GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO NHÂN
DÂN HỌA SĨ TRẦN ĐÌNH TH
Họa sĩ Trần Đình
Thọ đến với Hội hoạ
sau khi h
ọc xong bậc
Thành Chung, t
năm 1938 đã tham
gia hoạt động trong
Hội Truyền báo
Quốc Ngữ (một tổ
chức công khai của
Đảng lúc bấy giờ)
với cương vị trưởng
tiểu ban cổ động
bằng tranh và ảnh.
Năm 1939 ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông D
ương khoá
XIII và tốt nghiệp năm 1944. Sau khi tốt nghiệp, ông lên chiến khu
cùng mt số văn nghệ sĩ tổ chức ban kịch Hoa Lan, làm kinh tế cho
Mặt trận Việt Minh và hướng nghệ thuật của mình đi theo đường lối
Dân tộc - Khoa học - Đại chúng mà bn đề cương văn hoá của Đảng
cộng sản Đông Dương đã đề ra.
TRẦN ĐÌNH TH-Ra đồng-Sơn mài,
1961,58x88cm
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, công tác tại Tạp chí Tiền phong
cơ quan của Hội Văn hoá Cứu quốc, Báo Cờ Giải phóng và Nhà Xuất
bản Sự thật ông là người đã vbiểu trưng của Nhà xuất bản Sự Thật và
ngày nay vẫn còn được sử dụng cho Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
Toàn quc kháng chiến bùng nổ, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ông
cùng nhiu văn nghệ sĩ đã lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng
chiến. Hoạ sĩ Trần Đình Thọ làm vic tại Báo Cứu quốc Trung ương.
Tại đây ông vừa trình bày báo, vẽ minh hoạ, vừa tổ chức hướng dẫn in
đá cho nhiều hoạ sĩ ở các địa phương để làm truyền đơn, làm tranh in
đá. Ngày 15 tháng 6 năm 1947, ông đưc kết nạp vào Đảng cộng sản
Đông Dương nay là Đảng cộng sản Việt Nam. Nhân dịp Đại hội Văn
nghệ toàn quốc năm 1948, Báo Cứu Quốc và hoạ sĩ Trần Đình Thđã
tổ chức Triển lãm M thuật lớn đầu tiên cho các hosĩ tại Chiến khu
Việt Bắc. Từ năm 1953 ông được cử về phụ trách Mỹ thuật cơ quan
Quốc doanh Chiếu bóng và Nhiếp ảnh Trung ương.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hoạ sĩ Trần Đình Thọ cùng đoàn quân
chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô Hà Ni. Từ năm 1955, ông được
cử làm Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam cùng với
hoạ sĩ Trần Văn Cẩn làm hiệu trưởng. Sau khi hoạ sĩ Trần Văn Cẩn
chuyển công tác về Hội Mỹ thuật Việt Nam, ông được cử giữ chức
Quyền Hiệu trưởng và ttháng 6/1968 ông giữ chức vụ Hiệu trưởng
cho đến ngày về hưu năm 1984. Có thể nói, suốt thời gian dài 30 năm,
hoạ sĩ Trần Đình Thọ giữ trọng trách công tác đào t
ạo Mỹ thuật cho đất
nước, nhiều nghệ sĩ tạo hình nổi tiếng của thế hệ thứ hai và thế hệ thứ
ba của Mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã hc tp, có giác ngộ cách mạng,
vững vàng về chuyên môn, đáp ứng công cuộc phát triển của đất nước,
đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt
Nam hiện đại trong thời kỳ ông lãnh đạo nhà trường.
Ngoài các chức vụ tại trường, ho sĩ Trần Đình Thọ là m
ột trong những
hoạ sĩ tham gia thành lp Hội Mỹ thuật Việt Nam từ Đại hội lần thứ I
năm 1957, ông được bầu vào Ban Chấp hành khoá I (1957-1983), t
năm 1968 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Mỹ thuật Việt Nam và
tng giữ chức vụ Tổng Biên tập Tạp chí Mỹ thuật. ở nhiệm kỳ II
(1983-1989) ông lại tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành, ông cũng là
người đầu tiên tham gia thành lập Hội Văn nghệ Dân gian và được bầu
vào Ban Chấp hành khoá I. Cùng với công tác đào tạo, hoạ sĩ Trần
Đình Thọ là một nhà hoạt động xã hội, ông có công đóng góp cho sự
hình thành và phát triển của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Văn nghệ
Dân gian Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước
và những năm đầu đất nước thống nhất.
Hoạ sĩ Trần Đình Thcòn đảm nhận các chức vụ Uỷ viên Đảng đoàn
Bộ Văn hoá từ năm 1968 đến năm 1978, Quyền Viện trưởng Viện Mỹ
thuật Mỹ nghệ từ năm 1969 đến năm 1972, Tổng Biên tập Tạp chí
Nghiên cu Văn hoá Nghệ thuật - Bộ Văn hoá. Là một hoạ sĩ ông còn
tham gia công tác Đảng đoàn, phtrách Viện Nghiên cứu, Tổng Biên
tập Tạp chí… góp phần vào sự phát triển của ngành nghiên cứu, lý
luận, phê bình văn học nghệ thuật trong đó có mỹ thuật góp phần hình
thành một đội ngũ các nhà phê bình mỹ thuật Việt Nam.
Sau ngày thống nhất đất nước, hoạ sĩ Trần Đình Thọ có 7 năm từ năm
1975 đến năm 1981 là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá V và khoá VI. Tại Quốc hội, ông được bầu làm
Phó Chnhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hi kh V và U viên U ban
Văn hoá giáo dục khoá VI.
Từ năm 1978 đến năm 1980, hoạ sĩ Trần Đình Thọ giữ chức vụ Phó
Chủ tịch Hội đồng xét duyệt hàm Giáo sư và Phó Giáo sư đợt I chuyên
ngành khoa học xã hội và ông nghỉ hưu vào tháng 8 năm 1984.
Bằng những thành tích trong đào tạo và nghiên cứu mỹ thuật, hoạ
Trần Đình Thọ đã được Đảng và Nhà nước phong học hàm Giáo sư
danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Ông được tặng Huân chương Độc lập
hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì; Huân
chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm
tui Đảng, Huy chương Vì Snghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam,
Huy chương Vì Snghiệp Mỹ thuật Việt Nam; Huy Chương Vì S
nghiệp Văn nghệ Dân gian Việt Nam; Huy chương Vì S nghiệp Bảo
tồn Di sản Văn hoá Dân tộc; Huy chương Chiến sĩ Văn hoá.
Quá trình công tác hơn nửa thế kỷ đã thể hiện Giáo sư, nhà giáo nhân
dân Trần Đình Thọ là một nhà quản lý có năng lực về lĩnh vực văn hoá
nghệ thuật, luôn đảm bảo đi đúng đường lối của Đảng trong từng giai
đoạn cách mạng. Ông còn là một tấm gương đạo đức, phẩm chất người
cán bộ cách mạng. Các học trò, các đồng nghiệp của ông đều kính
trọng, ngưỡng mộ ông như một người thầy mẫu mực, một người lãnh
đạo, quản lý chuẩn xác và sáng tạo đồng thời lại là người trong sạch
liêm khiết, rất hiền hoà, sống có tình cảm.
Hoạ sĩ Trần Đình Thtuy rất bận rộn và để nhiều tâm trí, thời gian cho
công việc tổ chức và qun nhưng ông vẫn giành thời gian cho sáng
tác, đóng góp cho sự nghiệp phát triển Mỹ thuật Việt Nam hiện đại,
nhiều tác phẩm tốt được trong giới đánh giá cao. Ngay từ ngày còn học
ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông đã có tác phẩm tham
gia các triển lãm M thuật, tác phẩm của ông đã được tặng giải thưởng
tại Triển lãm M thuật Duy nhất năm 1943.
Từ sau cách mạng tháng Tám, nhiều tác phẩm của hoạ sĩ Trần Đình
Thọ đã tham gia các Triển lãm M thuật với nhiều chất liệu như mực
nho, thuốc nước, lụa, sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ, khắc cao su… với các
chủ đề về nông thôn, sản xuất và chiến đấu, hoạ sĩ đã để nhiều rung
cảm của mình vphong cảnh nông thôn, miền núi và những con người
bình dị, những chiến sĩ quân đội nhân dân hiền hoà nhưng dũng cảm.
Về mực nho và thuốc nước ta có thể kể tới các tác phẩm Cầu gỗ Sơn
Tây (1956) cùng vi loạt ký hoạ về bộ đội, các thành ph ở Bungari,
Triều Tiên, Rumani… Về tranh sơn mài với các tác phẩm Ra đồng
(1961, 58x88cm); Hành quân đêm (1974, 120x160cm), Bảo vệ xóm
làng (1980); Tre (51x43cm); Bè vxuôi (1993, 50x70cm); Kéo pháo
(1994, 90x60cm); Vịnh Hạ Long (1995, 60x90cm). Về tranh lụa ta có
thể kể tới các tác phẩm Phong cảnh (1976, 60x50cm);i Các Mác
(1976, 60x50cm); Buổi sớm (1989, 35x43cm)…Về tranh khắc gỗ ta có
thể kể tới các tác phẩm khắc gỗ màu Nghỉ chân (1966, 31x38cm); Đi