intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình môn học Thị trường chứng khoán - Trường CĐ GTVT Trung ương I

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:76

17
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình môn học Thị trường chứng khoán gồm có 5 chương với những nội dung cơ bản sau: Bản chất và vai trò của thị trường chứng khoán, hàng hoá và phân loại thị trường chứng khoán, thị trường chứng khoán sơ cấp, thị trường chứng khoán thứ cấp, đầu tư và phân tích chứng khoán. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình môn học Thị trường chứng khoán - Trường CĐ GTVT Trung ương I

  1. BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Thị trường chứng khoán TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP Ban hành theo Quyết định số 1661/QĐ-CĐGTVTTWI ngày 31/10/2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng GTVT Trung ương I 1 Hà Nội, 2017
  2. BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƢỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƢƠNG I GIÁO TRÌNH Môn học: Thị trƣờng chứng khoán NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG Hà Nội – 2017 2
  3. Mục lục Lời nói đầu…………………………………………………………………….4 Chương 1: Bản chất và vai trò của thị trường chứng khoán………………5 1. Thị trƣờng chứng khoán…………………………………………………….5 2. Bản chất và đặc điểm của thị trƣờng chứng khoán…………………………18 3. Chức năng và vai trò của thị trƣờng chứng khoán………………………….19 4. Những hạn chế (tiêu cực) của thị trƣờng chứng khoán…………………….23 Chương 2: Hàng hoá và phân loại thị trường chứng khoán 1. Hàng hoá của thị trƣờng chứng khoán…………………………………….28 2. Phân loại thị trƣờng chứng khoán………………………………………….30 Chương 3: Thị trường chứng khoán sơ cấp 1. Giá cả chứng khoán………………………………………………………...32 2. Phát hành chứng khoán…………………………………………………….33 3. Khái niệm và chức năng thị trƣờng chứng khoán sơ cấp…………………..36 Chương 4: Thị trường chứng khoán thứ cấp 1. Khái quát thị trƣờng chứng khoán thứ cấp………………………………….40 2. Sở giao dịch chứng khoán………………………………………………….42 3. Thị trƣờng chứng khoán phi tập trung – Giao dịch qua quầy 3
  4. (OTC)………49 Chương 5: Đầu tư và phân tích chứng khoán 1. Đầu tƣ chứng khoán……………………………………………………….55 2. Phân tích chứng khoán…………………………………………………….62 Tài liệu tham khảo…………………………………………………………..73 LƠI NÓI ĐẦU Giáo trình thị trƣờng chứng khoán đƣợc biên soạn tại Trƣờng CĐ GTVTTW 1 Giáo trình đã đáp ứng nhu cầu tài liệu, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ giáo viên và sinh viên trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã trải qua gần 10 năm ra đời và phát triển, hoạt động của thị trƣờng ngày càng đa dạng phong phú hơn. Mặt khác, về mặt lý luận nhiều vấn đề về thị trƣờng chứng khoán đƣợc nhận thức sâu hơn và rõ hơn. Chính vì vậy, việc biên soạn giáo trình thị trƣờng chứng khoán lần này nhầm cung cấp các kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng về đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trƣờng CĐ GTVTTW1 cũng nhƣ yêu cầu của xã hội. Giáo trình bao gồm có 5 chƣơng Chƣơng 1: Bản chất và vai trò của thị trƣờng chứng khoán Chƣơng 2: Hàng hoá và phân loại thị trƣờng chứng khoán Chƣơng 3: Thị trƣờng chứng khoán sơ cấp Chƣơng 4: Thị trƣờng chứng khoán thứ cấp Chƣơng 5: Đầu tƣ và phân tích chứng khoán 4
  5. Giáo trình thị trƣờng chứng khoán đƣợc biên soạn lần này là kết quả của sự kết hợp kê thừa những ƣu điểm của lần biên soạn trƣốc đồng thời và làm phong phú thêm nội dung khoa học rút ra từ lý luận và thực tế của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, thị trƣờng chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rấ t phức tạp, do vậy mặc dù tập thê tác giả đã hết sức cô gắng để hoàn thành giáo trình vối chất lƣợng cao, song giáo trình sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tập thể tác giả mong nhận đƣợc nhiều ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc để giáo trình đƣợc hoàn thiện hơn. Chương 1: Bản chất và vai trò của thị trường chứng khoán 1. Thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm về chứng khoán Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích lũy trong xã hội không ngừng tăng lên và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn. Trong xã hội xuất hiện một số ngƣời cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tƣ, đồng thời lại có một số ngƣời khác có vôn nhàn rỗi tạm thòi muốn cho vay để lấy lãi. Ban đầu, những ngƣời này thƣờng tìm gặp nhau một cách trực tiếp, dựa trên quan hệ quen biết cá nhân đê giải quyết các nhu cầu vê' vốn cho mình. Tuy nhiên sau đó, khi cung và cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay và cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ cá nhân tỏ ra không đáp ứng đƣợc nữa, thực tế khách quan đòi hỏi phải có một thị trƣờng cho cung và cầu vốn gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau. Thị trƣờng đó chính ià thị trƣờng tài chính. Thị trƣờng tài chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phƣơng thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định, là tổng hòa các quan hệ cung và cầu về vôn. Thị trƣờng tài chính định hƣớng các nguồn tiết kiệm chủ yếu từ các hộ gia đình tới các cá nhân và tổ chức cần thêm vôn để sử dụng ngoài thu 5
  6. nhập hiện tại. Thông qua thị trƣờng tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi đƣợc huy động vào đầu tƣ, tạo nên đòn bẩy cho phát triển kinh tê. Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, thị trƣờng tài chính đƣợc chia thành thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng vởn. - Thi trƣờng tiền tệ Thị trƣờng tiền tệ là thị trƣờng mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn (thƣờng có thời hạn dƣới 1 năm). Thị trƣờng tiền tệ là nơi diễn ra các hoạt động cúa cung và cầu về vốn ngắn hạn và là nơi đỏ Ngân hàng trung ƣơng thực thi nghiệp vụ thị trƣờng mờ nhằm kiểm soát lƣợng tiền dự trữ của các ngân hàng thƣơng mại và điều tiết lƣợng tiền cung ứng. Thị trƣờng tiền tệ có một số đặc điểm chú yếu sau: + Giai đoạn luân chuyển vốn ngắn hạn. Các khoản vay hay các chứng khoán có kỳ hạn thanh toán dƣới 1 năm đều đƣợc xem là công cụ cùa thị trƣờng tiền tệ. + Thị trƣờng tiền tệ đặc trƣng bởi hình thức tài chính gián tiếp, đóng vai trò trung gian tài chính giữa ngƣời vay và ngƣời cho vay là các ngân hàng thƣơng mại. + Các công cụ thị trƣờng tiền tệ có độ an toàn tƣơng đối cao. - Thị trƣ ờ n g vôn Thị trƣờng vốn là thị trƣừiig mua bán, trao đổi các cõng cụ tài chinh Irung và dài hạn. Thị trƣờng vốn là nơi diỗn ra các hoạt động cùa cung và cầu về vốn trung và dài hạn. Thị trƣờng này cung cấp tài chính cho các khoán đầu tƣ dài hạn của chính phù, cùa các doanh iH iiệp và của các hộ gia (lình. Thị trƣờng vốn có một số đặc điểm sau: + Giai đoạn luân chuyển vốn dài hạn + Các công cụ chủ yếu của thị trƣờng vốn gồm có các công cụ vay nợ và các chứng khoán có kỳ hạn thanh toán trên 1 năm. Nhìn chung, so với các công cụ của thị trƣờng tiền tệ, các công cụ của thị trƣờng vốn có độ rủi ro cao hơn nhung lại mang lại mức lợi tức cao hơn cho các nhà đầu tƣ. Trong lịch sử hình thành và phát triển thị trƣờng tài chính, thị trƣờng tiền tệ đƣợc hình thành trƣớc do ban đầu nhu cầu vốn cũng nhƣ tiết kiệm trong dân cƣ chƣa cao và ban đầu nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn. Sau đó, cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tƣ phát triển ngày càng cao và thị trƣờng vốn đã ra đòi để đáp ứng các nhu cầu vốn này. Đe huy động đƣợc các nguồn vốn 6
  7. dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, chính phủ và một sô' công ty còn thực hiện huy động thông qua phát hành các chứng khoán. Khi một bộ phận các chứng khoán có giá nhất định đƣợc phát hành thì tất yếu sẽ nảy sinh nhu cầu về mua bán, trao đổi các chứng khoán đó. Vì vậy, thị trƣờng chứng khoán đã ra đời với tƣ cách là một bộ phận của thị trƣờng vôn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán các loại. Thị trƣờng chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và sơ khai, xuất phát từ nhu cầu đơn lẻ. Vào giữa thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm ở phƣơng tây, các thƣơng gia thƣờng tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi, mua bán các vật tƣ hàng hóa,... lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuôì thế kỷ XV, để thuận tiện hđn cho việc làm ăn, khu chợ trỏ thành “thị trƣờng” với việc thống nhất các quy ƣớc và dần dần các quy ƣóc này đƣợc sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trƣờng. Phiên chợ riêng đầu tiên đƣợc diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một báng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “mậu dịch thị trƣờng” hay còn gọi là sở giao dịch. Vào năm 1547, thành phô' ở Bruges (Bỉ) m ất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị lấp cát nên mậu dịch thị trƣờng ỏ đây bị sụp đổ và đƣợc chuyển qua thị trƣờng Auvers (Bỉ), ở đây thị trƣờng phát triển rấ t nhanh và vào giữa thê kỷ XVI, một quan chức đại thần Anh quốc đã đến quan sát để về thiết lập mậu dịch thị trƣờng tại London (Anh), nơi mà sau này đƣợc gọi là sỏ giao dịch chứng khoán London. Các mậu dịch thị trƣờng khác cũng lần lƣợt đƣợc thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu. Sự phát triển thị trƣờng ngày càng m ạnh cả về lƣợng và chất với sô' thành viên tham gia đông đảo với nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy, theo tính chất tự nhiên nó lại đƣợc phân ra thành nhiều thị trƣờng khác nhau nhƣ: thị trƣờng giao dịch hàng hóa, thị trƣờng hối đoái, thị trƣờng giao dịch các hợp đồng tƣơng lai, thị trƣờng chứng khoán,... với đặc điểm riêng của từng thị trƣờng thuận lợi cho hoạt động giao dịch của những ngƣòi tham gia thị trƣờng. Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành nhƣ vậy một cách tự phát cũng tƣơng tự ở Pháp, Hà lan, các nƣóc Bắc Âu, các nƣóc Tây Âu và Bắc Mỹ. Các phƣơng thức giao dịch ban đầu đƣợc 7
  8. diễn ra ngoài tròi với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thƣ ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời đƣợc chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán đƣợc chính thức thành lập. Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, các phƣơng thức giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán cũng đƣợc cải tiến theo tổc độ và khối lƣợng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quà và chất lƣợng cho giao dịch. Các sở giao dịch dần dần sử dụng máy vi tính đê truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử. Cho đến nay, trên thế giới đả có khoảng trẽn 160 sỏ giao dịch chửng khoán phân bố trên khắp các châu lục, bao gồm cả các nƣớc phát triển trong khu vực Đông Nam Á vào những năm I960- 1970 và những nƣớc nhƣ Ba lan, Hungari, Séc, Nga, Trung quốc vào những năm đầu 1990,... Quá trình hình thành và phát triển của thị trƣờng chứng khoán thê giới cho thấy giai đoạn đầu thị trƣờng phát triển một cách tụ phát vối sự tham gia của các nhà đầu cơ. Dần dần vê sau mới có sự tham gia của công chúng đầu tƣ. Khi phát triển đến mức độ nhất định, thị trƣờng bắt đầu phát sinh những trục trặc dẫn đến phải thành lập cơ quan quản lý nhà nƣớc và hình thành hệ thống pháp lý đê điều chỉnh hoạt động của thị trƣờng. 1.2. Khái niệm về thị trường chứng khoán: Thị trƣờng chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trƣờng vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lón tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và nhà nƣớc để phát triển sản xuất, tăng trƣởng kinh tế hay cho các dự án đầu tƣ. Thị trƣờng chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán này đƣợc tiến hành ở thị trƣờng sơ cấp khi ngƣời mua mua đƣợc chứng khoán lần đầu từ những ngƣời phát hành và â thị trƣờng thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đƣợc phát hành ở thị trƣờng sơ cấp. Do vậy, thị trƣờng chứng khoán là nơi các chứng khoán đƣợc phát hành và trao đổi. Hàng hóa giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán là các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm. Các trái phiếu có thòi hạn dƣỏi 1 năm là hàng hóa của thị trƣờng tiền tệ. Vị trí của thị trƣờng chứng khoán trong hệ 8
  9. thông th ị trƣờng tài chính có thể đƣợc biểu thị khái quát qua sơ đồ sau: Thị trƣờng chửng khoán có những đặc điểm chủ yếu sau: + Thị trƣờng chứng khoán đƣợc đặc trƣng bởi hình thức tài chính trực tiếp, ngƣòi cần vốn và ngƣời có khả năng cung ứng vốn đều trực tiếp tham gia thị trƣờng, giữa họ không có các tru n g gian tài chính. + Thị trƣờng chửng khoán là thị trƣờng gần với thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo. Tất cả mọi ngƣòi đều đƣợc tự do tham gia vào thị trƣờng. Không có sự áp đặt giá cả trên thị trƣờng chứng khoán mà giá cả ở đây đƣợc hình thành dựa trên quan hệ cung cầu cùa thị trƣờng và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán. + Thị trƣờng chứng khoán về cơ bàn là một thị trƣờng liên tục, sau khi các chứng khoán đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp nó có thể đƣợc mua bán nhiều lần trên thị trƣờng thứ cấp. Thị trƣờng chứng khoán đảm bảo cho những ngƣời đầu tƣ có thể chuyển chứng khoán họ nắm giữ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn. 1.3. Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán Điều hành thị trường là các hoạt động được tiên hành nhằm duy trì sự vận hành bình thường của thị trường, hoạt động này thường được tiên hành bởi các chủ thể có quyền lực nhất định. Giám sát thị trường là việc tiên hành theo dõi kiêm tra các hoạt động diễn ra trên thị trường, nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của thị trường. Thị trƣờng chứng khoán luôn luôn tồn tại tính hai mặt của nó, đó là mặt tích cực và mặt tiêu cực. Những mặt tiêu cực của nó có thể gây tác động xấu đến thị trƣờng và các hoạt động kinh tế - xã hội. Đó chính là các hành vi gian lận, lừa đảo trong giao dịch chứng khoán nhƣ đầu cơ, mua bán nội gián, thao túng giá cả... Vì vậy cần phải có một cơ chế điều hành và giám sát chặt chẽ mọi mặt hoạt động của thị trƣờng chứng khoán. Thị trường chứng khoán là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung. Mặt khác thị trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, nơi tập trung của nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết 9
  10. và lợi ích khác nhau; các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn. Đặc tính đó khiến cho thị trường chứng khoán cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng thông qua các hoạt động gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư; tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tê. Xuất phát từ vai trò quan trọng cũng nhƣ tính chất phức tạp nhƣ vậy của thị trƣờng chứng khoán, việc điều hành và giám sát thị trƣờng là vô cùng cần thiết để đảm bảo đƣợc tính hiệu quả, công băng, lành mạnh trong hoạt động của thị trƣờng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tƣ, dung hoà lợi ích của tất cả những ngƣời tham gia thị trƣờng, tận dụng và duy trì đƣợc các nguồn vốn để phát triển kinh tế. Mỗi thị trƣờng có cơ chế điều hành và giám sát thị trƣờng riêng phù hợp với các tính chất và đặc điểm của riêng nó. Tại mỗi nƣớc, việc điều hành và giám sát thị trƣờng chứng khoán đƣợc tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau. Nhìn chung các tổ chức tham gia quản lý và giám sát thị trƣờng chứng khoán gồm 2 nhóm: Các cơ quan quản lý của chính phủ và các tổ chức tự quản. a. Các cơ quan quản lý của chính phủ Đây là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động của thị trƣờng chứng khoán. Nhìn chung các cơ quan quản lý thị trƣờng của chính phủ chỉ thực hiện các chức năng quản lý chung chứ không trực tiếp điều hành và giám sát thị trƣờng. Các cơ quan này có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh các hoạt động trên thị trƣờng chứng khoán tạo nên cơ sở cho các tổ chức tự quản trực tiếp thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thị trƣờng của mình. Nhìn chung các cơ quan quản lý thị trƣờng của chính phủ gồm có uỷ ban chứng khoán và một số bộ, ngành có liên quan. Uỷ ban chứng khoán là cơ quan quản lý chuyên ngành của nhà nƣớc trong lĩnh vực chứng khoán, với các chức năng sau: - Thực hiện các quy định, quy chế về quản lý ngành chứng khoán của chính phủ, bộ tài chính và phối hợp với các tổ chức liên quan để điều hành và giám sát có hiệu quả hoạt động của thị trƣờng chứng khoán. 10
  11. - Kiểm soát và giám sát các hoạt động trên thị trƣờng nhƣ đăng ký, lƣu ký chứng khoán, giám sát các công ty niêm yết, và phát hiện, xử lý các trƣờng hợp gian lận trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. - Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát hoạt động của các tổ chức này, xử lý các vi phạm nếu các tổ chức tự quản không tự xử lý đƣợc. - Thanh tra đối với các cá nhân hay tổ chức để bảo vệ lợi ích chung của công chúng trong trƣờng hợp có sự vi phạm pháp luật. Bên cạnh uỷ ban chứng khoán, một số bộ, ngành. cũng có chức năng tham gia quản lý một số lĩnh vực có liên quan tới thị trƣờng chứng khoán. Ví dụ: bộ tài chính quản lý các vấn đề về kế toán, kiểm toán phục vụ phát hành và công khai thông tin công ty, phát hành trái phiếu quốc tế...; ngân hàng nhà nƣớc quản lý các ngân hàng thƣơng mại thực hiện kinh doanh chứng khoán, đề ra các nguyên tắc để phân tách nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khoán; bộ tƣ pháp có liên quan tới việc xử lý các trƣờng hợp gian lận trên thị trƣờng chứng khoán... b. Các tổ chức tự quản Xét về mặt lịch sử, việc điều hành và giám sát thị trƣờng chứng khoán đƣợc thực hiện bởi các tổ chức tự quản trƣớc, rồi sau đó mới có sự can thiệp của chính phủ. Các tổ chức tự quản là các tổ chức hình thành cùng với sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán, thực hiện chức năng điều hành và giám sát thị trƣờng chứng khoán nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn thị trƣờng. Các tố chức tự quản thực hiện quản lý và giám sát thị trƣờng trên cơ sở tuân thủ các quy định của các tổ chức quản lý và giám sát thị trƣờng của chính phủ. Một tổ chức tự quản hoạt động dựa trên 2 nguyên tắc: - Các quyết định điều hành đƣa ra phải đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh thực tế, hoạt động giám sát thị trƣờng phải có hiệu quả. - Chi phí điều hành, giám sát thị trƣờng phải thu đƣợc từ các hoạt động trên thị trƣờng chứ không phải do ngân sách cấp. Hoạt động điều hành và giám sát thị trƣờng chứng khoán của các tổ chức tự quản bao gồm 3 bộ phận: quản lý và giám sát các hoạt động giao dịch (bao gồm cả việc phát hành), quản lý và giám sát công ty chứng khoán, giải quyết cá tranh chấp 11
  12. và tiến hành xử lý các trƣờng hợp vi phạm. Nhìn chung, các tổ chức tự quản gồm có: sở giao dịch và hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán. Sở giao dịch là tổ chức tự quản bao gồm các công ty chứng khoán thành viên, trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán thực hiện trên sở. Sở giao dịch thực hiện một số chức năng sau: - Điều hành các hoạt động giao dịch diễn ra trên sở thông qua việc đƣa ra và đảm bảo thực hiện các quy định cho các hoạt động giao dịch trên thị trƣờng sở giao dịch. - Giám sát, theo dõi các giao dịch giữa các công ty thành viên và các khách hàng của họ. Khi phát hiện các vi phạm sở giao dịch tiến hành xử lý, áp dụng các biện pháp cƣỡng chế thích hợp. Trong trƣờng hợp có vi phạm nghiêm trọng đến các quy định của ngành chứng khoán, sở giao dịch có thể báo cáo lên uỷ ban chứng khoán để giải quyết. - Hoạt động điều hành và giám sát của sở giao dịch phải đƣợc thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan đến ngành chứng khoán. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán đƣợc thành lập với mục đích tạo ra tiếng nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán và đảm bảo các lợi ích chung của thị trƣờng chứng khoán. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thị trƣờng chứng khoán nhƣ sau: - Điều hành và giám sát thị trƣờng giao dịch phi tập trung. Các công ty muốn tham gia thị trƣờng này phải đăng ký với hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán và phải thực hiện các quy định do hiệp hội đƣa ra. - Đƣa ra các quy định chung cho các công ty chứng khoán thành viên trong các lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và đảm bảo thực hiện các quy định này. - Thu nhận các khiếu nại của khách hàng và điều tra các công ty chứng khoán thành viên để tìm ra các vi phạm, sau đó chuyển các kết quả điều tra tới công ty chứng khoán đó để giải quyết. 12
  13. - Đại diện cho ngành chứng khoán, hiệp hội dƣa ra các đề xuất và gợi ý với những cơ quan quản lý thị trƣờng chứng khoán của chính phủ về các vấn để tổng quát trên thị trƣờng chứng khoán. Các tổ chức của chính phủ và các tổ chức tự quản là hai hình thức điều hành và giám sát thị trƣờng chứng khoán. Ở các nƣớc khác nhau, sự áp dụng các hình thức cũng khác nhau. Tuy nhiên để đảm bảo cho thị trƣờng chứng khoán đƣợc điều hành và giám sát có hiệu quả cần phải có sự kết hợp hai hình thức này trên cơ sở phù hợp với điều kiện của từng nƣớc. 1.4. Các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán 1.4.1 Nhà phát hành Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trƣờng chứng khoán. Nhà phát hành là ngƣời cung cấp chứng khoán – hàng hóa của thị trƣờng chứng khoán. - Chính phủ và chính quyền địa phƣơng là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa phƣơng. - Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty. - Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính nhƣ các trái phiếu, chứng chỉ thụ hƣởng,… phục vụ cho hoạt động của họ. 1.4.2. Nhà đầu tƣ Nhà đầu tƣ là những ngƣời thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán. Nhà đầu tƣ có thể chia thành hai loại: nhà đầu tƣ cá nhân và nhà đầu tƣ có tổ chức. a. Các nhà đầu tƣ cá nhân: Nhà đầu tƣ cá nhân là những ngƣời có vốn tạm thời nhàn rỗi, tham gia mua bán trên thị trƣờng chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu tƣ thì lợi nhuận luôn gắn liền với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngƣợc lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tƣ cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tƣ phù hợp với khả năng cũng nhƣ mức độ chấp nhận rủi ro của mình. b. Các nhà đầu tƣ có tổ chức 13
  14. Nhà đầu tƣ có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tƣ, thƣờng xuyên mua bán chứng khoán với số lƣợng lớn trên thị trƣờng. Các tổ chức này thƣờng có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trƣờng và đƣa ra các quyết định đầu tƣ. Một số nhà đầu tƣ chuyên nghiệp chính trên thị trƣờng chứng khoán là các công ty đầu tƣ, các công ty bảo hiểm, các quỹ lƣơng hƣu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tƣ thông qua các tổ chức đầu tƣ có ƣu điểm nổi bật là có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tƣ, và các quyết định đầu tƣ đƣợc thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm. 1.4.3. Nhà môi giới – Công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, và tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo đƣợc một số vốn nhất định và phải đƣợc phép của cơ quan có thẩm quyền. 1.5. Cơ cấu thị trường chứng khoán Thị trƣờng chứng khoán chính thức đƣợc thể hiện bằng sở giao dịch chứng khoán. Thông thƣờng một thị trƣờng chứng khoán bao gồm hai thị trƣờng cùng tham gia (cấu trúc thị trƣờng chứng khoán) là thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. Thị trường sơ cấp Là thị trƣờng cấp một hay thị trƣờng phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm qui mô đầu tƣ vốn. Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trƣờng này là nguồn tiết kiệm của dân chúng nhƣ của một số tổ chức phi tài chính. Thị trƣờng sơ cấp là thị trƣờng tạo vốn cho đơn vị phát hành. Thị trường thứ cấp Còn gọi là thị trƣờng cấp hai hay thị trƣờng lƣu thông, là nói đến nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán đến tay thứ hai, tức là việc mua bán tiếp thu sau lần bán đầu tiên. Nói cách khác, thị trƣờng thứ cấp là thị trƣờng mua đi bán lại các loại chứng khoán đã đƣợc phát hành qua thị trƣờng sơ cấp. 14
  15. Điểm khác nhau căn bản giữa thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp không phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của từng loại thị trƣờng. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trƣờng sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tƣ và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế. Còn ở thị trƣờng thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng khoán đƣợc mua đi bán lại, nhƣng không làm tăng thêm qui mô đầu tƣ vốn, không thu hút thêm đƣợc các nguồn tài chính mới. Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán. Thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp gộp lại đƣợc gọi là thị trƣờng chứng khoán. Hai thị trƣờng này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau đƣợc ví dụ nhƣ hai bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trƣờng sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trƣờng thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trƣờng sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán để lƣu thông trên thị trƣờng thứ cấp và ngƣợc lại, nếu không có thị trƣờng thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó khăn, khiến cho ngƣời đầu tƣ sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động vốn trong nền kinh tế. Việc phân biệt thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Trong thực tế tổ chức thị trƣờng chứng khoán không có sự phân biệt đâu là thị trƣờng sơ cấp và đâu là thị trƣờng thứ cấp. Nghĩa là, trong một thị trƣờng chứng khoán vừa có giao dịch của thị trƣờng sơ cấp vừa có giao dịch của thị trƣờng thứ cấp. Vừa có việc mua bán chứng khoán theo tính chất mua đi bán lại. Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trƣờng sơ cấp, vì đây là thị trƣờng phát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải giám sát chặt chẽ thị trƣờng thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị trƣờng để đảm bảo thị trƣờng chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế. Sở giao dịch chứng khoán Thị trƣờng chứng khoán chính thức đƣợc tổ chức theo hình thức Sở giao dịch chứng khoán. Các hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán. 15
  16. Thứ nhất Sở giao dịch chứng khoán đƣợc tổ chức theo hình thức "Câu lạc bộ" tự nguyện của các thành viên. Trong hình thức này, các thành viên của sở giao dịch (hội viên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo pháp luật không có sự can thiệp của nhà nƣớc. Các hội viên của Sở giao dịch bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành. Thứ haiSở giao dịch chứng khoán đƣợc tổ chức dƣới hình thức một công ty cổ phần có các cổ đông là các công ty thành viên. Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay. Sở giao dịch chứng khoán tổ chức dƣới hình thức này đƣợc hoạt động theo luật công ty cổ phần, phải nộp thuế cho nhà nƣớc và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn do chính phủ lập ra. Cơ quan chuyên môn này là cơ quan quản lý nhà nƣớc về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán. Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán là Hội đồng quản trị do các công ty chứng khoán thành viên bầu ra và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán do Hội đồng quản trị đề cử. Thứ baSở giao dịch chứng khoán đƣợc tổ chức dƣới dạng một công ty cổ phần nhƣng có sự tham gia quản lý và điều hành của nhà nƣớc. Đây là hình thức phổ biến ở hầu hết các nƣớc Châu á. Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành cũng tƣơng tự nhƣ hình thức trên nhƣng trong thành phần Hội đồng quản trị có một số thành viên do uỷ ban chứng khoán quốc gia đƣa vào, giám sát điều hành. Sở giao dịch chứng khoán quốc gia bổ nhiệm. Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng chứng khoán do chính phủ thành lập. Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm vụ xác định loại doanh nghiệp nào đƣợc phép phát hành chứng khoán và loại chứng khoán nào đƣợc mua bán. Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt động của các công ty môi giới và thực hiện các công việc quản lý nhà nƣớc khác. Hội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán. Tất cả các quyết định đều đƣợc Hội đồng quản trị đƣa ra. Hội đồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành viên của sở giao dịch chứng khoán, các thành viên liên doanh thậm chí có một số không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đƣa vào. Hội 16
  17. đồng quản trị có quyền quyết định nhƣng thành viên nào đƣợc phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ tiêu chuẩn đƣợc phép niêm yết tại phòng giao dịch. Hội đồng này có quyền đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó. Hội đồng quản trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch chứng khoán nữa. Thành viên sở giao dịch chứng khoán Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty chứng khoán. Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trƣớc hết công ty phải đƣợc công ty có thẩm quyền của nhà nƣớc cấp giấy phép hoạt động. Phải có số vốn tối thiểu theo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã đƣợc đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán. Ngoài ra công ty còn phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán cụ thể. Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán khác nhau nhƣng không đƣợc là thành viên của thị trƣờng chứng khoán phi tập trung và ngƣợc lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụ khác nhau trên thị trƣờng chứng khoán. Giám sát thị trường chứng khoán Để đảm bảo cho các giao dịch đƣợc công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tƣ, sở giao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát các giao dịch chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch chứng khoán. Nhiệm vụ chủ yếu của các bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực nhƣ gây nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao dịch lòng vòng, giao dịch có dàn xếp trƣớc. 1.6. Quá trình hình thành phát triển thị trường chứng khoán 17
  18. Lịch sử loài ngƣời đã ra đời và tồn tại hàng ngàn năm nay. Trong đó lịch sử phát triển xã hội loài ngƣời đã trải qua các hình thái xã hội khác nhau từ thấp đến cao. ứng với mỗi hình thái xã hội khác nhau thì có một lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất khác nhau tƣơng ứng với chúng xã hội muốn tồn tại thì phải lao động sản xuất ra hàng hoá, của cải vật chất phục vụ nhu cầu con ngƣời. Trong đó thị trƣờng chứng khoán là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Thị trƣờng chứng khoán nguyên thuỷ đã tồn tại hàng trăm năm nay. Vào khoảng giữa thế kỷ XI ở tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phƣơng Tây, các thƣơng gia thƣờng tụ tập tại các quán Cafe để thƣơng lƣợng việc mua bán, trao đổi các loại hàng hoá (nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giá khoán động ...). Điểm đặc biệt là tại các cuộc thƣơng lƣợng này, các thƣơng gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản, hay bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc thƣơng lƣợng này nhằm thống nhất với nhau, hợp đồng mua bán, trao đổi. Không biết do sự phát triển của các thƣơng gia hay hiệu quả của kiểu “thƣơng lƣợng” này mà số lƣợng ngƣời tham gia ngày càng đông lên. Đến cuối thời Trung cổ, phiên chợ riêng này trở thành một thị trƣờng và khoảng cách các phiên chợ ngày càng rút ngắn. Những qui ƣớc trao đổi dần dần đƣợc tu bổ thành các qui tắc có giá trị bắt buộc đối với ngƣời tham gia. Từ đó thị trƣờng chứng khoán bắt đầu đƣợc hình thành. Đến 1986 ở một số nƣớc, các giá trị động sản đã lần lƣợt đƣợc yết giá trên hệ thống vi tính các (yết giá liên tục) nhƣ vậy việc yết giá cổ phiếu, trái phiếu, không còn đƣợc tập trung nữa, không đƣợc giao dịch dƣới dạng giao miệng. Các nhà giao dịch sẽ truyền lệnh cho công ty chứng khoán của mình thông qua điểm cuối mạng vi tính. Năm 1991, hệ thống RELIT đã tiêu chuẩn hoá tiến trình thanh toán tiền và giao dịch chứng khoán. Sau khi đã giao dịch thƣơng lƣợng trên thị trƣờng. Thành lập các thị trƣờng biến tƣớng: 1986 ở Pháp lập thị trƣờng Matif, 1987 thị trƣờng Monep. Các thị trƣờng này lập ra cho các nhà quản lý hồ sơ chứng khoán phòng ngừa các rủi ro liên quan đến biến động về cổ phiếu, tỉ lệ lãi suất, tỉ giá hối đoái. Và thị trƣờng này cũng có mục đích tăng vốn khả duy trên thị trƣờng giao 18
  19. ngay qua khả năng kinh doanh chênh lệch giá. Và đây cũng là thị trƣờng thực sự trong thời đại mới. Sự hình thành của “TTCK” trên thế giới vào thế kỉ 15 và cùng với thăng trầm của lịch sử nó vẫn tồn tại đến ngày nay. Sau nhiều năm chờ đợi và chuẩn bị vào ngày 11.7.1998. Chính phủ nƣớc ta đã ký nghị định 18/CP ban hành về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán. Và ngày đó cũng là ngày đánh dấu sự ra đời của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. 2. Bản chất và đặc điểm của thị trường chứng khoán 2.1. Bản chất Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi các loại chứng khoán Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán ,và nhƣ vậy , thực chất đây là quá trình vận động của tƣ bản ,chuyển từ tƣ bản sở hữu sang tƣ bản kinh doanh Thị trƣờng chứng khoán không giống với các thị trƣờng các hàng hoá thông thƣờng khác vì hàng hoá của thị trƣờng chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt , là quyền sở hữu về tƣ bản . Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng . Như vậy , có thể nói , bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư nào đó , giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư . Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá 2.2. Đặc điểm - Đƣợc đặc trƣng bởi hình thức tài chính trực tiếp và ngƣời cần vốn, ngƣời cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia vào thị trƣờng và giữa họ không có trung gian tài chính. - Đặc điểm của thị trường chứng khoán cơ bản là một thị trƣờng liên tục. Sau khi các chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp. Nó có thể đƣợc mua đi bán lại nhiều lần ở thị trƣờng thứ cấp. Thị trƣờng chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tƣ có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào mà họ muốn. 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2