gom mà chưa được phân loại riêng ra chất thải
nguy hại và chất thải thông thường. Môi trường không khí còn bị ô nhiễm bởi khí thải
và mùi da nguyên liệu rất khó chịu (do chất đạm bị phân huỷ). Nước thải ở các cơ sở
thuộc da thường có mùi thối, hàm lượng BOD, COD, chất rắn lơ lửng (SS) gấp nhiều
lần các chỉ tiêu cho phép. Ngoài ra, nước thải còn chứa kim loại nặng, đặc biệt có chứa
Crôm, có độ kiềm và hàm lượng muối cao. Nước thải này nếu không được xử lý, xả
thẳng vào tự nhiên có khả năng gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải thuộc da khá tốn kém, chiếm
khoảng 10 - 12% tổng vốn đầu tư của dự án xây dựng nhà máy. Chi phí vận hành hệ
thống xử lý nước thải (máy móc thiết bị, hoá chất, nhân công..) sẽ làm tăng chi phí sản
xuất, làm tăng giá thành sản phẩm. Trong một vài năm gần đây, do yêu cầu về môi
trường và phát triển bền vững và do chất thải được quản lý chặt chẽ hơn, các doanh
nghiệp thuộc da đầu tư mới như: Công ty CP da Green Tech, Công ty Samwoo, Công
ty Tong Hong, Công ty TNHH Huynh đệ thuộc da Hưng Thái, Cơ sở Kim Thành,
Công ty thuộc da Đặng Tư Ký đã đầu tư đồng bộ nhà xưởng, thiết bị và cả hệ thống xử
lý nước thải (XLNT), đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường.
Trong thực tế, do khó khăn về tài chính, do nhận thức về bảo vệ môi trường và
ý thức tuân thủ Luật Môi trường chưa cao nên vẫn còn tình trạng có các doanh nghiệp
thuộc da không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng không sử dụng thường
xuyên. Nước thải chưa xử lý được xả trực tiếp ra sông hồ và hệ thống thoát nước công
cộng. Đây cũng là tình trạng chung của các cơ sở thuộc da ở các làng nghề.
Việc xử lý của chính quyền đối với các trường hợp vi phạm chưa thật nghiêm,
chưa có những chế tài đủ mạnh buộc các doanh nghiệp, các cơ sở phải tuân thủ các
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 62
quy định về bảo vệ môi trường sinh thái.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2.2. Thực trạng về thị trường tiêu thụ nội địa của ngành da giầy Việt Nam
2.2.1. Tình hình tiêu thụ
Ngành da giầy là ngành công nghiệp tạo ra sản phẩm trực tiếp phục vụ nhu cầu
tiêu dùng thiết yếu của con người và là ngành có thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng.
Ngày nay, mục đích và công dụng của các sản phẩm da giầy không còn bó hẹp trong
việc bao bọc hoặc bảo vệ bàn chân, đựng, bao gói, vận chuyển, che chắn các vật
dụng... mà còn tích hợp nhiều tiện ích trong một sản phẩm với các giá trị gia tăng và
giá trị vô hình khác như làm đẹp, tạo dáng, thời trang và đặc biệt tiện dụng. Đến nay,
các sản phẩm da giầy đã trở nên phổ biến và ngày càng gần gũi, thân thiết với người
tiêu dùng. Chúng có mặt ở khắp nơi trên thế giới và là một trong những sản phẩm
không thể thiếu trong mọi hoạt động vô cùng sôi động của con người. Khi đời sống
được cải thiện thì nhu cầu sử dụng sẽ càng ngày tăng cao về số lượng, chất lượng và
chủng loại. Chính vì lẽ đó thị trường tiêu thụ sản phẩm da giầy không những là một thị
trường không ngừng phát triển đầy tiềm năng mà còn trở nên thiết yếu không thể thiếu
được trong đời sống hiện đại.
Nền kinh tế của Việt Nam bước vào thế kỷ 21 đã có những vị thế mới. Chính từ
đây đã tạo nên nhu cầu sử dụng và khả năng sử dụng những sản phẩm từ đơn giản đại
trà cho đến những sản phẩm thời trang cao cấp mà chỉ một thời gian ngắn trước đây ít
người Việt Nam có khả năng được tiếp cận.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm là yếu tố sống còn đối với hoạt động của doanh
nghiệp. Chiến lược marketing, chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu là một
trong những chiến lược quan trọng của các công ty trong Ngành. Ngoài việc đáp ứng
các yêu cầu đòi hỏi của ISO 14000, SA 8000… và vượt qua các rào cản kỹ thuật khác,
việc xây dựng thương hiệu cho Ngành còn dựa vào các tiêu chí như tính dân tộc, tính
quốc tế, tính hiện đại và tuân thủ các quy định về môi trường.
Đối với thị trường nội địa, các doanh nghiệp Việt Nam trước đây ngại khai thác
vì để hiểu được người tiêu dùng muốn gì là điều rất khó và chi phí bỏ ra để gây dựng
được một thương hiệu là quá lớn, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ sức thực hiện.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 63
Vì vậy, số thương hiệu Việt được người tiêu dùng biết đến chưa nhiều, hiện chỉ đếm
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
được trên đầu ngón tay như Ladoda, Vina Giày, T&T, Biti’s, Bita’s, Thượng Đình,
Asia, Hồng Thạnh.
Nhìn chung, gần như ở cả ba phân khúc thị trường cấp thấp, trung bình và cao
cấp, sản phẩm trong nước của Ngành đều bị lép vế so với hàng ngoại nhập khẩu. Mặc
dù hiện nay, phương thức bán hàng tại các doanh nghiệp đã có nhiều đổi mới, hình
thành nhiều mạng lưới bán buôn, bán lẻ và phát triển hình thức thương mại điện tử.
Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm Ngành không chỉ tăng lên về số
lượng, chủng loại mà còn tăng cả về chất lượng và tính thời trang. Người tiêu dùng
gồm đông đảo mọi giới trong mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong xã hội trong hơn 86
triệu dân Việt Nam đang trở thành một lực lượng khách hàng khổng lồ tiêu dùng sản
phẩm da giầy.
Đối với sản phẩm giầy dép, từ việc chỉ cung ứng được khoảng 20% - 30% tổng
số giầy dép cho thị trường nội địa trước đây các doanh nghiệp trong nước đã phân chia
lại “miếng bánh” thị phần qua việc khẳng định chất lượng hàng hóa. Theo Hiệp hội Da
giày Việt Nam, với đời sống ngày một nâng cao, mức tiêu thụ bình quân của người
dân Việt Nam hiện nay đã tăng từ 0,6 đôi giày/người/năm (năm 2000) lên hơn 1,5 đôi
giày/năm (năm 2011).
Với hơn 86 triệu dân, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giầy dép cho thị trường nội địa
hiện nay ở khoảng 140 triệu đôi/năm (chủ yếu sản phẩm giả da). Con số này chiếm
một tỷ lệ không nhỏ trong tổng sản xuất khoảng 780 triệu đôi/năm của toàn Ngành.
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, sản lượng giầy dép do các doanh nghiệp
trong nước sản xuất và cung ứng cho thị trường nội địa năm 2011 khoảng 70 triệu đôi,
chiếm 50% tổng nhu cầu tiêu thụ, tương ứng khoảng 750 triệu USD. Trong đó, khoảng
30 triệu đôi các loại được sản xuất phục vụ thị trường trong nước và khoảng gần 6%
sản lượng giầy dép dư thừa từ xuất khẩu được tiêu thụ tại thị trường nội địa. Còn đối
với sản phẩm cặp, túi xách, balô các loại trong năm 2011, tại thị trường nội địa tiêu thụ
khoảng 25 triệu chiếc các loại, trong đó có khoảng 15 triệu chiếc được sản xuất từ các
doanh nghiệp Việt Nam.
Như vậy, thị phần sản phẩm giầy dép sản xuất trong nước chiếm khoảng gần
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 64
50%, thị phần sản phẩm cặp, túi xách, balô các loại chiếm 60% tổng sản phẩm tiêu
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
thụ tại thị trường nội địa. Thị phần còn lại đang bị hàng nước ngoài chiếm lĩnh mà
nhiều nhất là hàng Trung Quốc bởi mỗi năm thị trường này sản xuất 11 tỷ đôi nên tỷ lệ
đa dạng hóa mẫu mã rất cao, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, thuận tiện cho
khách hàng chọn lựa. Các loại giày dép nhái, giả, kém chất lượng với lợi thế giá rẻ
cũng tràn ngập phân khúc thị trường người có thu nhập thấp.
Bảng 2.7:Tổng hợp sản lượng tiêu thụ sản phẩm giầy dép
phục vụ thị trường nội địa năm 2011
Tỷ lệ % Nguồn cung cấp sản phẩm Sản lượng (Đôi)
Doanh nghiệp xuất khẩu dư thừa 39.679.000 28,5
Các doanh nghiệp trong nước sản xuất 29.602.000 21,3
Hàng nước ngoài 69.719.000 50,2
Tổng 139.000.000 100
Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt Nam
2.2.2. Tình hình cung cấp sản phẩm da giầy cho thị trường nội địa
2.2.2.1. Hàng nhập khẩu
Đây là các loại sản phẩm được nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài và thường
thông qua các hình thức như qua các công ty đứng ra làm đại lý phân phối cho các
thương hiệu (Công ty Hoàng Phúc phân phối cho Convers, Công ty Phương Bắc phân
phối cho Bata, Công ty phân phối cho Clack…); các cửa hàng nhập khẩu từ nước
ngoài về bán (các sản phẩm này thường là hàng sale off); qua các loại hình hàng xách
tay, loại hình này thường ít về số lượng nhưng giá cả đắt.
Theo cam kết WTO, từ ngày 1/1/2009, mọi hạn chế đối với các công ty phân
phối, bán lẻ 100% vốn nước ngoài sẽ được dỡ bỏ. Theo đó các siêu thị 100% vốn nước
ngoài sẽ được vào Việt Nam. Hiện nay, tại các siêu thị có vốn của nước ngoài (Park
Son, Diamion Praza, Vincom…), bên cạnh các sản phẩm của các hãng có thương hiệu
nổi tiếng xuất xứ ở Châu Âu còn có nhiều sản phẩm chưa phải là của các hãng nổi
tiếng, có xuất xứ từ các nước châu Á thậm chí còn có xuất xứ từ các nước Đông Nam
Á như: Thái lan, Malaysia, Indonexia, Philipin. Tình hình tiêu thụ sản phẩm Ngành ở
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 65
đây rất tấp nập và những sản phẩm này đang ngày càng có uy tín trên thị trường nước
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
ta do đáp ứng được phân khúc thị trường dành cho khu vực thành thị có thu nhập ở
mức trung lưu khá.
Giới chuyên môn nhận định trong bối cảnh hệ thống phân phối Việt Nam còn
nhiều hạn chế, sự xuất hiện của các đối thủ đến từ nước ngoài sẽ giúp thị trường phong
phú hơn, chuyên nghiệp hơn và người tiêu dùng có thêm nhiều cơ hội lựa chọn. Nhưng
với các nhà bán lẻ nội địa, sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn.
2.2.2.2. Hàng gia công dư tồn
Đây là hàng được sản xuất tại Việt Nam và được gắn mác Made in VietNam.
Phương thức sản xuất là nhà nhập khẩu đặt đơn hàng, các doanh nghiệp đóng tại Việt
Nam sẽ thuê mướn lao động, sử dụng máy móc thiết bị để sản xuất trên cơ sơ mẫu đối
và sự chuẩn bị, chỉ định của nhà đầu tư. Qui trình sản xuất các sản phẩm này đều được
kiểm soát gắt gao bởi các chuyên gia nước ngoài hoặc hệ thống các tiêu chuẩn của
mẫu đối chứng và do các chuyên gia Việt Nam đảm nhận. Các sản phẩm thuộc kênh
này được đưa ra thị trường do hàng hỏng, lỗi (hàng phần trăm) và các nguồn khác.
2.2.2.3. Hàng do Việt Nam sản xuất, theo tiêu chuẩn hàng xuất khẩu
Các doanh nghiệp Việt Nam nhận các đơn đặt hàng từ phía đối tác nước ngoài
theo mẫu mã và chất lượng được qui định sau đó tiến hành sản xuất. Tại đây, theo qui
định, các công ty thường làm dư ra từ 3 - 5% để dự phòng bù hợp đồng. Sau khi hàng
được xuất đi từ 3 - 6 tháng, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được phép thanh lý hàng.
2.2.2.4. Hàng copy bán tại thị trường nội địa
Đây là nguồn cung cho thị trường với nhiều mức chất lượng khác nhau và dưới
các hình thức khác nhau. Có loại hàng do các nhà nhập khẩu lớn ở nước ngoài chuyên
làm hàng copy của các thương hiệu lớn. Họ thường đến Việt Nam, Trung Quốc đặt
hàng với số lượng lớn với mẫu mã mang thương hiệu nổi tiếng thế giới. Trong quá
trình sản xuất, các nhà nhập khẩu cũng phải đặt tỷ lệ hàng dư để dự phòng hợp đồng
với tỷ lệ từ 3 - 5% hoặc trong những trường hợp rủi ro trong kinh doanh, nhà nhập
khẩu có thể bỏ lại toàn bộ sản phẩm và số tiến đặt cọc. Doanh nghiệp da giầy trong
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 66
nước buộc phải đưa ra thị trường tiêu thụ để thu hồi vốn.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2.2.2.5. Hàng do doanh nghiệp Việt Nam tự sản xuất kinh doanh
Đối với loại hàng này có 2 cách hoạt động. (1) Một là: do các nhà máy sản xuất
gia công xuất khẩu được tự chủ về kinh doanh sẽ tận dụng nguyên liệu dư thừa khi làm
hàng gia công xuất khẩu để làm hàng bán tại thị trường nội địa. Loại hàng này nhìn
chung chất lượng tốt bởi được sử dụng các điều kiện sản xuất tốt. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp đều phải giữ nguyên tắc mẫu mã thường không giống hàng chính hãng.
(2) Hai là: do doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề trong nước tự thiết kế và mua
nguyên liệu bán thành phẩm. Nhìn chung, sản phẩm từ các nguồn cung này có chất
lượng sản phẩm hạn chế, mẫu mã không đẹp, hình thức kinh doanh buôn bán còn thô
sơ. Tuy nhiên, một số năm gần đây số lượng các doanh nghiệp hoạt động theo hình
thức này ngày càng tăng và đang ngày càng tăng thị phần trong thị trường nội địa.
2.2.2.6. Hàng do nhập lậu
Đây là nguồn cung đang chiếm thị phần tương đối lớn trong thị trường nội địa
của nước ta. Các sản phẩm da giầy nhập lậu thường được tiêu thụ ở các vùng thuộc
phía Bắc nước ta và đặc biệt là Hà Nội và Hải Phòng.
2.2.3. Khả năng phân phối
Hầu hết các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp thuộc Ngành ở
Hà Nội đều nhận định, hiện các sản phẩm của Trung Quốc các loại với mẫu mã phong
phú, giá rẻ đang có xu thế lấn át hàng nội (Hà Nội). Trên các phố chuyên kinh doanh
giầy dép như Hàng Dầu, Cầu Gỗ, Phan Bội Châu... ấn tượng đầu tiên của khách hàng
thường không phải là giầy dép Việt Nam mà là của Trung Quốc.
Hầu hết các doanh nghiệp lớn chưa có mạng lưới phân phối trừ một số doanh
nghiệp đã có uy tín trên thị trường nội địa như công ty Ladoda, Thượng Đình, Bitit’s.
Họ chỉ sản xuất tập trung trong các khu công nghiệp sau đó hàng hóa làm ra được đưa
đến cảng chờ xuất khẩu. Việc tiếp thị phân phối sản phẩm hoàn toàn do đối tác nước
ngoài đảm nhiệm. Còn với sản phẩm tiêu thụ trong nước thì không được đưa vào
những trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm lớn mà chủ yếu được giao cho những
cửa hàng nhỏ bày bán lẫn lộn với các sản phẩm nội ngoại. Nếu người tiêu dùng tình cờ
hỏi đến thì những sản phẩm này có thể tìm được người mua nhưng thương hiệu thì
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 67
không được khẳng định.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Hầu như chưa có các cửa hàng bày bán sản phẩm của các doanh nghiệp này, nếu
có thì cũng chỉ là một số cửa hàng nhỏ lẻ “bán giầy dép xuất khẩu” ở những thành phố
lớn.
2.3. Đánh giá chung về tình hình phát triển thị trường nội địa của sản
phẩm ngành da giầy trong thời gian qua
2.3.1. Thành tựu
Quá trình xây dựng và phát triển thị trường tiêu thụ nội địa ngành da giầy đã đạt
được những kết quả sau:
Trong thời gian qua ngành da giầy Việt Nam không ngừng phát triển trang thiết
bị theo hướng ngày càng đổi mới và hiện đại hoá.
Lực lượng lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề tốt, có kỷ luật, chi phí lao
động còn thấp so với nhiều nước. Có khả năng sản xuất được các loại sản phẩm phức
tạp, chất lượng cao, được phần lớn khác hàng khó tính chấp nhận.
Nhiều doanh nghiệp trong ngành da giầy được tổ chức tốt, đáp ứng được các
tiêu chuẩn xã hội, xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các nhà nhập khẩu,
bán lẻ nước ngoài.
Ngành da giầy Việt Nam đã tận dụng được trong việc hấp dẫn các thương nhân
và nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư và làm ăn khi được đánh giá là điểm đến ổn định
về chính trị, an toàn về xã hội.
Đối với thị trường nội địa đã tạo ra được chỗ đứng cho sản phẩm da giầy do đã
xây dựng được một số thương hiệu lớn có uy tín; Người tiêu dùng trong nước hiện nay
đã hình thành thói quen lựa chọn sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hợp lí, có xuất xứ
rõ ràng, đặc biệt là hàng Việt Nam chất lượng cao hoặc hàng Việt Nam xuất khẩu; Các
nhà công ty có thương hiệu lớn trước đây chỉ chuyên tâm đến phục vụ hàng gia công
xuất khẩu nay do những tác động của kinh tế thế giới, do tác động của những rào cản
thương mại và phi thương mại đã bắt đầu suy nghĩ và có những dự tính không nhỏ cho
bước đầu chinh phục thị trường tiêu thụ nội địa sản phẩm da giầy.
2.3.2. Hạn chế
Về chất lượng, lượng tăng trưởng vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra đối với ngành
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 68
da giầy Việt Nam. Với những cơ hội do hội nhập mang lại, ngành da giầy Việt Nam
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
hiện chủ yếu tham gia vào khâu gia công sản phẩm với giá trị gia tăng thấp. Do vậy
việc thâm nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu là hết sức cần thiết để ngành da
giầy phát huy hơn nữa vai trò trong phát triển nền kinh tế đất nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được do tận dụng được cơ hội cũng như vượt qua
được những thách thức do hội nhập mang lại ngành da giầy vẫn còn những hạn chế:
Ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu, dẫn đến phần lớn nguyên phụ liệu phải
nhập khẩu từ nước ngoài, giá trị gia tăng không cao, thiếu linh hoạt và hạn chế khả
năng đáp ứng nhanh. Sản phẩm xuất khẩu phần nhiều vẫn theo phương thức gia công,
thiết kế mẫu mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức đơn đặt hàng còn
thấp, hiệu quả sản xuất thấp.Theo nhận định của một số chuyên gia ngành da giày, do
chưa có một ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, nên tỉ lệ nội địa hóa trong một sản
phẩm giày xuất khẩu của VN hiện nay còn rất khiêm tốn – khoảng 40 - 50%. Điều này
dẫn tới yếu tố giá trị nội địa VN tham gia trong chuỗi giá trị gia tăng trong sản phẩm
giày xuất khẩu rất thấp. Mục tiêu nâng dần tỉ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm là một
trong những vấn đề được các doanh nghiệp da giày VN đặc biệt quan tâm.
Hầu hết các doanh nghiệp là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp,
hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị.
Kỹ năng quản lý sản xuất còn kém, năng lực quảng cáo tiếp thị hạn chế, phần
lớn các doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu, các sản phẩm xuất khẩu phải
sử dụng nhãn mác nước ngoài, chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn cho
doanh nghiệp.
Cải cách hành chính còn chậm, năng lực cạnh tranh quốc gia về hạ tầng cơ sở
còn thấp so với các đối thủ cạnh tranh, một số chi phí chung như vận chuyển, cảng
khẩu… còn khá cao so với các nước.
Thiếu công nhân cục bộ tại các thành phố lớn. Mối quan hệ lao động, tiền lương
đang có chiều hướng phức tạp. Nhiều cuộc đình công tự phát đã xảy ra tại các thành
phố và khu công nghiệp tập trung đã ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất kinh doanh của
nhiều doanh nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh. Thiếu lao động kỹ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 69
năng trung cao cấp về công nghệ, thương mại, quản trị.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Thị trường tiêu thụ nội địa của sản phẩm ngành da giầy vẫn trong tình trạng
cung không đáp ứng đủ, đúng và chuyên nghiệp của cầu “Cung chưa hiểu thấu đáo cầu
trên mọi phương diện”.
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển thị trường nội
địa của ngành da giầy
Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hướng tới việc phát triển thị
trường nội địa của Ngành nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:
2.4.1. Nguyên nhân khách quan
2.4.1.1. Môi trường kinh tế
Tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi ở trong nước đang gây ra nhiều khó
khăn cho các doanh nghiệp giày dép muốn quay về thị trường nội địa.
Thứ nhất, nguy cơ suy giảm kinh tế khiến cho nhu cầu tiêu thụ giày dép của
người dân giảm mạnh. Thu nhập giảm sút khiến người tiêu dùng phải cân nhắc sử
dụng ít giày dép hơn, sử dụng lâu hơn và khi mua thì chọn nhũng sản phẩm có giá
thành hợp lý. Hiện nay, giày dép xuất khẩu vẫn có mức giá bán tương đối cao so với
các loại giày dép trôi nổi trên thị trường nên giành giật thị phần là không hề đơn giản.
Thứ hai, ngay cả khi doanh nghiệp xuất khẩu muốn quay về thị trường trong
nước thì họ cũng gặp khó khăn về vốn để cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do nền
kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn nên điều kiện cho vay của các ngân hàng trở
nên ngặt nghèo hơn. Trong khi đó, các doanh nghiệp giày dép phần lớn lại là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng, nên việc bị
hạn ché cho vay dẫn đến sự thiếu hụt về vốn. Hiện nay, chính phủ đang có chủ trương
kích cầu, hạ lãi suất nhằm hỗ trợ các doang nghiệp, tuy nhiên gói kich cầu tỏ ra chưa
thực sự hiệu quả. Doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có các doanh nghiệp giày dép
vẫn gặp nhiều vướng mắc trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng.
Thứ ba, tỷ giá hối đoái VNĐ/USD liên tục có xu hướng tăng, đặc biệt là từ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 70
tháng 9/2009
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Bảng 2.8: Tỉ giá hối đoái theo thời gian
Trong khi doanh nghiệp giày dép vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu
nhập khẩu thì việc đồng USD liên tục lên giá như vậy khiến cho chi phí nguyên vật
liệu tăng cao. Nếu xuất khẩu, thì doanh nghiệp còn có thể lấy nguồn ngoại tệ thu được
để bù đắp cho sự thiệt hại do thay đổi tỷ giá gây ra. Còn nếu chuyển hướng về thị
trường trong nước trong điều kiện không được tăng giá vì sự mất khách hàng thì lợi
nhuận của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút rất nhiều.
2.4.1.2. Môi trường văn hóa - xã hội
Phần đông người tiêu dùng Việt Nam luôn có tâm lý chuộng hàng ngoại, thích
những sản phẩm giày dép có mẫu mã đẹp: kiểu dáng phù hợp với lứa tuổi, trang phục
đi kèm, màu sắc bắt mắt và giá rẻ, coi những yếu tố đó quan trọng hơn chất lượng sản
phẩm. Đặc biệt là người tiêu dùng trẻ, một lớp khách hàng có xu hướng tiêu dùng lớn,
thường thích những sản phẩm có kiểu dáng đẹp, mẫu mã lại phải thường xuyên thay
đổi, cải tiến. Trong khi đó giày dép xuất khẩu có chất lượng tốt nhưng giá cả lại cao
(cao hơn rưỡi đến hai, ba bốn lần) hơn hàng nhập ngoại còn mẫu mã sản phẩm thì kém
hơn (mẫu mã cũ, không độc đáo, màu sắc không đa dạng đặc biệt với người tiêu dung
trẻ thích màu sắc sặc sở: xanh, đỏ, tím, vàng…) nên không dễ dàng chinh phục được
người tiêu dùng.
2.4.1.3. Môi trường pháp luật chưa nghiêm
Môi trường pháp luật Việt Nam hiện nay chưa thực sự nghiêm khắc với nhập
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 71
khẩu hàng hoá đặc biệt là vẫn tồn tại buôn lậu các sản phẩm rất nhiều. Một điều đáng
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
nói là sản phẩm Trung quốc nhập khẩu vào Việt Nam phần lớn đều qua hình thức nhập
lậu không phải chịu thuế quan. Ngay cả sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng đến từ
Ý, Pháp, Hồng Kông, Bỉ,…cũng do nhập lậu hoặc là hàng hoá xách tay. Thậm chí
không chỉ những sản phẩm kinh doanh ven đường mà các cửa hàng lớn cũng buôn bán
nguồn hàng không hợp pháp này. Vì vậy, ngoại nhập tràn ngập thị trường Việt Nam với
giá rẻ đi rất nhiều do không phải chịu bất cứ loại thuế khoá nào. Điều đó làm cho việc
chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm trở nên
khó khăn gấp bội.
Ngoài ra, do sự quản lý của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo nên tình trạng
hang nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng rất phổ biến. Nhiều mặt hàng sản xuất ở
Trung Quốc với chất lượng thấp nhưng lại đương nhiên mang nhãn mác hàng hiệu nổi
tiếng của thế giới. Thậm chí nhiều sản phẩp còn nhái cả một số loại sản phẩm Việt
Nam có gia công xuất khẩu như: convers, adidas, nike,…Điều đó khiến cho người tiêu
dùng bị nhầm tưởng và có thể chọn những sản phẩm bề ngoài mang thương hiệu nổi
tiếng, nhưng thực chất là hàng hoá kém chất lượng.
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan
2.4.2.1. Chiến lược phát triển của các doanh nghiệp chưa chú trọng thị
trường nội địa
Từ nhiều năm qua, tỉ trọng tiêu thụ tại thị trường nội địa so với xuất khẩu của
các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy xuất khẩu là rất nhỏ.
Sở dĩ các doanh nghiệp này lựa chọn chiến lược phát triển như vậy là vì việc
chỉ tham gia vào khâu gia công xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp không phải bận tâm
trong việc tìm kiếm thị trường, không phải tốn chi phí quảng cáo, marketing… Tận
dụng được việc chuyển giao công nghệ, máy móc từ nước ngoài phù hợp với điều kiện
Việt Nam hiện nay các ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển.
Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ với mục tiêu chỉ sản xuất sản phẩm phục vụ thị trường nội địa thì không chú
trọng đầu tư, cập nhật dây chuyền công nghệ, mẫu mà không phong phú và chất lượng
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 72
cũng không đảm bảo, không xây dựng chiến lược cũng như kế hoạch dài hạn.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2.4.2.2. Chưa có các trung tâm thiết kế, viện nghiên cứu mẫu mã
Mẫu mã các sản phẩm da giầy Việt Nam không đa dạng, chưa tạo đựơc sự khác
biệt. Các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy của Việt Nam sản xuất, gia công cho các nhà
nhập khẩu nên việc thiêt kế mẫu mã theo yêu cầu của nhà nhập khẩu. Còn các sản
phẩm các doanh nghiệp tự sản xuất cung ứng cho thị trường nội địa thì mẫu mã không
cao. Đa số các doanh nghiệp chưa chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển sản
phẩm trong đó có việc thành lập các trung tâm thiết kế, viện nghiên cứu mẫu mã
nghiên cứu chuyên sâu về ngành nghề này để đa dạng sản phẩm, mà không có yếu tố
này thì sản phẩm của Ngành hạn chế cạnh tranh khi chiếm lĩnh thị trường nội địa.
Ngay trong các doanh nghiệp cũng chưa có phòng ban nghiên cứu, khảo sát thị
hiếu người tiêu dùng.
Ở nước ngoài họ có nhiều trung tâm chuyên nghiên cứu thiết kế mẫu vì vậy mẫu
mã của họ đa dạng phù hợp thị hiếu. Muốn đáp ứng nhu cầu khách hàng phải tìm hiểu
họ cần gì, phải tìm hiểu tâm lý và thị hiếu người tiêu dùng.
2.4.2.3. Tỷ lệ nội địa hóa thấp
Các doanh nghiệp sản xuất thuộc Ngành gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm
kiếm nguyên phụ liệu. Trên thực tế, việc sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành da giầy
trong nước chỉ đáp ứng ít nhu cầu của doanh nghiệp, tỷ lệ nội địa hóa chỉ chiếm
khoảng 50%, 50% còn lại là phải nhập khẩu. Nhóm nguyên phụ liệu của ngành da,
giày gồm các loại như: da và giả da, vải, đế giày, phụ liệu trang trí và nguyên liệu phụ
trợ. Trong số đó, lĩnh vực sản xuất đế giày phát triển khá mạnh và hiện trong nước đã
đáp ứng tới 70% nhu cầu. Còn phụ liệu trang trí, khả năng trong nước tới nay mới đáp
ứng 40 - 45%. Đơn cử là phụ liệu dành cho giày nữ, Việt Nam gần như phải nhập khẩu
hoàn toàn. Các loại keo dán, hóa chất cũng chỉ pha chế được một ít từ nguyên liệu
nhập khẩu, đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Nguyên phụ liệu có khi chiếm đến
75% giá thành của sản phẩm. Vì vậy, việc phụ thuộc quá nhiều vào nguyên phụ liệu
nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Mặc khác, sự phụ thuộc này sẽ đưa đến sự phát triển thiếu tính vững chắc nếu thị
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 73
trường cung cấp bị biến động. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da - Giầy
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025: Tỷ lệ nội địa hóa sẽ đạt 60% - 65% vào năm
2015 và 75% - 80% vào năm 2020.
2.4.2.4. Trình độ nhân lực chưa cao
Qua thực trạng lao động trong ngành da giầy nói chung và các doanh nghiệp
xuất khẩu nói riêng cho thấy phần lớn đội ngũ cán bộ khoa học – kĩ thuật chuyên
ngành có được là nhờ đào tạo ở nước ngoài hoặc các chuyên gia nước ngoài. Hiện nay,
nước ta có tổng số khoảng 812 doanh nghiệp ngành da giầy thu hút 750.000 lao động,
chưa tính các cơ sở nhỏ, hộ gia đình. Phần lớn lao động trong ngành da giày là phụ nữ
(trên 80%). Trong tổng số lao động tại các doanh nghiệp hiện nay, số có trình độ hết
lớp 12 chỉ chiếm 70%. Số công nhân được đào tạo qua trường lớp chỉ chiếm 20%.
Công nhân chủ yếu được đào tạo theo phương thức dạy bảo, truyền đạt lại từ những
công nhân cũ. Và chủ yếu cũng chỉ được đào tạo qua các trường công nhân kỹ thuật.
Trình độ văn hoá thấp sẽ dẫn đến khả năng tiếp thu khoa học công nghệ kém. Mà xu
thế của các doanh nghiệp da giày là áp dụng máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại vào
sản xuất. Vì thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao nên các doanh nghiệp hiện nay còn
nghèo nàn về mẫu mã, chủng loại.
Ngoài ra, các doanh nghiệp chưa có đội ngũ cán bộ thị trường, cán bộ
marketing có chuyên môn, năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu thị trường để nghiên
cứu, dự báo thị trường đưa ra những chiến lược hợp lí, xây dựng kênh phân phối hiệu
quả.
Với những hạn chế trên việc chiếm lĩnh thị trường trong nước của các doanh
nghiệp xuất khẩu giày dép là khá gian nan cần đầu tư và có thời gian. Nhưng với chất
lượng sản phẩm tốt, lợi thế giá nhân công, khả năng tìm hiểu phong tục - thị hiếu
người tiêu dùng dễ hơn các đối thủ cạnh tranh. Khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa
đối với các doanh nghiệp trong Ngành là hoàn toàn có thể nếu doanh nghiệp có các
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 74
giải pháp phát triển thị trường đúng đắn và được sự ủng hộ của Chính phủ.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG, DỤ BÁO VÀ HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA SẢN PHẨM NGÀNH DA GIẦY ĐẾN NĂM 2015
3.1. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam
3.1.1. Quan điểm và Định hướng phát triển
Phát triển ngành da giày Việt Nam phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển công nghiệp cả nước, quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội các địa phương và lộ trình hội nhập quốc tế của Việt Nam; Huy động
các thành phần kinh tế, các nguồn lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài để xây
dựng và phát triển ngành da giày Việt Nam theo hướng chủ động phục vụ xuất khẩu và
tiêu dùng nội địa, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tăng việc làm, tăng thu nhập đi đôi
với cải thiện đời sống người lao động; Phát triển mạnh sản xuất nguyên phụ liệu và
công nghiệp hỗ trợ ngành da giày nhằm giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng, tham
gia sâu vào chuỗi giá trị gia tăng của thị trường sản phẩm da giày thế giới; Phát triển
ngành da giày Việt Nam nhanh, ổn định và bền vững theo hướng chuyên môn hóa,
hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ mới hiện đại với thiết bị tiên tiến, thân thiện với môi
trường nhằm tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao, chủ động hội nhập kinh
tế với khu vực và thế giới, từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công
sang tự sản xuất, kinh doanh; Gắn việc phát triển nhanh qui mô sản xuất với việc tập
trung mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa, nghiên cứu ứng dụng khoa
học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực được đào tạo trong đó quan tâm đặc biệt
đối với lao động nghèo, lao động nông nghiệp đang thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ nông nghiệp sang công nghiệp; Gắn việc phát triển sản xuất trên cơ sở thực hiện
tốt trách nhiệm xã hội, thân thiện và bảo vệ môi trường; Chuyển dịch các cơ sở gia
công mũ giầy về các vùng nông thôn, vùng có nhiều lao động; Nâng cao năng lực tự
thiết kế mẫu mã và phát triển sản phẩm mới, ưu tiên ứng dụng công nghệ tự động hóa
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 75
trong thực hiện công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
3.1.2. Mục tiêu phát triển
3.1.2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng ngành da giày Việt Nam đến năm 2020
thành một ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế quốc
dân. Tiếp tục giữ vị trí trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm da
giày hàng đầu thế giới. Tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội trên cơ sở thu nhập của
người lao động ngày càng được nâng cao, thực hiện trách nhiệm xã hội ngày càng tốt,
số lượng lao động được qua đào tạo ngày càng tăng.
3.1.2.1. Mục tiêu cụ thể:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành da giày giai đoạn 2011 –
2015 đạt 9,4%/năm; giai đoạn 2016 – 2020 đạt 8,8%/năm; giai đoạn 2020 – 2025 đạt
8,2%/năm;
Phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu năm 2015 là 9,1 tỷ USD; năm 2020 là 14,5
tỷ USD và năm 2025 đạt 21 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình
quân trong giai đoạn 2011 – 2015 là 10,9%/năm; giai đoạn 2016 – 2020 là 9,7%/năm
và giai đoạn 2021 – 2025 là 7,6%/năm;
Nâng dần tỷ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm. Phấn đấu năm 2015 tỷ lệ nội địa
hóa đạt 60-65%, năm 2020 đạt 75-80% và năm 2025 đạt 80-85%;
Cùng với ngành Dệt May và một số ngành liên quan làm trụ cột phát triển công
nghiệp Thời trang Việt Nam tại một số đô thị, thành phố lớn;
Xây dựng một số khu – cụm công nghiệp sản xuất da giày, sản xuất nguyên phụ
liệu và xử lý môi trường tập trung trên cơ sở lợi thế về hạ tầng và lao động để chủ
động cung cấp nguyên phụ liệu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành;
Xây dựng mới và phát triển các cơ sở đào tạo, các cơ sở nghiên cứu khoa học
công nghệ, các trung tâm kiểm định, dịch vụ ngành và các trung tâm Xúc tiến thương
mại, trung tâm Thời trang ở trong nước và nước ngoài.
3.1.3. Định hướng Quy hoạch phát triển
3.1.3.1. Quy hoạch sản phẩm chiến lược: Giầy dép là sản phẩm chủ lực của
ngành trong đó giầy thể thao và giầy vải được ưu tiên hàng đầu trong sản xuất và xuất
khẩu; Sản xuất giầy dép da thời trang và cặp túi ví chất lượng cao phục vụ thị trường
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 76
mới, thị trường cao cấp và thị trường nội địa; Tập trung sản xuất da thuộc với công
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường phục vụ chiến lược sản xuất giầy dép da thời
trang, cặp túi ví có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và thị trường nội địa. Đầu tư
sản xuất da thuộc được gắn liền với việc phát triển đàn gia súc góp phần giảm nhập
siêu và chủ động trong sản xuất. Sản lượng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng nhanh theo
năm.
3.1.3.2. Quy hoạch theo vùng lãnh thổ
Quy hoạch các trung tâm phát triển và bố trí năng lực sản xuất theo vùng lãnh
thổ được dựa trên lợi thế về nhân lực, về nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, giao thông,
cảng biển theo hướng: duy trì và phát triển các trung tâm da giày hiện có tại các đô thị
và thành phố lớn thành các trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụ công nghệ
có giá trị gia tăng cao; di dời các các cơ sở sản xuất đặc biệt là các cơ sở may gia công
mũ giầy về các vùng lân cận, các vùng nông thôn có nhiều lao động. Bố trí sản xuất và
đầu tư của ngành da giày trên toàn quốc được xác định thành 4 vùng chủ yếu như sau:
Vùng 1: Vùng đồng bằng sông Hồng: Qui hoạch theo định hướng lấy thành phố
Hà Nội làm trung tâm dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các cơ
sở sản xuất các sản phẩm giầy dép, cặp túi ví có giá trị cao, qui mô hợp lý và các trung
tâm xúc tiến thương mại chuyên ngành. Các doanh nghiệp sản xuất gia công sẽ được
phát triển hoặc di dời về các tỉnh như: Hải Dương, Bắc Ninh, các khu vực lân cận
thành phố Hải Phòng, Phố Nối (Hưng Yên), Đồng Văn (Hà Nam), Nam Định, Hà Nội
mở rộng, Phú Thọ và Vĩnh Phú. Tại khu vực này sẽ hình thành khu – cụm sản xuất và
kinh doanh mua bán nguyên phụ liệu và công nghiệp phụ trợ, cụm công nghiệp nhỏ và
làng nghề truyền thống. Phát triển trung tâm đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học
và ứng dụng, chuyển giao công nghệ.
Vùng 2: Vùng Đông Nam Bộ: Qui hoạch theo định hướng lấy thành phố Hồ
Chí Minh làm trung tâm dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các
cơ sở sản xuất các sản phẩm có giá trị cao, qui mô hợp lý và các trung tâm xúc tiến
thương mại chuyên ngành, xây dựng các cụm công nghiệp nhỏ và làng nghề truyền
thống tại các quận ven thành phố. Di dời các cơ sở thuộc da tại trung tâm và lân cận
thành phố đến các khu thuộc da tập trung cách xa thành phố và khu vực đông dân cư.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 77
Các cơ sở sản xuất giầy dép và cặp túi ví sẽ được phát triển hoặc di dời về các tỉnh
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
như: Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh. Tại khu vực này sẽ hình thành khu – cụm sản
xuất và kinh doanh mua bán nguyên phụ liệu và công nghiệp phụ trợ. Phát triển trung
tâm đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng, chuyển giao công nghệ.
Vùng 3: Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: Qui hoạch theo định
hướng lấy thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành cụm công nghiệp gia công
và sản xuất giầy dép, cặp túi ví lớn của ngành da giày . Các cơ sở may mũ giầy, sản
xuất giầy dép, cặp túi ví và sản phẩm da giày được chế biến từ da cá sấu và da đà điểu
sẽ được phát triển tại các tỉnh như: Bình Định, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa.
Vùng 4: Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Qui hoạch lấy thành phố Cần Thơ
làm trung tâm. Khuyến khích các doanh nghiệp phát triển mở rộng gia công sản xuất
giầy dép và thiết lập với các doanh nghiệp da giày trong khu vực do có lợi thế về
nguồn lao động và các hỗ trợ ưu đãi dành cho khu vực tiếp nhận chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Chú trọng phát triển sản phẩm da thuộc, giầy dép, cặp túi ví được chế biến từ
da cá sấu và da trăn. Đây là thế mạnh của vùng trong những năm gần đây do phát triển
được vùng chăn nuôi động vật có da nốt sần lớn nhất tại Việt Nam.
3.1.4. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành Da – Giầy
Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành giai đoạn 2011-2015 là 28.340 tỷ đồng.
Trong đó: Huy động trong nước: 12.340 tỉ đồng, chiếm 44%; Kêu gọi đầu tư nước
ngoài: 835 triệu USD, chiếm 56%; Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành giai đoạn
2016-2020 là 31.230 tỷ đồng.
3.1.5. Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam
Phương hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da giầy Việt Nam được
xác định là là một trong 6 nhóm giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp sản xuất
da giầy Việt Nam trong những năm tiếp theo. Bên cạnh các giải pháp về đầu tư; Giải
pháp phát triển sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ; Giải pháp đào tạo phát
triển nguồn nhân lực; Giải pháp phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường;
Giải pháp quản lý ngành. Giải pháp phát triển thị trường nói chung và thị trường nội
địa nói riêng là giải pháp có tính đột phá. Giải pháp cũng xác định để tiếp tục giữ vững
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 78
và mở rộng thị phần xuất khẩu, từng bước chiếm lĩnh lại thị trường trong nước, ngành
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
da giày cần phát triển dựa trên nền tảng năng lực sản xuất mạnh và chủ động, với đội
ngũ doanh nhân đủ năng lực kinh doanh sản phẩm thời trang quốc tế. Cụ thể:
- Giữ vững sản phẩm chủ lực (giầy thể thao và giầy vải) và thị trường truyền
thống (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) đi đôi với chủ động và linh hoạt trong việc đổi mới cơ
cấu sản phẩm xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và cao của thị
trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu;
- Nghiên cứu để có cảnh báo sớm về việc khả năng bị áp đặt các biện pháp
trừng phạt chống trợ cấp và chống bán phá giá nhằm tránh các vụ kiện khi tham gia thị
trường thế giới. Đồng thời tiếp cận với việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương
mại về bán phá giá, về sở hữu trí tuệ để bảo vệ sản xuất và người tiêu dùng trong
nước;
- Tăng cường công tác xúc tiến thương mại thông qua Chương trình xúc tiến
thương mại quốc gia để giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống (Hoa Kỳ, EU,
Nhật) và phát triển thị trường mới (Trung Đông, Châu Phi, SNG, Châu Á). Thường
xuyên tổ chức hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước để các doanh nghiệp có cơ hội
quảng bá, giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng trong cả nước và nhà đầu tư nước
ngoài đang tìm kiếm cơ hội sản xuất kinh doanh sản phẩm da giày tại Việt Nam;
- Sản xuất các sản phẩm da giày với mẫu mã, chất lượng, giá cả phù hợp với thị
hiếu, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam. Phát triển, mở rộng hệ thống phân phối
sản phẩm của doanh nghiệp trong nước về các vùng nông thôn, miền núi. Hưởng ứng
và tham gia tích cực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”;
- Phối hợp với ngành Dệt May xây dựng một số trung tâm thời trang và kinh
doanh chuyên ngành tại các đô thị, trung tâm kinh tế lớn;
- Chủ động tiếp cận với các kỹ năng kinh doanh hiện đại trong đó chú trọng ưu
tiên xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu sản
phẩm, xây dựng thương hiệu nhóm hàng, thương hiệu ngành hàng nhằm tạo hình ảnh
cho sản phẩm da giày Việt Nam trên thị trường quốc tế và trong nước.
3.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm ngành da giầy
Hiện nay mức sống của người dân Việt Nam tuy đã được nâng cao, song tỷ lệ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 79
người dân có thu nhập cao, phụ thuộc vào kinh tế thế giới còn thấp; sản phẩm ngành
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
da giầy do các doanh nghiệp trong nước cung cấp chủ yếu phục vụ thị trường trung
bình và nông thôn do đó tác động của kinh tế thế giới đối với thị trường tiêu thụ sản
phẩm da giầy nội địa là không lớn.
Sự biến động của kinh tế thế giới trong những năm qua đã tác động làm giá trị
kim ngạch xuất khẩu đối với ngành da giầy không ổn định. Đối với thị trường tiêu thụ
nội địa của sản phẩm da giầy, các tác động lại mang một số yếu tố tích cực. Do có sẵn
những năng lực về nhà xưởng, máy móc thiết bị, công nhân, công nghệ…nên việc sụt
giảm thị trường xuất khẩu đã buộc các doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm xuất
khẩu quay lại với thị trường nội địa một cách nhanh chóng hơn rất nhiều.
Do sự biến động của kinh tế thế giới nên tình hình xuất khẩu vào các nước tiêu
thụ sản phẩm da giầy lớn trên thế giới của các quốc gia láng giềng với nước ta cũng
gặp khó khăn. Tác động này đã tạo cơ hội cho việc ‘sả hàng’ sang Việt Nam theo các
đường chính ngạch và không chính ngạch. Tình hình này đã tác động tiêu cực đến sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy nội địa. Các doanh
nghiệp đã yếu nay lại gặp những cơn lốc cạnh tranh không lành mạnh (hàng nhái, hàng
giả, hàng nhập lậu, hàng kém phẩm chất…) làm cho doanh nghiệp đã yếu lại càng yếu
hơn. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy phục vụ thị trường tiêu thụ nội địa
đang “điêu đứng trên sân nhà”.
3.2.1. Dự báo nhu cầu tiêu dùng sản phẩm giầy dép
Trong giai đoạn đến năm 2015, tầm nhìn 2020 cùng với sự tăng trưởng kinh tế
đất nước, mức sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu thiết yếu về giầy dép
cũng được nâng lên. Với số dân số ước sẽ tăng lên trên 95 triệu nguời vào năm 2020,
thị trường nội địa có tiềm năng lớn đối với Ngành, số lượng giầy dép hàng năm do các
doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất cung ứng sẽ gia tăng nhanh.
Giầy dép tiêu thụ tại thị trường nội địa chủ yếu là giầy dép do lực lượng thủ
công, các doanh nghiệp tư nhân sản xuất và một phần các sản phẩm không xuất được
của các doanh nghiệp sản xuất giầy dép xuất khẩu.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 80
Dự báo sản lượng giầy dép tiêu thụ trên thị trường nội địa được cụ thể như sau:
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Bảng 3.1: Dự kiến tiêu thụ giầy dép trong nước giai đoạn 2015 – 2025
Đơn vị
Năm 2010 Năm 2015 Năm 2020 Năm 2025
Triệu người 86,7 91,1 95,3 99,2 Dân số
Triệu đôi 130,1 164,0 209,7 248,0 Tiêu thụ giầy dép nội địa
Nguồn: Dự báo dựa trên các số liệu của Tổng cục Hải quan và Hiệp hội Da Giầy VN
1,5 1,8 2,2 2,5 Đôi/người/ năm Tiêu thụ bình quân đầu người
3.2.2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng da thuộc thành phẩm
Trong thời gian tới nhu cầu da thuộc ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng
các sản phẩm giầy dép, cặp - túi - ví các loại, đặc biệt các loại giầy, cặp - túi - ví từ da.
Ngoài các loại da thuộc được sử dụng để sản xuất các loại giầy dép, cặp - túi - ví, các
loại da làm bọc đệm salon, các loại da mềm cao cấp để may quần áo da, găng tay mùa
đông cũng sẽ được quan tâm sử dụng.
3.2.3. Dự báo nhu cầu tiêu dùng cặp - túi - ví các loại
Các sản phẩm cặp - túi - ví rất đa dạng, bao gồm từ những sản phẩm có giá trị
rất lớn đến những sản phẩm có giá trị rất rẻ tiền. Có nhiều cách để phân loại giá trị của
các sản phẩm cặp - túi - ví trong đó có thể phân loại giá trị của các sản phẩm này theo
nguyên liệu chế biến sản phẩm.
Theo cách phân loại như trên, sản phẩm cặp - túi - ví được phân loại giá trị từ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 81
cao đến thấp như sau:
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Bảng 3.2: Phân loại cặp túi ví theo chất lượng sản phẩm
Vali Túi cặp Yên đệm Ví thắt lưng
Da thuộc đặc chủng Sản phẩm có giá trị đặc biệt cao
Da thuộc từ trâu, bò... Sản phẩm có giá trị cao
Sản phẩm có giá trị tương đối cao Giả da
Sản phẩm có giá trị thấp Vải
Sản phẩm có giá trị thấp Nhựa
Sản phẩm có giá trị tương đối cao
Theo số liệu dân số và các giả thiết về nhu cầu tiêu dùng trong nước dự kiến
nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm cặp - túi - ví trong nước như sau:
Đến năm 2015: 50,0 triệu chiếc
Đến năm 2020: 85,0 triệu chiếc
3.2.4. Dự báo nhu cầu nguyên phụ liệu
Bảng 3.3: Dự kiến nhu cầu nguyên phụ liệu ngành da giầy theo chủng loại
TT
Chủng loại
Đơn vị tính
2015
2020
Đến năm 2025
Da tổng hợp nhân tạo các loại
144,0
207,0
270,0
Triệu yard (=0,914m)
Vải làm giầy dép các loại
Triệu yard
248,0
356,5
465,0
1
Đế, gót giầy dép các loại
1.000 tấn
880,0
1.265,0
1.650,0
2
Phom giầy dép các loại
1.000 đôi
2.304,0
3.312,0
4.320,0
3
1.000 tấn
51,1
73,4
95,8
4
Dụng cụ cơ khí, phụ tùng và thiết bị máy móc
1.000 tấn
158,3
227,6
296,9
5
Phụ liệu kim loại làm giầy dép, đồ da các loại
1.000 tấn
16,0
23,0
30,0
6
Keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt, chống ẩm các loại
Phụ liệu dệt, vải các loại
1.000 tấn
17,0
24,5
31,9
7
Vật liệu từ giấy, bao bì, in các loại
1.000 tấn
255,4
367,1
478,8
8
9
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 82
Nguồn: Tính theo sản lượng quy hoạch và các định mức nguyên phụ liệu
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
3.3. Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị trường nội địa của ngành da
giầy Việt Nam đến năm 2015
3.3.1. Căn cứ đề xuất hệ thống giải pháp
Luận văn sử dụng kết hợp một số phương pháp để nghiên cứu đưa ra các đề
xuất hệ thống giải pháp nhằm định hướng phát triển thị trường nội địa của ngành da
giầy giai đến năm 2015: phương pháp sử dụng ma trận SWOT ; phương pháp nghiên
cứu quan hệ Cung - Cầu.
3.3.2. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành da giầy trong
việc phát triển thị trường nội địa
Bảng 3.4: Phân tích theo ma trận SWOT đề xuất giải pháp
Định hướng phát triển thị trường nội địa sản phẩm da giầy
Điểm mạnh Điểm yếu
Do phương thức sản xuất không Do xuất phát điểm là một nước gia công sản
toàn diện, chủ yếu là phương phẩm da giầy lớn của các thị trường khó tính và
thức gia công, các doanh nghiệp có thương hiệu nên trình độ tay nghề về sản xuất
chủ động sản xuất chủ yếu là là điểm rất mạnh của Việt Nam;
doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở Sẵn sàng cơ sở vật chất về đất đai, đã có hiểu
sản xuất nhỏ lẻ, làng nghề nên biết và kinh nghiệm thực tế trong công nghệ sản
việc ứng dụng các công nghệ cao xuất sản phẩm da giầy;
hạn chế; Nguồn lao động dồi dào, trẻ và khéo tay;
Thiếu năng lực thiết kế, cung Chi phí lao động thấp so với các nước trong
vùng; ứng nguyên vật liệu, kiểm định,
Có các trung tâm làng nghề hoặc một số doanh marketing, phân phối và hậu cần
nghiệp sản xuất sản phẩm da giầy có uy tín trên chưa chuyên nghiệp, nhỏ lẻ,
thị trường nội địa; manh mún;
Năng lực sản xuất sản phẩm của các doanh Thiếu lao động trình độ kỹ thuật
nghiệp trong nước ở phân khúc thị trường dành và quản lý cao;
cho người có thu nhập trung bình hoặc nông Thiếu liên kết ngành, liên kết
quốc gia; thôn rất cao, đáp ứng được nhu cầu, giá cả…
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 83
Chưa có thương hiệu giầy dép Nguồn khách hàng lớn, đang ngày càng ưa
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
quốc tế; (trừ Bitis) chuộng sản phẩm da giầy trong nước do giá cả
Năng lực sản xuất sản phẩm ở hợp lí, chất lượng đảm bảo và mẫu mã đang
phân khúc thị trường trung, cao ngày đẹp hơn;
cấp còn hạn chế đặc biệt là các Phương thức phân phối linh hoạt.
sản phẩm được sản xuất từ da
hoặc các nguyên phụ liệu cao
cấp;
Thói quen ưa tiêu dùng hàng
ngoại do giá rẻ và chưa quan tâm
đến kiểm soát vệ sinh an toàn và
chất lượng chưa được cải thiện;
Tiêu dùng sản phẩm da giầy của
Trung Quốc hiện nay đang trở
thành một trào lưu trong thị
trường nội địa do cả khách quan
và chủ quan.
Hàng nội chưa tạo ra các kênh
phân phối chuyên nghiệp
Cơ hội Thách thức
Nhiều doanh nghiệp có thương hiệu mạnh trên Xu hướng tiêu dùng nhấn mạnh
thị trường gia công xuất khẩu sản phẩm da giầy đến thiết kế hợp thời trang và sản
đã bắt đầu có những dự kiến táo bạo cho phát phẩm chất lượng cao, bảo đảm
triển sản xuất sản phẩm da giầy để phục vụ thị sức khỏe và thoải mái. Nhưng
trường nội địa; các doanh nghiệp sản xuất sản
Sản phẩm da giầy do các doanh nghiệp Việt phẩm da giầy trong nước chưa
Nam sản xuất đang ngày càng có uy tín trên thị sẵn sàng và chưa có khả năng
trường nội địa; đáp ứng nhu cầu trên;
Nạn hàng nhái, hàng giả, hàng Theo lộ trình gia nhập sâu vào WTO, từ 2009
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 84
các nhà kinh doanh bán lẻ lớn được mở rộng thị nhập lậu đang là vấn nạn của các
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
phần tại Việt Nam, cung cấp một nhóm các sản doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
phẩm nhập khẩu chính ngạch có chất lượng phục da giầy trong nước. Các cơ quan
vụ phân khúc thị trường ở các thành phố lớn. chức năng chưa có giải pháp hữu
Điều này tạo cơ hội cạnh tranh quyết liệt giữa hiệu để ngăn chặn vấn nạn này;
các doanh nghiệp trong nước với thị trường nhập Phân khúc thị trường sản phẩm
khẩu sản phẩm da giầy, từ đó nâng cao trình độ giá rẻ ở các nước phát triển có xu
toàn diện cho các doanh nghiệp trong Ngành; hướng giảm đi trong tương lai dễ
biến thị trường Việt Nam trở Giá cả các sản phẩm nhập khẩu luôn cao hơn các
thành nơi “xả” hàng không xuất sản phẩm được sản xuất trong nước là cơ hội để các
khẩu được. doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm giữ được thị
trường nội địa ở các vùng nằm ngoài các thành phố
lớn;
Kinh tế Việt Nam tiếp tục trụ vững và phát triển tạo
điều kiện nâng cao đời sống của người dân là cơ hội
tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội trong đó có sản
phẩm da giầy;
Do sản phẩm da giầy có vòng đời ngắn nên nhu cầu
tăng lên về sản phẩm;
Do được tiếp cận với các sản phẩm cao cấp ngay
trên sân nhà nên có cơ hội phát triển phân khúc sản
phẩm thị trường da giầy cao cấp có giá cạnh tranh,
Môi trường kinh doanh được cải thiện và cơ sở hạ
thiết kế đẹp, theo kịp xu hướng thời trang ở EU;
tầng thuận lợi do phát triển các hình thức phân phối
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 85
tiên tiến: siêu thị, shop thời trang, chợ hiện đại…
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM DA GIẦY NỘI ĐỊA
CÁC KÊNH PHÂN PHỐI
Các công ty SX trong nước có thương hiệu
Các công ty đại lý các thương hiệu lớn
C¸c nhµ nhËp khÈu vµ ph©n phèi
Các nhà bán lẻ tại siêu thị lớn, cửa hàng nhỏ ,các shop thời trang,chợ
Bitis
ViNa Giầy
Ladoda
.......
Giầy TĐình
Nhãm gi¶i ph¸p 3
Nhãm gi¶i ph¸p 3
Nhãm gi¶i ph¸p 1
Nhãm gi¶i ph¸p 1 Nhãm gi¶i ph¸p 2 Nhãm gi¶i ph¸p 3
Doanh nghiệp gia công XK tham gia thị trường NĐ
DN nhập khẩu từ nước ngoài
DN,cở sở SX,làng nghề trong nước
CÁC KÊNH CUNG CẤP
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý
86
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
3.3.3. Hệ thống các giải pháp
3.3.3.1. Nhóm giải pháp 1: Tận dụng thế mạnh để Định hướng và Phát triển.
Trước mắt cần khẩn trương triển khai tốt chương trình quốc gia về phát triển thị
trường nội địa nhằm đánh giá chính xác những nhu cầu và năng lực đáp ứng nhu cầu
của thị trường đối với sản phẩm da giầy tại thị trường nội địa.
Xây dựng một chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ nội địa toàn diện (bao
gồm cả Cung lẫn Cầu). Mục tiêu của chiến lược nhằm tác động mạnh tới thái độ và
hành vi của người tiêu dùng Việt Nam cũng như các nhà sản xuất sản phẩm da giầy
trong nước; xây dựng được một hình ảnh đầy đủ về các doanh nghiệp sản xuất sản
phẩm da giầy trong nước đối với dân chúng. Thực hiện chiến lược theo phương châm
tích cực “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; “Người Việt Nam tự hào và
ưa chuộng dùng hàng Việt Nam”. Các doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện một số
giải pháp cụ thể như:
* Thay đổi chiến lược phát triển thị trường
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam chuyên sản xuất sản phẩm da giầy xuất
khẩu thì khi quay về thị trường nội địa không tránh khỏi những “bỡ ngỡ”. Muốn có hệ
thống phân phối tốt, các chính sách phát triển thị trường hợp lý thì các doanh nghiệp
này phải thay đổi ngay chiến lược phát triển thị trường của mình. Các doanh nghiệp
này cần tập trung vào thị trường nội địa bao gồm cả cạnh tranh về chất lượng giá cả
mẫu mã:
- Đảm bảo chất lượng sản phẩm và coi đó là sự khác biệt so với đối thủ canh
tranh;
- Cắt giảm chi phí, hạ giá thành sao cho giá bán có thể không thấp hơn sản
phẩm nhâp khẩu nhưng vẫn nằm trong khả năng tiêu dùng;
- Tập trung cải thiện mẫu mã đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.
* Tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu thị trường nội địa
Bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng là một tác nhân trên thị
trường nên phải nghiên cứu nhu cầu thị trường để phát triển sản xuất kinh doanh phù
hợp với thị trường. Nghiên cứu thị trường là xuất phát để đưa ra các chiến lựơc kinh
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 87
doanh, chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp. Trong những năm qua công
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
tác dự báo nhu cầu thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản
phẩm da giầy chưa được quan tâm hoặc quan tâm ở mức độ chưa cao, quy mô còn hạn
chế.
Để tìm hiểu thị trường các doanh nghiệp sản phẩm da giầy phải trả lời các câu
hỏi: Các sản phẩm da giầy nào được tiêu thụ nhiều? Thị hiếu người tiêu dùng tập trung
nhiều vào mẫu mã hay chất lượng? Đối tượng tiêu dùng là ai? Đối thủ cạnh tranh?...
Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu thị trường qua trung gian phân phối hoặc trực tiếp
nghiên cứu qua người tiêu dùng cuối cùng.
Nếu nghiên cứu qua trung gian phân phối đó là các đại lí sản phẩm. Doanh
nghiệp có thể chọn lọc vài đại lí để thực hiện điều tra nhu cầu khách hàng với các biện
pháp như: xúc tiến bán hàng giảm giá, thưởng hiện vật hay trả tiền cho mỗi phiếu điều
tra .
Nếu nghiên cứu trực tiếp qua người tiêu dùng thì doanh nghiệp phải cử cán bộ
trực tiếp đi đến tận hiện trường để nghiên cứu khảo sát, tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng ở các quầy hàng, cửa hàng của doanh nghiệp hoặc thu thập phản ánh của người
tiêu dùng từ các cơ sản xuất kinh doanh. Hình thức điều tra này chủ yếu áp dụng ở Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh nơi tập trung đông dân cư, qua hội chợ, triển lãm nhằm
tiết kiệm thời gian và chi phí.
* Nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí giảm giá thành sản phẩm
Nhằm đối phó với tình hình khó khăn chung của nền kinh tế, các doanh nghiệp
phải phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, nỗ lực, sáng tạo nhằm tìm ra cơ hội trong khó
khăn, tiếp tục duy trì và mở rộng sản xuất. Các doanh nghiệp chủ động nâng cao năng
suất, tiết kiệm chi phí giảm bằng cách tích cực củng cố lại công tác quản lý cũng như
khâu sản xuất.
+ Đối với công tác quản lý, điều hành
Các lãnh đạo và cán bộ quản lý của các doanh nghiệp cần thực hiện chỉ đạo và
điều hành một cách quyết liệt, linh hoạt, trực tiếp, hiệu quả. Tăng cường trách nhiệm
của người đứng đầu, xây dựng Quy chế trách nhiệm cho người đứng đầu, cơ cấu lại bộ
máy tổ chức cho hợp lý để phát huy những mặt mạnh, khắc phục ngay những mặt yếu
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 88
trong điều hành sản xuất kinh doanh để giảm giá thành ở mức tối thiểu.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
+ Đối với công tác tổ chức sản xuất
Các doanh nghiệp cần thiết lập kỷ luật sản xuất chặt chẽ đảm năng suất lao
động cao. Thực hiện tiết kiệm triệt để chi phí sản xuất: điện, nước, nguyên vật liệu,
nhân công… Tiến hành kiểm tra, giám sát chất lượng từng khâu, từng công đoạn trong
quy trình sản xuất giày dép tránh để một công đoạn phải làm lại nhiều lần hoặc sản bị
lỗi phải bỏ đi hoặc bán với giá rẻ hơn. Trong nội bộ doanh nghiệp tổ chức thi đua nâng
cao năng suất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất sản phẩm.
* Đầu tư công tác nghiên cứu, thiết kế mẫu mã sản phẩm
Hiện nay mẫu mã các mặt hàng da giầy của doanh nghiệp Việt Nam sản xuất
còn chưa phong phú. Muốn chiếm lĩnh thị trường cần có sự khác biệt hóa sản phẩm.
Các doanh nghiệp phải hợp tác với nhau xây dựng Viện thiết kế, trung tâm nghiên cứu
mẫu mã để sản xuất ra những sản phẩm có mẫu mã phong phú đáp ứng nhu cầu khách
hàng. Viện chủ đạo trong lĩnh vực thiết kế mẫu mốt thời trang, ra mẫu chào hàng, hỗ
trợ các doanh nghiệp trong tìm kiếm và mở rộng thị trường.
Ngay tại các doanh nghiệp cũng nên đầu tư phòng thiết kế, nghiên cứu mẫu mã.
Có như vậy các doanh nghiệp mới chủ động được việc đáp ứng nhu cầu người tiêu
dùng.
* Cố gắng tự chủ nguồn nguyên phụ liệu
Vì phải nhập và phụ thuộcquá nhiều vào nguyên phụ liệu của nước ngoài nên
chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành da giầy lớn, dẫn đến giá thành của
sản phẩm cao hơn một số loại sản phẩm cùng loại được bán trên thị trường. Để khắc
phục hạn chế này các doanh nghiệp phải có những giải pháp như sau:
- Để tạo nguồn nguyên liệu cung cấp sản xuất da, các doanh nghiệp cần kết hợp
với hộ nông dân đẩy mạnh việc chăn nuôi đàn trâu bò để tăng diện tích sử dụng của da
nguyên liệu;
- Các doanh nghiệp nên sử dụng những nguyên phụ liệu đã có, Việt Nam có thể
cung cấp được để thay thế cho nguyên phụ liệu và thiết bị nhập khẩu.
* Tiếp tục đào tạo, nâng cao đội ngũ cán bộ có năng lực, hiểu biết về nghiệp vụ
Khi kinh doanh trên thị trường nội địa - một thị trường thường xuyên biến
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 89
động, cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các cán bộ kinh doanh phải năng động sáng tạo, có
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
khả năng dự báo ứng phó kịp thời với những biến động của thị trường. Để có thể phát
triển tốt các doanh nghiệp cần phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có trình độ, tinh
thông nghiệp vụ, năng động sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu của công việc trong lĩnh
vực đảm trách. Đội ngũ cán bộ phải có kinh nghiệm, có tầm nhìn chiến lược, có khả
năng đưa ra các kế hoạch, các quyết định đúng đắn, sử dụng tốt các nguồn lực của các
doanh nghiệp. Các cán bộ nghiệp vụ cần hiểu biết rõ về công tác phát triển thị trường,
về mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh, biết nắm bắt thông tin và sử dụng thông tin có hiệu
quả... Do đó, các doanh nghiệp cần có kế hoạch phát triển nguồn lực đúng đắn, nâng
cao trình độ đội ngũ lao động thông qua việc :
- Cử cán bộ, nhân viên có năng lực đi nghiên cứu, học tập tại các lớp đào tạo
cán bộ kinh doanh trong và ngoài nước;
- Đào tạo nghiệp vụ kinh doanh và môn bổ trợ cho những cán bộ mới, giúp họ
nhanh chóng làm quen với công việc.
Bên cạnh đó, đội ngũ thiết kế cũng rất quan trọng quyết định sống còn tới việc
chiếm lĩnh thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm da
giầy. Để phát triển đội ngũ này chúng ta có thể áp dụng các biện pháp sau:
- Cử đội ngũ thiết kế đi tham gia các hội chợ triển lãm, tham khảo các xu hướng
thiết kế mới, phù hợp với model hiện nay và thẩm mỹ quốc tế;
- Cử nhân viên thiết kế đi đào tạo tại các nước có ngành da giầy phát triển;
- Thành lập các phòng thiết kế quy mô ở các doanh nghiệp, có thể cùng nhau
tạo ra các khóa học, các trung tâm giảng dạy chuyên nghiệp đào tạo thiết kế…
Mặt khác với đội ngũ marketting cũng cần tuyển chọn những người năng động
và đặc biệt am hiểu về ngàng nghề cũng như từng loại mặt hàng phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng hiên nay. Đối với bất kỳ một ngành sản xuất nào marketting tốt đều
làm tăng giá trị của sản phẩm và thúc đẩy việc bán hàng tốt hơn. Song song với việc
phát triển đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, thiết kế, marketing thì các doanh nghiệp
cũng phải xây dựng đội ngũ công nhân đủ về số lượng, thạo về tay nghề đảm bảo đủ
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 90
điều kiện tiếp thu công nghệ mới.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Nhìn chung yếu tố con người luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi doanh
nghiệp, mọi tổ chức cho nên đây là một giải pháp cần được quan tâm và đầu tư thích
đáng.
3.3.3.2. Nhóm giải pháp 2: Nắm bắt Cơ hội và Thách thức nhằm xây dựng một
hình ảnh tốt cho sản phẩm da giầy do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất trên thị
trường nội địa
Từ lâu sản phẩm da giầy Việt Nam đã được khẳng định trên thị trường quốc tế.
Sản phẩm da giầy với thương hiệu gia công xuất khẩu đã từng được các thị trường EU,
Hoa Kỳ, Nhật Bản tiêu dùng với sản lượng cao. Tuy vậy, thương hiệu mới chỉ dừng lại
ở lĩnh vực gia công xuất khẩu và ở thị trường ngoài nước còn trong nước hình ảnh của
sản phẩm da giầy Việt Nam còn rất khiêm tốn. Do đó, việc xây dựng thương hiệu cho
các sản phảm da giầy được sản xuất từ trong nước là một việc làm hết sức cần thiết.
Khi đặt vấn đề xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp cần tránh tư tưởng
nóng vội, đốt cháy giai đoạn. Công việc này phải bắt đầu từ khâu thiết kế thương hiệu
đến khâu bảo vệ thương hiệu.
Trong khi xây dựng thương hiệu cần thực hiện theo hướng sau:
- Tập trung đầu tư cho các thương hiệu đã được khẳng định tại thị trường trong
nước và quốc tế như: Công ty TNHH may túi xách Minh Tiến - MiMi, Công ty sản
xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên - Biti's, Công ty Tư nhân Giầy Á Châu, Công ty TNHH
Thái Bình - TBS', Công ty 32 - Asega, Công ty Giầy An Lạc - Alsimex…
- Phấn đấu để tất cả các doanh nghiệp đều tham gia đăng kí được cấp giấy
chứng nhận bản quyền tác giả hoặc đăng kí nhãn hiệu hàng hoá tại các cơ quan có
thẩm quyền có giá trị cả trong nước và quốc tế. Tôn trọng các thương hiệu có bản
quyền. Cam kết không làm hàng nhái, hàng giả…
- Xây dựng hệ thống kênh phân phối
Cái khó nhất hiện nay là thị trường Việt Nam chưa có một kênh phân phối hàng
chuyên nghiệp như các nước trên thế giới. Để phát triển thị trường nội địa trước hết
cần chú trọng khâu này.
Thứ nhất: cần phát triển các cửa hàng phân phối sản phẩm ở các trung tâm
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 91
thương mại lớn, các khu dân cư đông đúc.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Thứ hai: xây dựng hệ thống các cơ sở bán buôn và bán lẻ, các đại lý rộng khắp
theo tôn chỉ “ phủ đầy, phủ dày”
Thứ ba: xây dựng kênh phân phối về thị trường nông thôn, miền núi sâu xa.
Các số liệu nghiên cứu đã chứng minh rằng thị trường nông thôn là miền đất rất tốt
cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nội địa, thay vì cứ phải “nhất quyết” ở các
thành phố lớn. Vùng nông thôn đang có 76,5% dân số sinh sống, đang giữ 62,5% tổng
GDP và có số lượng khách hàng sẵn sàng tiêu dùng nhiều gấp 3 lần khu vực thành thị.
Ngoài ra những người ở khu vực này thường có thu nhập chưa cao, thị hiếu tiêu dùng
của họ là phải lựa chọn những sản phẩm chất lượng tốt, độ bền cao. Mà sản phẩm da
giầy do các doanh nghiệp trong nước sản xuất đa phần có thể đáp ứng nhu cầu đó.
Thứ tư: các doanh nghiệp cần tích cực tham gia hội chợ, triển lãm.
Thư năm: các doanh nghiệp cần tăng cường quảng bá sản phẩm qua các phương
tiện truyền thông: quảng cáo trên tivi, mạng internet, báo,…
- Ngành da giầy Việt Nam do Hiệp hội da giầy Việt Nam làm đầu mối xây
dựng để tạo hình ảnh về cộng đồng các doanh nghiệp da giầy Việt Nam với các bạn
hàng gần xa đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thẻ trực tiếp trao đổi với
nhau qua hệ thống này, từ đó giúp phần tiếp cân, nắm bắt và giao dịch tốt hơn, hạn chế
rủi ro và cạnh tranh không lành mạnh... do thiếu thông tin.
3.3.3.3. Nhóm giải pháp 3: Vượt qua Hạn chế và Thách thức nhằm đẩy nhanh
sức tiêu dùng của xã hội cho sản phẩm da giầy trên thị trường nội địa
Trước mắt, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ nhân lực
hoạt động trong lĩnh vực thị trường.
Việc đưa sản phẩm ra thị trường là công việc của đội ngũ tiếp thị. Nhiều năm
qua, do phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài đã để lại cho chúng ta một nhiệm vụ
nặng nề và cấp bách là đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp thị xuất
khẩu khi bắt đầu chuyển sang phương thức xuất khẩu trực tiếp và hiện nay là kinh
doanh trên thị trường nội địa. Cũng giống như trong sản xuất, các thông tin thị trường
phải được thu thập và xử lý nhanh chóng thông qua đội ngũ cán bộ tiếp thị có trình độ.
Dựa vào xu hướng và nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp cần sản xuất và bán những
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 92
sản phẩm mà thị trường có nhu cầu. Để làm tốt công tác tiếp thị, cần một tri thức tổng
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
hợp về nhiều lĩnh vực khác nhau, từ hiểu biết rõ về sản phẩm đến các kỹ năng tiếp thị.
Cán bộ tiếp thị phải được đào tạo tốt về kỹ năng giao tiếp trong môi trường thị trường
nội địa để tăng sức mua của người tiêu dùng trong nước
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong Ngành nên chủ động trong việc đào tạo
đội ngũ công nhân có tay nghề sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của sản xuất theo công nghệ
tiên tiến hiện đại. Trong việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực, các doanh nghiệp của
Ngành phải đặc biệt đầu tư cho đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và tiếp thị xuất khẩu.
Tích cực cử cán bộ theo học các khoá đào tạo chuyên ngành trong nước hoặc nước
ngoài. Trong các doanh nghiệp sản xuất, số thợ cả vẫn còn rất thiếu. Vì không được
tiếp cận một cách trực tiếp thị trường thế giới nên các doanh nghiệp không thể theo kịp
được với xu hướng của người tiêu dùng để đáp ứng theo yêu cầu.
Hầu hết mẫu sản phẩm đều do các hãng lớn nổi tiếng thiết kế và đưa ra thị
trường như Nike, Reebok, Addidas, Timberland… Do chi phí thiết kế phát triển mẫu
mốt rất lớn nên các nhà sản xuất chỉ có khả năng triển khai trên cơ sở mẫu của họ.
Trước thực trạng đó, các doanh nghiệp nên tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật
triển khai mẫu mốt để có thể nhân mẫu và phát triển mẫu trên cơ sở mẫu của khách
hàng để đưa vào sản xuất hàng loạt như hiện nay đang làm.
Đào tạo đội ngũ tổ chức quản lý và điều hành sản xuất giỏi; huấn luyện đội ngũ
công nhân lành nghề sẵn sàng đáp ứng quá trình sản xuất với quy mô lớn và chất
lượng sản phẩm tin cậy.
Việc xây dựng các Trung tâm xúc tiến thương mại phục vụ tiêu dùng nội địa
đối với sản phẩm da giầy là một nhu cầu cấp bách. Trước mắt, Chính phủ và cộng
đồng các doanh nghiệp ngành da giầy cần hỗ trợ và chung tay để xây dựng 02 trung
tâm xúc tiến thương mại lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước đều gặp khó khăn như hiện nay,
các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn lớn. Đánh
giá về tầm vóc của các doanh nghiệp da giầy trong nước sản xuất kinh doanh phục vụ
thị trường nội địa đều cho thấy hiện tại hầu hết các doanh nghiệp thuộc Ngành đều có
qui mô nhỏ và yếu, chưa có đủ điều kiện trong hoạt động xúc tiến thương mại chuyên
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 93
nghiệp. Việc tổ chức triển lãm, trình diễn thời trang, quảng cáo, xây dựng tạp chí
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
chuyên ngành…nhằm phục vụ kớích thích sản xuất, kích thích tiêu dùng, kích thích
đầu tư mang tầm quốc gia và quốc tế đều manh mún. Toàn ngành chưa có cơ sở vật
chất để làm đầu mối giao dịch các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp trên
các lĩnh vực: xúc tiến thương mại, kỹ thuật đào tạo nhân lực quảng bá tuyên truyền sản
phẩm và tư vấn thông tin cho các doanh nghiệp... Do đó, việc xây dựng 02 Trung tâm
xúc tiến thương mại tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nhu cầu cấp
thiết nhằm bước đầu tạo dựng cơ sở vật chất cho hoạt động xúc tiến thương mại, giúp
các doanh nghiệp giải quyết những bất cập như hiện nay.
Việc chuyển đổi từ hoạt động gia công sang hoạt động độc lập là một thách
thức lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp, bước chuyển đổi này đòi hỏi mất
nhiều thời gian và công sức kể cả tiền bạc. Vì vậy, không thể thay đổi tất cả quá trình
sản xuất hiện tại ngay lập tức mà phải tiến hành dần từng bước và kết hợp cả hai
phương thức trong một giai đoạn nhất định, trong đó cần: gắn liền sản xuất với yêu cầu
của thị trường; bán hàng hoá với giá cả được thị trường chấp nhận; xúc tiến thương
mại phải ngày càng chuyên nghiệp trên cơ sơ tận dụng thành quả của khoa học công
nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin.
3.4. Đề xuất và khuyến nghị
3.4.1. Đối với Nhà nước
Xuất phát từ tầm quan trọng của các doanh nghiệp thuộc ngành da giày, các
doanh nghiệp này đóng góp lớn vào GDP của quốc gia, và điều cần thiết hơn cả là các
doanh nghiệp này đã và đang giải quyết công ăn, việc làm cho nhiều lao động trên cả
nước. Để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp này, Chính phủ cần có những giải
pháp tích cực giải quyết khó khăn trước mắt cũng như lâu dài cho các doanh nghiệp.
Đó là ngoài hỗ trợ trong lĩnh vực xuất khẩu còn phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp
phát triển tại thi trường nội địa.
- Về chính sách quản lý: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính
sách nhằm tạo thuận lợi hơn nữa trong việc tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp,
khuyến khích hoạt động của mọi thành phần kinh tế, quan tâm phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ; Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển các sản phẩm công
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 94
nghiệp; Nâng cao công tác quản lí thị trường, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
chất lượng; Tạo điều kiện để doanh nghiệp được tham gia các chương trình, đề án
nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển bền vững.
- Về phát triển sản xuất nguyên phụ liệu tại chỗ để tăng tỉ lệ nội địa hoá: Có
chính sách khuyến khích các dự án đầu tư và chuyển giao công nghệ thuộc da hiện đại
của nước ngoài vào nước ta. Ngành công nghiệp thuộc da là ngành cần rất nhiều vốn
để đầu tư chiều sâu. Do gây ô nhiễm nặng nề, nên chi phí bắt buộc cho việc xử lý môi
trường của ngành rất lớn. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư trong
nước chưa đủ khả năng tài chính để đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý chất thải; Có cơ chế
khuyến khích, ưu tiên cho các dự án đầu tư sản xuất các nguyên phụ liệu như: giả da
và da váng tráng PVC, PU, cao su tổng hợp, vật liệu phụ như mex, đế trong, nhãn mác
dệt, cơ khí chế tạo khuôn mẫu và phụ tùng thay thế cho các thiết bị da giày.
- Về chính sách thuế: Tiếp tục bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm thực
hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó
khăn đối với doanh nghiệp; Miễn giảm thuế thu thập doanh nghiệp, hỗ trợ tiền thuê đất
cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm da giày trong những năm đầu sản xuất phục
vụ thị trường nội địa.
- Về chính sách tín dụng: Cho phép áp dụng cơ chế tín dụng tài trợ cho các
doanh nghiệp trong Ngành từ Ngân hàng phát triển và các Ngân hàng thương mại với
lãi suất ưu đãi.
- Về chính sách đào tạo nguồn nhân lực: Chính phủ và Bộ Công thương cần hỗ
trợ (cả về kinh phí và chính sách) trong việc cho thành lập các trung tâm đào tạo nghề,
mở chuyên ngành da giày ở các trường đai học, để cung cấp nhân tài trong lĩnh vực
này; Tập trung ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ thiết kế, đội ngũ cán bộ kinh doanh giỏi
về marketing. Đây là lực lượng chủ yếu giúp doanh nghiệp chuyển đổi phương thức
sản xuất phù hợp, chiếm lĩnh thị trường mới; Xây dựng các trung tâm đào tạo nhân lực
ngành da giày.
3.4.2. Đối với Doanh nghiệp
- Để khai thác thị trường nội địa các doanh nghiệp cần có những chiến lược và
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 95
hướng đi nhất định trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mình.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
- Chú trọng đến việc tìm hiểu thị hiếu để đáp ứng mong muốn tốt của người tiêu
dùng, tìm hiểu xem họ có xu hướng mẫu mã như thế nào, giá cả để người tiêu dùng có
thể chấp nhận tiêu dùng.
- Tập trung đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng với giá cả phù hợp với mọi đối tượng.
- Quan tâm tới thị trường nội địa kể cả các vùng xa xôi; xây dựng hệ thống phân
phối, sản phẩm và chiêu thị rộng khắp với phương chấm kinh doanh “phủ dày, phủ
xa”.
3.4.3. Đối với người tiêu dùng
- Có chiến lược tác động đến nhận thức của người tiêu dùng trong việc tiêu thụ
sản phẩm, khuyến khích lòng tự hào của người dân khi sử dụng hàng Việt Nam.
- Phát huy vai trò đại diện của người tieu dùng thông qua Hội người tiêu dùng
Việt Nam nhằm: Đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng; tạo cơ hội người tiêu dung
tham gia đóng góp ý kiến vào sự phát triển nâng cao sản phẩm ngành.
3.5. Kết luận chương III
Chương III với tiêu đề: “Hệ thống giải pháp nhằm phát triển thị trường nội địa
ngành da giầy đến năm 2015”, trong chương này luận văn đã tập trung vào 02 nội
dung: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức và Hệ thống các giải pháp, kiến
nghị của ngành da giầy trong việc phát triển thị trường nội địa. Với 02 nội dung này,
luận văn đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể:
Trong phần Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành da giầy
trong việc phát triển thị trường nội địa, luận văn đã đưa ra nhận thức của tác giả về vấn
đề những thành tựu đã đạt được, những lợi thế cũng như những tồn tại khó khăn hiện
tại của Ngành. Song song với những lợi thế và những khó khăn tồn tại là những cơ hội
cũng như thách thức mà Ngành sẽ gặp phải trong giai đoạn tới.
Trong phần Hệ thống các giải pháp của ngành da giầy trong việc phát triển thị
trường nội địa, từ những nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới sự phát
triển của Ngành, luận văn đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm phát triển thị trường nội
địa của Ngành đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước và là một giải pháp hữu hiệu
cho các doanh nghiệp trong Ngành chuyên sản xuất sản phẩm xuất khẩu trong bối
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 96
cảnh kinh tế thế giới hiện giờ.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
KẾT LUẬN
Phát triển thị trường nội địa, thúc đẩy hoạt động thương mại cũng như bảo hộ
hàng hoá sản xuất trong nước đang rất cần một tầm nhìn chiến lược lâu dài và là một
quá trình đổi mới từ tư duy, nhận thức đến thiết kế chính sách pháp luật cũng như nâng
cao vai trò và hiệu quả của công tác quản lý của Nhà nước. Quá trình này cần phải
được sự đồng thuận của mọi cấp, ngành, doanh nghiệp và toàn xã hội. Có như vậy
chúng ta mới có quyền hy vọng có được một thị trường nội địa xứng tầm với vai trò vị
trí của nó trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Đối với quá trình định hướng phát triển thị trường nội địa của sản phẩm da giầy
cũng không nằm ngoài những qui luật chung đó và có những đòi hỏi riêng. Không thể
tồn tại một sự bất hợp lí cho một đất nước xuất khẩu hàng năm hàng tỷ USD với giá
gia công còn rất thấp để lại dùng tiền để đi nhập khẩu hoặc là chính tắc hoặc là nhập
lậu những sản phẩm kém chất lượng, giá cả cao chỉ vì thiếu sự định hướng, thiếu mẫu
mã đẹp và chi phí nhân công cao.
Một lần nữa khẳng định đây là thời điểm đã muộn nhưng không thể đừng cho
một sự định hướng nghiêm túc đối với sự phát triển của thị trường nội địa nói chung
và thị trường sản phẩm da giầy nội địa nói riêng.
Với những kết quả đạt được của Luận văn, tôi cũng nhận thấy đây là kết quả
bước đầu trong quá trình tập dượt để tham gia nghiên cứu khoa học, chắc chắn sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý
kiến của các thầy, cô giáo và những người quan tâm đến vấn đề này để giúp tôi có thể
tiếp tục nghiên cứu phục vụ cho công việc hiện tại của mình.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cảm ơn thầy giáo hướng dẫn đã giúp
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 97
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢOTÀI LIỆUDANH MỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết kế hoạch sản xuất kinh doanh ngành da giầy và túi xách năm
2011 - Hiệp hội Da giầy;
2. Giáo trình Kinh tế thương mại: Đặng Đình Đào – Hoàng Đức Thân NXB thống
kê 2003;
3. Giáo trình MarKeting căn bản: Trần Minh Đạo – NXB Giáo dục – 2003
4. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp: Hoàng Minh Đường - Nguyễn Thừa Lộc –
NXB LĐXH – 2006;
5. Viện Nghiên cứu và Đào tạo về Quản lý - Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm
mới - Nhà xuất bản Lao động - Hà nội 2005;
6. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
2025 – Bộ Công Thương;
7. Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đến năm 2015 - Bộ Công
Thương;
8. Internet – Thông tin tra cứu và khai thác trên mạng
Gồm các trang Web chính sau:
http:// www.moit.gov.vn http:// www.gso.gov.vn http://www.lefaso.org.vn http://www.thuonghieu.com http://www.vietrade.gov.vn
http://www.thuonghieuviet.com.vn
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 98
http:// www.cbi.eu/marketinfo Bộ Công Thương - Quy hoạch tổng thể
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Da Giầy Việt Nam
Theo Loại Hình: Số Doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước 3
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 103
Liên doanh 9
100% Vốn nước ngoài 22
Công ty Cổ phần 47
TNHH Nhà nước một thành viên 3
Theo ngành nghề Số Doanh nghiệp
Giầy 153
Thuộc da 14
Nguyên phụ liệu 11
Cặp, túi xách các loại 6
Sửa chữa máy móc, thiết bị 3
Theo địa bàn Số Doanh nghiệp
Hồ Chí Minh 95
Hà Nội 33
Hải Phòng 22
Bình Dương 12
Hải Dương 6
Đồng Nai 4
Đà Nẵng 3
Cần Thơ 2
Thừa Thiên Huế 2
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 99
Vĩnh Phúc 2
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Phụ lục 2:
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm Ngành
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Đơn vị: Triệu USD
2010
2011
2000
2005
2007
2008
2009
Kim ngạch xuất khẩu
1.721,1
3.511,5
4.622,4
5.601,2
5.303,0
6.082,8
7.802,0
I.Kim ngạch xuất khẩu giầy dép, cặp túi ví
1.468,1
3.039,6
3.994,3
4.767,2
4.000,0
5.124,0
6.523,0
- giày dép các loại
253,0
470,9
627,1
833,0
803,0
958,8
1.279,0
- cặp - túi - ví
61.400, 0
68.000, 0
96.300, 0
14.448, 1
32.442, 0
48.100, 0
58.600, 0
II. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước
11,9
10,8
9,6
9,6
8,6
8,9
8,1
Tỷ trọng I/II (%)
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 100
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt nam và Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam)
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Phụ lục 3:
Sản xuất giầy dép toàn thế giới 2000 - 2010
Đơn vị: Triệu đôi
Khu vực 2000 2005 2007 2008 2010
Trung Quốc (TQ) 6.442,0 8.500,0 9.299,4 9.438,9 10.381,8
Châu Á (trừ TQ) 2.639,0 2.833,0 3.254,8 3.596,5 3.759,0
Trung Đông 375,0 357,0 464,9 488,2 640,2
Đông Âu 278,0 278,0 310,0 340,6 479,1
Tây Âu 917,0 646,0 620,0 651,1 635,2
Nam Mỹ 815,0 918,0 1.085,0 1.276.6 1.457,0
Bắc và Trung Mỹ 407,0 302,0 220,1 225,7 427,3
Châu Phi 194,0 184,0 232,5 241,0 301,9
Châu Đại Dương 12,0 9,0 12,3 15,4 19.5
Tổng 12.079,0 14.090,0 15.499,0 16.274,0 17.900,0
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 101
(Nguồn: Thị trường giày dép toàn thế giới, 2005 - 2010. SATRA TECHNOLOGY CENTRE, Kettering,)
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Phụ lục 4:
So sánh một số điều kiện hoạt động trong ngành giầy
(giữa Trung Quốc với các nước khác)
Trung Quốc Những khu vực khác của thế giới
Lực lượng lao động nhiều và tiền công rẻ , tổng chi phí xã hội thấp: 150 USD/tháng tương đương 0,75 USD/giờ
tương đương 1,35
Nguồn lao động dự trữ thậm chí không đủ và điều đó làm cho tiền công có thể là rất đắt khi được tính vào tổng chi phí xã hội: 150 USD/tháng USD/giờ
TQ hiện tại đã chiếm gần 60% tổng sản lượng toàn thế giới, các khu vực tập trung sản xuất giầy nằm dọc bờ biển với các dịch vụ hậu cần thuận lợi nhất Sản lượng (Năng lực) nhỏ hơn tại các quốc gia đơn lẻ với các dịch vụ hậu cần khó khăn hơn (như Ấn Độ và một số nước khác trong khu vực)
Có hệ thống MMTB đồng bộ/đạt tiêu chuẩn và có sự hỗ trợ công nghệ của Đài Loan
Nhiều loại máy móc/thiết bị đơn lẻ khác nhau và hạn chế về mặt khoa học công nghệ
Phải cạnh tranh, phải thoả mãn để đáp ứng theo các yêu cầu và trải qua nhiều nghiên cứu/phát triển lớn. Người mua tập trung theo các nhóm hàng; họ không có sự tiếp thị và không có chí phí R&D để hỗ trợ
Phần lớn các đơn đặt hàng từ Mỹ; các đơn hàng từ EU ngày càng gia tăng, đặc biệt từ sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO Các đơn hàng vào EU bị chia nhỏ và phải đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng và môi trường (những nhà cung cấp nhỏ lẻ rất khó đáp ứng các đòi hỏi này)
Người mua đưa các thiết kế, hoàn thiện sau cùng… Phải quan tâm các bộ sưu tập của chính nhà sản xuất
Thường phải theo các quy định chặt chẽ về nhân quyền và luật lao động.
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 102
Không bị cản trở bởi các quy tắc và các vấn đề theo quy định pháp luật và lợi ích thu được từ lách luật (được che chở); công nhân thu nhập thấp và tương đối dễ sai khiển.
Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Nhãm gi¶i ph¸p 1 Nhãm gi¶i
Phụ lục 5:
Mục tiêu phát triển ngành Da - Giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025
Chỉ tiêu
Đơn vị
2010
2015
2020
2025
1 Tổng Giầy dép các loại
Triệu đôi
761,0
1.172,0
1.698,0
2.272,0
2 Cặp - túi - ví các loại
Triệu cái
98,0
170,0
285,0
438,0
3 Da thuộc
Da thuộc cứng
1000 Tấn
19,4
39,0
63,0
84,0
Da thuộc mềm (bia 30x30)
Triệu bia
122,5
197,0
277,0
353,0
4 Giá trị SXCN
Tỷ đồng
28.837,0
45.264,0
69.117,0
102.608,0
5 Lao động sử dụng
1000 người
682,0
838,0
1.003,0
1.167,0
6 Tổng KN XK ngành DG
Tỷ USD
5,4
9,1
14,5
21,0
Kim ngạch XK giầy dép
Tỷ USD
4,6
7,5
11,6
16,2
Kim ngạch XK cặp – túi - ví Tỷ USD
0,8
1,6
2,9
4,7
7 Tổng KN xuất khẩu cả nước Tỷ USD
60,2
106,0
170,0
250,0
8 XK DG/XK cả nước
%
9,0
8,6
8,5
8,4
9 Tỷ lệ nội địa hoá
%
50,0
60,0-65,0
75,0-80,0
80,0- 85,0
Tăng trưởng bình quân
2011-2015
2006-2010
2016-2020
2021- 2025
1 Tổng SL giầy dép các loại
%
7,2
9,0
7,7
6,0
2 Cặp - túi – ví các loại/năm
%
7,1
13,0
12,0
10,0
3 Da thuộc
Da thuộc cứng/năm
%
44,3
15,0
10,0
6,0
Da thuộc mềm (bia 30x30)/năm
%
33,2
10,0
7,0
5,0
4 Giá trị SXCN/năm
%
8,8
9,4
8,8
8,2
5 Lao động sử dụng
1000 người
4,8
4,2
3,6
3,1
Tổng KN XK ngành DG/năm
6
%
9,1
10,9
9,7
7,6
Kim ngạch XK giầy dép/năm
%
8,6
10,3
9,0
7,0
Kim ngạch XK cặp – túi – ví/năm
%
12,0
14,0
13,0
10,0
Tổng KN xuất khẩu cả nước/năm
7
%
13,1
11,9
10,0
8,0
(Nguồn: Số liệu tính toán của nhóm nghiên cứu)
Nguyễn Thị Diễm Hằng (Cao học 2009 – 2011) Khoa Kinh tế và Quản lý 103

