Chương 4
Đạo hàm và vi phân hàm một biến
4.1. Đạo hàm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 142
4.2. Bảng đạo hàm một số hàm cấp, quy tắc tính đạo hàm . . . . 146
4.2.1. Bảng đạo hàm một số hàm cấp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 146
4.2.2. Quy tắc tính đạo hàm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 147
4.3. Đạo hàm của hàm hợp và hàm ngược . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 148
4.4. Vi phân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 149
4.5. Đạo hàm một phía . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 151
4.6. Đạo hàm và vi phân cấp cao. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 153
4.7. Bài tập chương 4 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 156
Theo tác giả Grabiner: “Đạo hàm đầu tiên được sử dụng như công cụ, sau
đó mới được phát minh, tiếp nữa được mở rộng và phát triển, cuối cùng mới
được định nghĩa”. Nghĩa trước khi được phát minh ra đạo hoàm, người ta đã
biết cách sử dụng như một công cụ đầy hiệu quả. Cụ thể, năm 1630 Fermat
đã đưa ra một phương pháp tìm cực trị mới mẻ vô cùng hiệu quả.
dụ 4.1 (Bài toán Fermat).Cho trước một đoạn thẳng AB, y chia
thành hai phần sao cho tích của hai phần y lớn nhất
Đây bài toán đã đáp án từ trước (tích lớn nhất khi ta chia đoạn thẳng
thành hai phần bằng nhau) nhưng cách làm của Fermat thì lại rất mới. Giả sử,
điểm chi đôi đoạn AB đó điểm C, gọi chiều dài đoạn AB l, chiều dài đoạn
138 Đạo hàm vi phân hàm một biến
Hình 4.1:
AC xthì chiều dài đoạn CB sẽ lxvà tích của hai đoạn y
x(lx) = xl x2.(4.1)
Nhà toán học Hi Lạp Pappus Alexandria trong một tác phẩm của mình
đưa ra một nguyên lý: “Một bài toán nào đó nói chung hai nghiệm thì sẽ
đạt được giá trị cực đại (hoặc cực tiểu) trong trường hợp chỉ một nghiệm”.
Chúng ta thấy, nếu C0 điểm đối xứng với Cqua trung điểm của đoạn AB
thì chúng ta cũng thu được (4.3). Như vy, theo nguyên Pappus, tích lớn nhất
khi CC0hay ta chia đoạn thẳng thành hai phần bằng nhau.
Hình 4.2:
dụ 4.2. Từ điểm Anằm ngoài đường thẳng dcho trước, hãy xác định điểm
Ntrên dsao cho độ dài đoạn AN nhỏ nhất?
Giả sử chúng ta tìm được một điểm Mnào đó nằm bên phải thỏa mãn yêu
cầu đề bài (tức làm cho đoạn AM nhỏ nhất). Khi đó, luôn một điểm M0
nằm bên trái để cho AM =AM0. Hay, nếu M nghiệm của bài toán y
thì M0cũng phải nghiệm và bài toán sẽ luôn hai nghiệm. nguyên
Pappus phát biểu rằng, giá trị cực tiểu sẽ đạt được trong trường hợp chỉ một
nghiệm, muốn vy thì MM0. Điều này chỉ xảy ra khi Mchính chân
đường vuông c k từ Axuống dvà đây cũng chính đáp án của bài toán
y.
139
Hình 4.3:
Hai dụ trên mặc khá tầm thường nhưng khá hữu ích để làm dụ
cho nguyên của Pappus. Vy một câu hỏi được đặt ra rất tự nhiên là: liệu
bài toán nào nhiều hơn một điểm cực trị không, hay nguyên Pappus liệu
đúng cho mọi bài toán cực trị không? Trước khi tra lời câu hỏi y, chúng ta
qua trở lại phương pháp mới Fermat đề suất. Ông giả sử rằng bài toán trên
còn thêm một đáp số thứ hai nữa (tức một cách chia khác để tích hai
đoạn lớn nhất), với đáp số thứ hai y chúng ta sẽ gọi đoạn thứ nhất x+c.
khi đó, đoạn còn lại lxc. Tích của chúng lúc y bằng
(x+c)(lxc) = x2+ (l2c)x+cl c2.(4.2)
Bởi giá trị lớn nhất phải duy nhất cho nên hai đáp số trên đều phải cho
ra tích giống nhau, nghĩa
xl x2=x2+ (l2c)x+cl c2.(4.3)
Suy ra
2cx +c2=cl.
Rút gọn hai vế cho cta được
2x+c=l
. Ông lại nghĩ, theo nguyên Pappus thì hai nghiệm y trong trường hợp đạt
giá trị lớn nhất phải trở nên bằng nhau. Nên Fermat cho c= 0, từ đó ông thu
được kết quả x=l
2, đây cũng chính đáp số của bài toán trên. Cách làm
của Fermat cái đó vừa độc đáo vừa quái, ông giả sử rằng bài toán
hai nghiệm và chúng khác nhau một lượng c. Lúc đầu ông xem ckhác 0 và rút
140 Đạo hàm vi phân hàm một biến
gọn c hai vế, sau đó ông ta vận dụng nguyên Pappus và nói rằng muốn đạt
được cực trị thì nói chung ckhông nên tồn tại và thế Ông cho c= 0 cuối
cùng lại thu được đáp số chính xác. Các nhà toán học thời đó cho rằng, cách
làm y thật quái lạ, nhưng vẫn không thể ph nhận được tính ưu việt của nó.
Từ đó, các nhà toán học, vật học đã áp dụng phương pháp y vào các bài
toán vật và thu được những kết quả rất phù hợp. Cụ thể, ông đã áp dụng
trong quang học: Fermat phát biểu một nguyên v cách “hành xử” của ánh
sáng (nguyên tác dụng tối thiểu): “Ánh sáng luôn đi theo con đường nhanh
nhất”. Theo nguyên y và khảo sát đường đi của ánh sáng ngang qua bề
mặt phân cách của hai môi trường trong suốt đồng tính ông đã tìm con đường
nhanh nhất của ánh sáng (bằng phương pháp mới trên), chính con đường
tuân theo định luật Snell v khúc xạ (đã tìm ra trước đó bằng thực nghiệm).
dụ 4.3. Xét đường cong phương trình y=f(x), đầu tiên chúng ta sẽ v
một đường thẳng cắt ngang đường cong y tại hai điểm Pvà Q
Hình 4.4:
hệ số c của đường thẳng tan của c tạo bởi đường thẳng đó với trục
hoành Ox. Như vy, hệ số c của đường thẳng P Q trên
tan \
QP R =QR
P R =f(x+h)f(x)
h.
y giờ, ta muốn xác định tiếp tuyến của đường cong tại điểm P. Làm thế nào
để đường thẳng P Q biến thành tiếp tuyến của đường cong tại P, các nhà toán
học đã nghĩ ra một phương án thú vị: Họ cho điểm Qtiến dần v điểm P, lúc
đó thì ràng đường thẳng P Q từ chỗ cắt đường cong tại hai điểm P,Qnay
sẽ chỉ còn cắt tại một điểm Pvà thế “trở thành” tiếp tuyến tại P. Chúng
141
ta thấy, khi QPđồng nghĩa với việc h0. Như vy, bằng cách cho h0
trong công thức tính hệ số c của đường P Q trên chúng ta sẽ thu được hệ
số c của tiếp tuyến cần tìm. Nhưng, thời điểm đó người ta chưa phát minh ra
thuyết v giới hạn. Thế các nhà toán học bắt chước theo cách Fermat
đã làm: đầu tiên họ cứ xem h khác 0rồi tìm cách rút gọn đi tử và mẫu,
sau đó xem hbằng 0rồi triệt tiêu đi. .. Cách giải quyết lạ y lại thu
được những thành công đến không ngờ, người ta đã giải quyết được bài toán
xác định tiếp tuyến “khó nhằn” trước đó. Thế nhưng rất nhiều nhà toán học
khác không đồng ý: sao lúc đầu xem h khác 0(để thoải mái rút gọn) rồi sau
đó lại cho bằng 0? Những người phát minh ra phương pháp y gọi h “vô
cùng bé”, người còn đặt cho một cái tên khác như: bóng ma của những
đại lượng đã mất; đại lượng của chúa....
Mãi cho tới sau y, khi Cauchy y dựng hoàn chỉnh thuyết giới hạn thì
câu hỏi y mới được trả lời ràng nhất. Để tìm hệ số c của tiếp tuyến: việc
chúng ta cần làm cho htiến dần v 0(tiến dần v nghĩa càng ngày càng
gần 0nhưng không bao giờ bằng 0) và quan sát xem tỉ số f(x+h)f(x)
hđang tiến
dần v giá trị nào. Cái giá trị tỉ số y đang “tiến về” chính thứ chúng
ta muốn tìm. Tất nhiên để tìm giới hạn y cần những thuật phù hợp, và
cách làm của Fermat một chừng mực nào đó thể xem “tốt”.
Newton và Leibniz được lịch sử công nhận độc lập với nhau phát minh ra
giải tích và khái niệm đạo hàm nói riêng. Leibniz xuất phát từ việc giải quyết
bài toán tiếp tuyến đã đưa ra khái niệm “vi phân” và y dựng đạo hàm theo
khái niệm y. Trong khi đó, Newton phát minh ra đạo hàm trong một hoàn
cảnh rất đặc thù: ông phát minh ra giải tích chỉ như sáng tạo ra công cụ thích
hợp để phục vụ cho các tính toán trong một thuyết đại sau này đã đặt
nền móng cho học cổ điển: "Thuyết vạn vật hấp dẫn".
Đạo hàm được Newton phát minh ra giúp ông giải quyết được bài toán xác
định vận tốc, gia tốc chất điểm. Trong thuyết của ông, đạo hàm một ý
nghĩa tổng quát và mang trong mình một "sức mạnh to lớn" không thể tưởng
tượng: đạo hàm cho chúng ta biết được tốc độ biến thiên (tốc độ thay đổi) của
một hàm số.
Trong vật vận tốc đặc trưng cho sự thay đổi của quãng đường đi được, gia