intTypePromotion=1
ADSENSE

Giáo trình Phát triển mạng lưới khuyến nông (Nghề: Khuyến nông lâm) - Trường Cao Đẳng Lào Cai

Chia sẻ: Chuheo Dethuong25 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:92

11
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

(NB) Giáo trình Phát triển mạng lưới khuyến nông gồm có 4 bài: Tổ chức tổ hợp tác, các liên kết sản xuất; Tổ chức nhóm sở thích; Hỗ trợ tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích hoạt động; Tìm kiếm nông dân điển hình và nhân rộng các mô hình nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phát triển mạng lưới khuyến nông (Nghề: Khuyến nông lâm) - Trường Cao Đẳng Lào Cai

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI BÀI GIẢNG MÔ ĐUN: PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI KHUYẾN NÔNG NGHỀ: KHUYẾN NÔNG LÂM TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG Lào Cai, năm 2017
  2. TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nội bộ phục vụ công tác giảng dạy và đào tạo hệ cao đẳng nghề Khuyến Nông lâm. Các nội dung trong giáo trình có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích để đào tạo hệ trung cấp, sơ cấp nghề Khuyến nông lâm và đào tạo nghề cho nông dân. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
  3. LỜI GIỚI THIỆU Giáo trình nội bộ Phát triển các liên kết sản xuất, nhóm sở thích, tổ hợp tác sản xuất được biên soạn trên cơ sở chương trình khung Cao đẳng nghề khuyến nông lâm do Trường Cao đẳng Lào Cai ban hành. Trong quá trình biên soạn, chúng tôi có tham khảo, chỉnh sửa, bổ sung nhiều tài liệu của các trường dạy nghề, các tài liệu thuộc dự án trong và ngoài nước trong những năm qua. Giáo trình Phát triển các liên kết sản xuất, nhóm sở thích, tổ hợp tác sản xuất sẽ cung cấp cho người học nghề những kiến thức, kỹ năng cần có để có thể xây dựng, phát triển mạng lưới các liên kết sản xuất, nhóm sở thích, tổ hợp tác sản xuất ở các địa phương; tìm kiếm nông dân điển hình, làm kinh tế giỏi để tuyên truyền, áp dụng và nhân rộng trên địa bàn và kỹ năng tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân. Trong khi biên soạn, chúng tôi cố gắng chắt lọc lượng kiến thức phù hợp nhất với các đối tượng học nghề, có gắn kết lý luận với thực tiễn và chuyển giao khoa học kỹ thuật, mô hình kinh tế tiêu biểu cho học sinh, sinh viên và phục vụ đào tạo nghề cho nông dân. Giáo trình gồm có 4 bài: Bài 1: Tổ chức tổ hợp tác, các liên kếtc sản xuất Bài 2: Tổ chức nhóm sở thích Bài 3: Hỗ trợ tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích hoạt động Bài 4: Tìm kiếm nông dân điển hình và nhân rộng các mô hình nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi Đây là cuốn giáo trình nội bộ được biên soạn công phu, nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và các độc giả. Xin chân thành cảm ơn Ngày tháng 6 năm 2017 Tham gia biên soạn Chủ biên: Đỗ Bích Nga
  4. MỤC LỤC Trang Tuyên bố bản quyền 2 Lời giới thiệu 3 Vị trí, tích chất, ý nghĩa, vai trò của mô đun 8 Mục tiêu của mô đun Nội dung của mô đun Bài 1: Tổ chức tổ hợp tác, các liên kết sản xuất 8 Giới thiệu Mục tiêu của bài Nội dung chính 1. Tổ hợp tác, các liên kết sản xuất 9 1.1. Khái niệm tổ hợp tác 9 1.2. Các hình thức liên kết sản xuất 9 1.2.1. Liên kết bốn nhà trong nông nghiệp 1.2.1. Các điển hình liên kết sản xuất tại Lào Cai 13 1.3. Mục đích, ý nghĩa của tổ hợp tác 1.3.1. Mục đích, ý nghĩa 16 1.3.2. Quyền của tổ hợp tác 18 1.3.3. Các loại hình phổ biến của tổ hợp tác 1.3.4. Phân biệt sự khác nhau giữa tổ hợp tác, nhóm sở thích và HTX 18 1.4. Nguyên tắc hoạt động 20 1.5. Vị trí, cơ cấu tổ chức của tổ hợp tác sản xuất trong hoạt động khuyến nông lâm 1.6. Tổ chức tổ hợp tác sản xuất 21 1.6.1. Thành lập tổ hợp tác 1.6.2. Điều kiện, thủ tục kết nạp tổ viên tổ hợp tác 23 1.7. Các yêu cầu để hình thành và phát triển tổ hợp tác sản xuất 1.8. Xây dựng quy chế hoạt động 23 2. Trình tự và cách thức tổ chức tổ hợp tác 2.1. Trình tự thành lập tổ hợp tác sản xuất 2.2. Hoạt động của tổ hợp tác 25 2.3. Điều hành tổ hợp tác 2.4. Trách nhiệm của tổ trưởng và ban điều hành tổ hợp tác 2.5. Đại diện của tổ hợp tác 2.6. Công tác tài chính – kế toán của tổ hợp tác 26 2.7. Phân phối hoa lợi, lợi tức và xử lý lỗ 3. Nội dung thực hành: Xây dựng kế hoạch tổ chức tổ hợp tác sản xuất và
  5. bản Quy chế hoạt động của tổ hợp tác sản xuất Bài 2: Tổ chức nhóm sở thích 28 Giới thiệu Mục tiêu của bài Nội dung chính 1. Nhóm sở thích 1.1. Khái niệm về Nhóm và Nhóm sở thích 1.2. Mục đích thành lập nhóm 30 1.3. Nguyên tắc hoạt động nhóm 1.4. Các yếu tố hình thành nhóm 1.5. Sự cần thiết thành lập nhóm 31 1.6. Hình thành và phát triển nhóm 32 1.7. Vận động thành lập nhóm cùng sở thích 34 1.8. Yếu tố tạo nên tính bền vững của nhóm 2. Trình tự tổ chức nhóm sở thích 2.1. Xây dựng ý tưởng thành lập nhóm 2.2. Tuyên truyền đến cộng đồng và đăng ký tham gia nhóm 35 2.3. Xây dựng tổ chức nhóm 36 2.4. Lập kế hoạch hoạt động của nhóm 37 3. Quản lý, điều hành nhóm cùng sở thích 3.1. Quản lý tiền và tài sản của nhóm 38 3.2. Theo dõi đánh giá nhóm 39 3.3. Báo cáo kết quả hoạt động nhóm 4. Trình tự và cách thức tổ chức nhóm sở thích 40 5. Những nguyên tắc giúp bạn cải thiện kỹ năng làm theo việc nhóm 41 5.1. Kỹ năng tổ chức các hoạt động của nhóm 5.2. Kỹ năng giao tiếp 42 5.3. Kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân 6. Yêu cầu cán bộ khuyến nông tổ chức hoạt động trong nhóm sở thích 44 7. Khó khăn trong việc tổ chức hoạt động nhóm 8. Nội dung thực hành: Thảo luận về trình tự và cách thức tổ chức nhóm sở 45 thích. Bài 3: Hỗ trợ tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích hoạt động 47 Giới thiệu Mục tiêu của bài Nội dung chính 1. Sự cần thiết phải hỗ trợ tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích 2. Trình tự và cách thức hỗ trợ tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích hoạt động 2.1. Hướng dẫn xác định các nhu cầu của tổ hợp tác , nhóm sở thích
  6. 2.2. Xác định thứ tự ưu tiên các nhu cầu 48 2.3. Xây dựng kế hoạch hoạt động, kế hoạch sản xuất theo hợp đồng tiêu thụ hoặc định hướng của thị trường 2.4. Hướng dẫn triển khai các hoạt động 2.5. Hướng dẫn theo dõi các hoạt động 2.6. Hướng dẫn phương pháp đánh giá các hoạt động 49 2.7. Hướng dẫn cách thức mở rộng quy mô, chất lượng tổ hợp tác sản 50 xuất, nhóm sở thích 2.8. Kỹ năng tổ chức họp nhóm 2.8.1. Tại sao cần tổ chức họp nhóm 2.8.2. Lý do để tổ chức cuộc họp nhóm 51 2.8.3. Chuẩn bị tổ chức cuộc họp 2.8.4. Tiến trình tổ chức cuộc họp nhóm 2.9. Kỹ năng điều hành thảo luận 2.9.1. Vai trò của người điều hành thảo luận 2.9.2. Những lỗi người điều hành thường mắc phải 52 2.9.3. Cách khắc phục những lỗi điều hành thảo luận 2.9.4. Kỹ năng ra quyết định trong nhóm 3. Kỹ năng tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản 53 3.1. Thị trường 3.1.1. Khái niệm về thị trường 3.1.2. Chức năng của thị trường 54 3.1.3. Đánh giá nhu cầu thị trường 3.1.4. Mục đích của việc thăm dò thị trường 3.1.5. Các phương pháp nghiên cứu thị trường 3.2. Những đánh giá chung về thị trường xuất khẩu, tiêu thụ nông sản 55 3.3.Các đề xuất nhằm thúc đẩy, phát triển thị trường tiêu thụ nông, sản. 56 3.3.1. Nâng cao chất lượng nông sản và hoàn thiện quy cách, mẫu mã, nhãn hiệu hàng hóa, tem điện tử truy xuất nguồn gốc điện tử hàng hóa. 3.3.2. Phát triển công nghệ chế biến, bảo quản nông sản 60 3.3.3. Tổ chức quy hoạch sản xuất, bố trí sản xuất tập trung, chuyên 61 môn hoá, đa dạng hoá các sản phẩm. 3.3.4. Nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng 63 3.3.5. Những giải pháp để đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ 64 nông sản một cách bền vững 4. Nội dung thực hành 65 + Thảo luận, xây dựng kế hoạch hỗ trợ tổ hợp tác, nhóm sở thích hoạt động + Thăm quan các tổ hợp tác, nhóm sở thích và các liên kết sản xuất trên địa bàn Lào Cai Bài 4: Tìm kiếm nông dân điển hình và nhân rộng các mô hình nông dân sản
  7. xuất – kinh doanh giỏi 67 Giới thiệu Mục tiêu của bài Nội dung chính 67 1. Các tiêu chuẩn lựa chọn nông dân điển hình 2. Trình tự và cách thức tìm kiếm nông dân điển hình 3. Triển khai mô hình sản xuất ra diện rộng 68 3.1. Mục đích 3.2. Nguyên tắc 4. Những mô hình nông dân điển hình sản xuất, kinh doanh giỏi 4.1. Tôn vinh những mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2012- 2017 4.2. Những mô hình nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tại Lào Cai 69 4.3. Các mô hình làm kinh tế giỏi điển hình trên cả nước 74 5. Nội dung thực hành: Phương pháp nhân rộng mô hình nông dân điển hình 90 Tài liệu tham khảo 91
  8. GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN Tên mô đun: Phát triển các liên kết sản xuất, nhóm sở thích, tổ hợp tác sản xuất Mã mô đun: MĐ 33 Vị trí, tính chất, ý nghĩa, vai trò của mô đun - Vị trí: Phát triển các liên kết sản xuất, nhóm sở thích, tổ hợp tác sản xuất là mô đun tự chọn trong các môn học, mô đun chuyên môn nghề trong chương trình đào tạo hệ Cao đẳng nghề Khuyến Nông lâm. - Tính chất: Mô đun có liên quan với các môn học/mô đun: Tâm lý học khuyến nông, Khuyến nông lâm, Khuyến nông, Quản lý kinh tế hộ, Đào tạo và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, Xây dựng mô hình trình diễn. - Ý nghĩa, vai trò: Giúp cho người học vận dụng kiến thức, kỹ năng trong việc xây dựng, quản lý, tổ chức các hoạt động của các liên kết sản xuất, nhóm sở thích, tổ hợp tác sản xuất, tìm kiếm nông dân điển hình, tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản để tuyên truyền, nhân rộng góp phần chuyển giao những ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực phát triển kinh tế gia đình, phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu của mô đun - Về kiến thức: Trình bày được những kiến thức cơ bản về tổ chức các tổ hợp tác, các liên kết sản xuất, nhóm sở thích; hỗ trợ các tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích hoạt động; tìm kiếm nông dân điển hình; tìm kiến thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân. - Về kỹ năng: Vận dụng nội dung được học để thành lập và tổ chức hoạt động cho tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích tại địa phương. - Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Người học có thể tự vận động thành lập tổ hợp tác sản xuất, các liên kết sản xuất, nhóm sở thích để giúp nhau phát triển kinh tế gia đình và góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn ở địa phương. Rèn luyện tính say mê, nghiêm túc, tự giác trong học tập và rèn luyện kỹ năng. Trong quá trình giảng dạy và học tập mô đun giáo viên nêu vấn đề, người học chủ động lĩnh hội kiến thức và vận dụng ngay vào tình hình thực tế ở địa phương nơi mình sinh sống. Nội dung của mô đun Bài 1: TỔ CHỨC TỔ HỢP TÁC, CÁC LIÊN KẾT SẢN XUẤT Mã bài: 01 Giới thiệu Bài tổ chức tổ hợp tác, các liên kết sản xuất giảng dạy 19 giờ. Trong đó có 10 giờ lý thuyết, 8 giờ thảo luận, làm bài tập, 1 giờ kiểm tra. Bài giảng giúp cho người học những kiến thức để có thể vận động thành lập các tổ hợp tác sản xuất, các liên kết sản xuất; cách thức tổ chức các hoạt động của tổ hợp tác sản xuất để góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở các địa phương. Mục tiêu - Trình bày được khái niệm, mục đích, ý nghĩa, trình tự, cách thức, nội dung tổ chức các hoạt động của tổ hợp tác, các liên kết sản xuất; - Áp dụng các kiến thức được học để vận dụng thành lập và tổ chức hoạt động của tổ hợp tác
  9. sản xuất ở cơ sở. - Rèn luyện nâng cao ý thức trách nhiệm của người học để ra trường có thể tham gia công tác xã hội ở địa phương. Nội dung chính 1. Tổ hợp tác, các liên kết sản xuất 1.1. Khái niệm tổ hợp tác - Căn cứ vào điều 111 Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định số:151/2017/NĐ- CP ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác thì pháp luật quy định về tổ hợp tác như sau: "Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”. Tổ hợp tác có đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp luật thì có thể đăng ký hoạt động với tư Hình 01: Mô hình tổ hợp tác sản xuất cách pháp nhân tại cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền. Theo quy định trên thì tổ hợp tác là một chủ thể trong pháp luật dân sự, khi tổ hợp tác có đủ các điều kiện trở thành pháp nhân được quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005: - Được thành lập hợp pháp; - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; - Có tài sản độc lập với cá nhân tổ chức và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; - Nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập Thì tổ hợp tác có thể đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân tại có quan có thẩm quyền.Có thể đăng ký thành hợp tác xã hoặc một trong các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh ngiệp năm 2005. 1.2. Các hình thức liên kết trong sản xuất 1.2.1. Liên kết bốn nhà trong nông nghiệp Liên kết “4 nhà" là xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Trong thời mở cửa và hội nhập, yêu cầu cơ bản để nông sản có sức cạnh tranh là sản phẩm phải sạch, ngon, số lượng lớn, giá rẻ và có chiến lược thị trường tốt. Cái gốc rễ của vấn đề là từ khâu quy hoạch, nơi nào trồng cây gì cho phù hợp, ai đảm trách cung ứng giống tốt, liên kết và hỗ trợ nhau giữa nông dân và doanh nghiệp như thế nào? Vì vậy trong sản xuất nông nghiệp hiện nay rất cần sự “Liên kết 4 nhà” gồm: Nhà nông - nhà nước - nhà khoa học và nhà doanh nghiệp. + Nông dân liên kết với nông dân
  10. Thời kỳ cạnh tranh kinh tế thị trường cần phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế; giao hàng đúng lúc, giá thành cạnh tranh. Nông dân cá thể không thể làm được điều này. Nông dân phải tổ chức được "hành động tập thể" theo quy trình sản xuất chung theo từng cánh đồng lớn. Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại của nông dân được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng hàng hóa… Đây chính là các yếu tố để nông dân xây dựng hành động tập thể. Hàng hóa nông sản cần được xác định rõ về số lượng, chất lượng đối với từng thị trường để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm nông sản trong sản xuất. Yêu cầu chất lượng của thị trường phải làm căn cứ cơ bản để xây dựng quy trình kỹ thuật cho các mô hình liên kết. Nông dân liên kết lại bằng cách vào tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX). Liên kết giữa nông dân với nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn. Chỉ như vậy, nông dân mới có thể cung cấp sản phẩm đủ lớn về số lượng, đồng đều về chất lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác. Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, quản lý về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng. Đối với nhà nông, đa số nông dân vẫn còn quen với phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chậm tiếp cận thông tin thị trường, chưa hoàn toàn gạt bỏ được tư tưởng ham lợi trước mắt và khó tính toán được chiến lược lâu dài thiết kế web. Đồng thời một bộ phận nông dân còn hạn chế trong nhận thức về trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật nên họ rất dễ vi phạm hợp đồng trong quá trình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhiều hộ nông dân mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tư ứng trước của doanh nghiệp, nhưng khi giá nông sản trên thị trường lên cao thì lại sẵn sàng bán cho tư thương hoặc doanh nghiệp khác để hưởng giá cao hơn. Hình 02: Kết nối thương nhân + Liên kết nông dân với doanh với tổ hợp tác nghiệp Xây dựng mối liên kết này về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn. Hiện tại, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp thu gom nông sản thô, hoặc sơ chế đóng gói. Có nghĩa là ngay bản thân các doanh nghiệp cũng không tiếp cận tới được người tiêu dùng thông qua thương hiệu của mình. Vì vậy, kinh doanh của doanh nghiệp chỉ mang tính
  11. thời vụ, không ổn định. Những doanh nghiệp này cũng không thể liên kết với nông dân được. Họ không có các yếu tố ổn định để liên kết với nông dân về chất lượng, cung ứng và chia sẻ rủi ro. Do vậy, xây dựng cánh đồng lớn, nông dân chỉ nên liên kết với những doanh nghiệp có khả năng chế biến sâu, bán sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu đến người tiêu dùng thông qua các hệ thống phân phối trong và ngoài nước; hoặc liên kết với những doanh nghiệp chứng minh được họ đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hàng hóa nào đó trong các khía cạnh về chất lượng, thương hiệu, rủi ro… Chất kết dính" giữa doanh nghiệp và nông dân là: Ngoài việc đầu tư đầu vào, đảm bảo đầu ra, một trong những mấu chốt gắn kết thành công với nông dân là "Đặt lợi ích của nông dân lên trên lợi ích của công ty là cách hiệu quả nhất để nông dân gắn bó lâu dài với doanh nghiệp", trong đó doanh nghiệp là người mua, nông dân là người bán sản phẩm. Nhưng quan hệ mua bán này không phải là giao dịch mang tính thời vụ mà nó được thực hiện trên cơ sở các yếu tố liên kết hữu cơ giữa doanh nghiệp và nông dân. Trên cơ sở liên kết ngang, sẽ có một lượng nông dân nhất định cùng tổ chức thực hiện sản xuất theo cánh đồng lớn, có sự hợp tác với doanh nghiệp là động lực để nông dân hành động tập thể trong xây dựng cánh đồng lớn. Những yếu tố liên kết ngang của nông dân đều bắt nguồn từ yêu cầu thị trường, thực chất cũng là cơ sở để hình thành các liên kết dọc với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, cung ứng, quản trị chuỗi, quản lý thương hiệu sản phẩm. Chất lượng, số lượng, giá thành sản phẩm đưa ra thị trường được doanh nghiệp và nông dân cùng liên kết thực hiện đồng nhất, có quản trị từ khâu sản xuất đến khâu phân phối đến tay người tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp, là "đầu tàu", là động cơ của mối liên kết. Doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng liên kết "3 nhà" còn lại để hình thành vùng nguyên liệu sản xuất; hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm cho nông dân; từng bước tiến tới xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp đang còn ngần ngại đầu tư cho sản xuất, kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp do vốn đầu tư lớn nhưng lại rủi ro cao và thu hồi chậm. Khi gặp rủi ro do thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng khác, nông dân không trả được nợ cho doanh nghiệp, nếu các doanh nghiệp phải vay vốn sẽ kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng lãi suất vốn vay, giá thành sản phẩm chế biến tăng, ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt Hình 03: Diễn đàn về chuyên đề động và tài chính. Mặt khác khi xảy ra liên kết sản xuất chanh chấp, chưa có hành lang pháp lý phù hợp để hỗ trợ giải quyết rõ ràng, phân minh trách nhiệm và quyền lợi. + Liên kết với các nhà khoa học: Các nhà khoa học có vai trò quan trọng trong việc tạo “đầu vào” có chất lượng cao, giảm giá thành nhờ công nghệ… nhưng hiện nay việc liên kết với các “nhà” còn lại còn lúng túng và hiệu quả chưa cao. Nhất là việc liên kết với người
  12. nông dân để “xã hội hóa” các công nghệ hiệu quả. + Vai trò của nhà nước: Nhà nước, là nhạc trưởng để tạo ra một hành lang pháp lý phù hợp, đảm bảo cho sự liên kết 3 nhà còn lại chặt chẽ và hiệu quả. Cần có những cơ chế hợp lý trong việc giải quyết tranh chấp trong liên kết giữa các nhà, đặc biệt là hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông dịch vụ công trực tuyến là gì. Cần có một chế tài phù hợp để hỗ trợ giải quyết tranh chấp hợp đồng thu mua giữa doanh nghiệp và người sản xuất. Đối với những trường hợp thiệt hại do các nguyên nhân bất khả kháng, cần có chính sách cụ thể để hỗ trợ thiệt hại cho các bên tham gia liên kết. Hiện nay với nông sản, nếu có sự liên kết tốt thì thay vì bán sản phẩm thô dưới dạng nguyên liệu chúng ta nên tìm cách chế biến và bảo quản để tạo thế quân bình giữa cung - cầu, đồng thời điều chỉnh được giá bán. Ngược lại, khi sức mua giảm, phải có những biện pháp tiếp thị để kích cầu thị trường. Để mô hình liên kết 4 nhà hiệu quả, thời gian tới cần có các chính sách miễn thuế kết hợp lồng ghép các dự án, chương trình phát triển, hoặc vay vốn với nhiều ưu đãi, đào tạo cán bộ nguồn có chất lượng, sản xuất nông nghiệp hướng tới ứng dụng công nghệ cao và bền vững. Có thể khẳng định: Có bốn điều kiện tiên quyết để làm nên cuộc cách mạng ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp: thứ nhất là phải có doanh nghiệp có đủ ba yếu tố tâm - trí - lực, xác định không tối ưu hóa lợi nhuận mà phải hợp lý hóa lợi ích; thứ hai, phải có nguồn lực đất đai đủ lớn; Thứ ba, phải lựa chọn công nghệ đúng; thứ tư, phải có sự ủng hộ và vào cuộc tích cực của nhân dân. Như vậy, xu thế phát triển tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại và bền vững là xây dựng thành công mô hình liên kết 4 nhà “Nhà nông - Nhà nước - Nhà khoa học và nhà doanh nghiệp”. Bởi suy cho cùng, nếu liên kết chặt chẽ, tất cả các bên đều có lợi. + Điều kiện "cần và đủ" Trong các mô hình liên kết, liên kết giữa nông dân và nông dân, nông dân và doanh nghiệp chưa thể hình thành nên một mô hình phát triển ổn định và bền vững. Ở đây còn có rất nhiều mắt xích trong chuỗi sản xuất nông sản liên kết lại với nhau để hình thành nên mối liên kết "4 nhà": Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và doanh nghiệp. Liên kết "4 nhà" để đáp ứng các điều kiện cần và đủ xây dựng nền nông nghiệp hiện đại. - Các điều kiện "cần" gồm: Cần có sự nhận thức, chỉ đạo thống nhất của các cấp lãnh đạo từ chính phủ, các bộ ngành đến các địa phương. Cần có liên kết "4 nhà" mà nhà doanh nghiệp là hạt nhân và chính là mắt xích quan trọng nhất trong chuỗi liên kết. Cần tuyên truyền, vận động, giải thích, nâng cao nhận thức của nông dân về lợi ích khi tham gia liên kết sản xuất. Cần có các doanh nghiệp đủ tầm, đủ năng lực và tâm huyết để tham gia vào mô hình liên kết và rất cần sự đóng góp công sức, trí tuệ, kinh nghiệm của các nhà khoa học… - Các điều kiện đủ, gồm: Phải có đủ diện tích sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí cánh đồng lớn. Phải có đủ 4 nhà cùng thực hiện liên kết nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các hợp đồng sản xuất. Trong đó, chủ yếu là nhà doanh nghiệp và nhà nông cùng thực hiện trong 1 dự án – có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách của nhà nước và sự hỗ trợ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành sản phẩm hạ… của nhà khoa học. Bên cạnh đó, phải có đủ máy móc, kho bãi phục vụ chăm sóc, thu hoạch phù hợp với quy mô diện tích, sản lượng của từng cánh đồng liên kết. + Đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết với người sản xuất trong nông nghiệp - Việt Nam rất cần thúc đẩy các
  13. chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu và sản xuất các loại rau quả bản địa là thế mạnh của Việt Nam và có khả năng xuất khẩu; ưu tiên phát triển các doanh nghiệp mạnh có khả năng đảm bảo tiêu thụ nông sản bền vững, hoạt động trong lĩnh vực rau, hoa quả thúc đẩy liên kết với nông dân trong lĩnh vực này. - Đẩy mạnh xây dựng chính sách tích tụ ruộng đất là cơ sở thúc đẩy doanh nghiệp liên kết nông dân -. Ngoài việc đa dạng hoá sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp, tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hoá. Việt Nam cần chính sách ưu tiên chế biến và đẩy mạnh sự hiện diện của nông sản và sản phẩm chế biến nông sản của Việt Nam ra thị trường thế giới, khai thác tối đa lợi thế khí hậu, vùng miền và bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng của Việt Nam. - Việc thiếu gắn kết của nhà khoa học trong chuỗi sản xuất của Việt Nam một phần là do thực trạng KH&CN của Việt Nam nói chung và KH&CN trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn mới nói riêng đang tồn tại vấn đề là hệ thống nghiên cứu công lập quá lớn và trùng nhau về lĩnh vực nghiên cứu. Vì vậy, cần có chính sách từng bước tái cơ cấu hệ thống KH&CN và đổi mới sáng tạo hiệu quả hơn; ưu tiên đầu tư trọng điểm cho các cơ sở nghiên cứu mạnh, có năng lực. Đồng thời có những chính sách ưu tiên doanh nghiệp tham gia cùng đầu tư ở các cơ sở nghiên cứu khoa học để phát triển công nghệ mà thị trường yêu cầu. - Việt Nam chưa có chính sách và chương trình rõ rệt phục vụ việc đào tạo nguồn nhân lực KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới một cách bền vững. Hệ thống đào tạo phục vụ nông nghiệp, nông thôn hiện nay được xem là nặng về lý thuyết, thiếu thực tiễn và không đáp ứng tốt được nhu cầu ngay cả thị trường trong nước, thị trường thế giới còn rất xa vời nên rất cần đầu tư trọng điểm cho một số trường đại học, viện nghiên cứu có năng lực để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. - Cần quy định cụ thể hơn về các mô hình liên kết trong lĩnh vực trồng trọt (cánh đồng lớn), thủy sản, chăn nuôi, và trồng rừng tập trung. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ đa dạng hơn như các chính sách chung là hỗ trợ phát triển cơ sở phát triển kết cấu hạ tầng cho cánh đồng lớn, chính sách tín dụng, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, đăng ký chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp. 1.2.2. Các điển hình liên kết sản xuất tại Lào Cai Những năm qua, sản xuất nông nghiệp trong tỉnh Lào Cai được đẩy mạnh, phát triển theo hướng hàng hóa, đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung. Các hình thức liên kết trong sản xuất từng bước hình thành đã mang lại hiệu quả khá cao. Đến nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai có trên 28 công ty, doanh nghiệp và 17 HTX tham
  14. gia liên kết sản xuất như: liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè; liên kết tiêu thụ gỗ rừng trồng; liên kết tiêu thụ dược liệu; liên kết tiêu thụ rau, hoa; lúa gạo, ngô, sắn, dong riềng, ớt; chuối, dứa và liên kết trong chăn nuôi... Trong đó, có 6 HTX tham gia liên kết sản xuất với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích liên kết là 419ha, sản lượng liên kết tiêu thụ 3.015 tấn; 20 doanh nghiệp liên kết với các hộ dân, gồm 14 doanh nghiệp liên kết sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, 03 doanh nghiệp liên kết trong lĩnh vực chăn nuôi, 03 doanh nghiệp liên kết sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Có thể điểm lại một số chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nổi bật: Chuỗi lúa gạo: Trung tâm Khuyến nông Lào Cai đã thực hiện thực hiện thành công dự án “Sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng hàng hóa gắn với chế biến và thị trường” trong 6 năm thực hiện (2011- 2017) sản xuất lúa chất lượng gắn với thương hiệu được phát triển mở rộng, đạt trên 7.000ha. Trong đó thực hiện theo dự án của tỉnh trên 3000ha với các giống lúa đặc sản, chất lượng cao như: ĐS1, J01, Séng cù, Khẩu nậm xít, nếp Thẩm Dương, Hương thơm, Bắc thơm. Giá trị thu nhập và hiệu quả sản xuất tăng từ 15-20% so với sản xuất lúa thường. Hơn 11.000 tấn lúa chất lượng được tiêu thụ thuận lợi đã mang lại cho nông dân hàng trăm tỷ đồng. Thành lập được 32 tổ nhóm nông dân hỗ trợ nhau sản xuất, duy trì vùng nguyên liệu. Chuỗi gia vị: Nhận thấy lợi thế từ việc phát triển rừng và nguồn thu từ rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lào Cai đã tham mưu, đề xuất dự án chuỗi giá trị về lâm sản ngoài gỗ, thành lập được 51 nhóm nông dân sở thích về thảo quả và đã có trên 6.000 hộ nông dân tại 66 xã được hưởng lợi, có trên 4.000 hộ tăng thu nhập từ 15- 20%, gần 3.000ha rừng trồng cây gia vị (thảo quả, quế) được bảo vệ tốt hơn; góp phần tích cực trong việc thay đổi “nhận thức, cách làm” của người dân ở những vùng khó khăn trong các hoạt động sinh kế, bình đẳng giới, cải thiện, nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ thông qua thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi, đặc biệt trên 6.000 hộ trực tiếp thực hiện phát triển sản xuất thảo quả gắn với bảo vệ tài nguyên rừng. Chuỗi quế: Lào Cai có khoảng 20.000 ha trồng quế, với 2.000 hộ gia đình, chủ yếu là đồng bào Dao, Mông, có thể đạt doanh thu khoảng 110 tỷ đồng/năm (ước tính khoảng 10 triệu đồng/ha/năm). Mô hình liên kết tiêu thụ ngành hàng quế khá thuậnlợi. Sản phẩm quế vỏ được thu mua chủ yếu bởi các tư thương, đại lý nhỏ với diện tích khai thác trung bình 300-350 ha/năm. Đặc biệt, các sản phẩm vỏ quế đã qua sơ chế được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Ấn Độ, Trung Quốc. Sản phẩm tinh Hình 05 : Tham gia chuỗi liên dầu quế được tiêu thụ phần lớn tại thị trường kết sản xuất quế Trung Quốc, Mỹ, Anh, Tây Ban Nha. Lào Cai cũng đang thành công với hàng loạt chuỗi liên kết sản xuất khác như: Mô hình liên kết sản xuất cà rốt và ớt, quy mô 50 ha tại các xã thuộc huyện Bảo Yên với Công ty TNHH MTV XNK Trần Vinh với phương thức hỗ trợ kỹ thuật, ứng giống, vật tư, thuốc BVTV cho người dân và thu mua sản phẩm, giá dự kiến thu mua 5000 đồng/kg, giá
  15. trị ước đạt 12.500 triệu đồng (tổng thu nhập bình quân 250 triệu đồng/ha). Mô hình liên kết sản xuất rau đậu các loại, quy mô 105,5ha do HTX Mai Anh, HTX Gia Phú, HTX Nông nghiệp Xanh liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm, giá trị ước đạt 5.250 triệu đồng (50 triệu đồng/ha). Mô hình sản xuất đậu cô ve, quy mô 7,5ha/72 hộ tại xã Quang Kim, xã Bản Qua (huyện Bát Xát) do Doanh nghiệp XNK Trường Thành và Doanh nghiệp tư nhân Vi Thị Hạnh đầu tư liên kết, năng suất ước đạt 18 tấn/ha, sản lượng 135 tấn, giá trị ước đạt 675 triệu đồng (100 triệu đồng/ha). Chuỗi liên kết sản xuất củ cải ngọt, quy mô 05 ha tại xã Mường Vi (huyện Bát Xát), xã Bảo Hà (huyện Bảo Yên) do Công ty TNHH MTV XNK Trần Vinh liên kết sản xuất, năng suất ước 20 tấn/ha, sản lượng ước 100 tấn, giá trị ước 400 triệu đồng (80 triệu đồng/ha). Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ ý dĩ, đương quy của Công ty Tâm Phát Green liên kết với nhóm đồng sở thích trên địa bàn huyện Si Ma Cai. Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm atiso của Công ty TNHH MTV Traphaco Sa Pa với quy mô 65 ha. Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ khoảng trên 20 loài dược liệu của Công ty CP Dược Việt Nam với hai huyện Bắc Hà và Bát Xát. Những hạn chế: Bên cạnh kết quả đạt được, việc liên kết sản xuất theo chuỗi đầu ra cho nông sản tại tỉnh Lào Cai vẫn còn một số tồn tại: Các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vẫn còn ở quy mô nhỏ. Sự liên kết giữa doanh nghiệp, HTX, THT, trang trại và nông dân còn lỏng lẻo, chưa gắn kết được lợi ích và trách nhiệm của các bên với nhau. Nhiều hộ nông dân chưa quen với việc sản xuất theo hợp đồng, chưa tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn sản xuất hàng hóa, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà chưa thấy được lợi ích lâu dài về sản xuất, tiêu thụ ổn định. Các doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm trong liên kết sản xuất; hợp đồng liên kết thiếu chặt chẽ và tính pháp lý không cao; doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm hỗ trợ kỹ thuật, thường xuyên giám sát tình hình sản xuất tại các vùng liên kết. Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; thiếu vốn; tập quán canh tác lạc hậu; tư duy kinh tế hộ; thiếu kinh nghiệm sản xuất, đặt biệt là năng lực quản lý kinh tế hộ, kinh tế tập thể của nông dân, các tổ, nhóm HTX cũng ảnh hưởng rất lớn đến các mô hình liên kết. Nguyên nhân chính là do công tác tuyên truyền triển khai các chính sách về liên kết sản xuất ở một số địa phương còn mang tính khẩu hiệu, hình thức và chưa thường xuyên. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức đại diện nông dân và nông dân chưa được hài hòa giữa nhu cầu và lợi ích. Sự chia sẻ lợi nhuận chưa thực sự tương xứng với vai trò đóng góp của các bên tham gia trong chuỗi liên kết. Nông dân luôn ở thế bị động, vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra hoàn toàn bị phụ thuộc. Giá đầu vào còn cao so với mặt bằng chung của thị trường, giá thu mua đầu ra cho sản phẩm thường chưa theo giá thị trường. Một số doanh nghiệp chưa tạo được sự tin tưởng, làm chỗ dựa vững chắc đối với nông dân, tổ chức đại diện của nông dân. Một số bộ phận các hộ dân chủ yếu vì lợi ích trước mắt thường bán sản phẩm ra bên ngoài khi có thương lái mua với giá cao hơn doanh nghiệp (phá hợp đồng ký kết) dẫn đến khi thương lái không thu mua thì không bán được sản phẩm do đó liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ thường bị phá vỡ và thiếu bền vững. Các chính sách hỗ trợ, khuyến
  16. khích phát triển kinh tế hợp tác như chính sách tích tụ đất đại, hỗ trợ khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại thị trường đã triển khai thực hiện nhưng nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế. Chưa có chế tài cụ thể nên khó xử lý khi xảy ra vi phạm hợp đồng liên kết giữa các bên tham gia. Thời gian tới, Lào Cai sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chính sách về kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển hợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh. Huy động, lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án; kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc tham gia quản lý, kiểm tra và giám sát thực hiện hợp đồng giữa các bên liên quan. Chuyển dần các nguồn đầu tư hỗ trợ sản xuất (các hình thức hỗ trợ truyền thống hiện nay) sang hỗ trợ sản phẩm để người nông dân không chỉ sản xuất ra nông sản mà còn trực tiếp tham gia sản xuất ra sản phẩm để phần giá trị gia tăng thuộc về phía người dân. Đẩy mạnh đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, gắn đào tạo nghề với nhu cầu lao động của các liên doanh, liên kết thông qua các mô hình sản xuất tiên tiến; nâng cao năng lực, kỹ năng cho người sản nông lâm nghiệp, kỹ năng kinh doanh và tiếp cận thị trường. Tăng cường sự tham gia của nông dân trong chuỗi giá trị sản phẩm, quan điểm và cách tiếp cận mới trong kinh tế thị trường là tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm, trong đó bảo đảm sự phối hợp và chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân tham gia ở các khâu sản suất - thu gom - chế biến - phân phối sản phẩm. Phát triển mạnh mẽ thương mại nông thôn, hình thành mạng lưới kinh doanh cá nhân, HTX thương mại, doanh nghiệp sản xuất - chế biến ở nông thôn; tổ chức mạng lưới kinh doanh theo từng ngành hàng như nông sản, vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ thành lập các mô hình điểm về kinh tế hợp tác, liên kết “4 nhà” để tạo mối liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất và tiêu thụ, tạo đầu ra ổn định. Củng cố xây dựng các điểm thu gom, sơ chế và bảo quản, chế biến. 1.3. Mục đích, ý nghĩa của tổ hợp tác sản xuất 1.3.1. Mục đích, ý nghĩa - Tạo đầu mối để nông dân giúp nhau trao đổi kinh nghiệm, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, phát triển sản xuất, tổ chức đời sống, xây dựng nông thôn mới và là một kênh để chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho người dân. - Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, về quy chế tham gia của người nghèo trong tiến trình phát triển cho dân. - Xây dựng mô hình điển hình tại các vùng dân cư để tham quan học tập, nhân rộng mô hình ra sản xuất đại trà. - Thu hút sự tham gia của cộng đồng, tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa các hộ nông dân với nhau, giúp nhau khắc phục những khó khăn trong sản xuất đời sống. Tăng cường giao lưu trao đổi lẫn nhau, cùng nhau tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. - Là nơi cung cấp dịch vụ vật tư và tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp. Nhằm tăng cường sự tranh thủ và sự giúp đỡ của khuyến nông cũng như các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội và dịch vụ trong công tác sản xuất nông nghiệp cũng như xây dựng và phát triển nông thôn mới. 1.3.2. Quyền của tổ hợp tác - Tổ hợp tác được lựa chọn ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không
  17. cấm, hoạt động không giới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi tổ hợp tác chứng thực hợp đồng hợp tác. Tổ hợp tác hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề đòi hỏi phải có Giấy phép hành nghề hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì phải tuân thủ các quy định về giấy phép hành nghề hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để mở rộng sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Được hưởng các chính sách hỗ trợ và tham gia xây dựng, thực hiện các kế hoạch, chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm và xoá đói, giảm nghèo ở địa phương. - Được mở tài khoản riêng tại ngân hàng theo quy định của pháp luật và theo cơ chế người đại diện được ghi trong hợp đồng hợp tác. - Được ký kết các hợp đồng dân sự. - Quyết định việc phân phối hoa lợi, lợi tức và xử lý các khoản lỗ của tổ hợp tác. - Các quyền khác được ghi trong hợp đồng hợp tác nhưng không trái với các quy định của pháp luật. + Về tổ viên tổ hợp tác: Tổ viên tổ hợp tác là các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Quyền và nghĩa vụ của tổ viên tổ hợp tác do các bên thỏa thuận hoặc do quy định của pháp luật ( thỏa thuận không được trái pháp luật). Tổ hợp tác có quyền giao kết hợp đồng lao động với người không phải là tổ viên để thực hiện những công việc nhất định. Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra. Tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần thiết cho tổ. Giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả tổ hợp tác. + Về tài sản của tổ hợp tác: Tài sản do các tổ viên đóng góp, cùng tạo lập và được tặng cho chung là tài sản của tổ hợp tác. Các tổ viên quản lý và sử dụng tài sản của tổ hợp tác theo phương thức thảo thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ Hình 06: Hợp tác liên kết sản xuất rau sạch viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý. + Về chấm dứt tổ hợp tác: Tổ hợp tác chấm dứt trong các trường hợp sau đây: - Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác - Mục đích của việc hợp tác đã đạt được. - Các tổ viên thảo thuận chấm dứt tổ hợp tác.
  18. Trong trường hợp chấm dứt, tổ hợp tác phải báo cáo cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đã chứng thực hợp đồng hợp tác. Tổ hợp tác chấm dứt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật quy định. Khi chấm dứt, tổ hợp tác phải thanh toán các khoản nợ của tổ; nếu tài sản của tổ không đủ để trả nợ thì phải lấy tài sản riêng của các tổ viên để thanh toán theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự 2005. Trong trường hợp các khoản nợ đã được thanh toán xong mà tài sản của tổ vẫn còn thì được chia cho các tổ viên theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ trường hợp có thoả thuận khác. 1.3.3. Các loại hình phổ biến của tổ hợp tác: Hiện tồn tại ba loại hình chủ yếu: + Theo nhu cầu, mục đích hợp tác của các thành viên - Tổ hợp tác tưới tiêu. - Tổ hợp tác tiêu thụ sản phẩm - Tổ hợp tác vay vốn - Tổ hợp tác khoa học kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm - Tổ hợp tác lao động + Phân theo hợp tác về vốn - Tổ hợp tác các thành viên tham gia góp vốn - Tổ hợp tác các thành viên không tham gia góp vốn + Phân theo lĩnh vực - Tổ hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt - Tổ hợp tác trong lĩnh vực chăn nuôi - Tổ hợp tác trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn - Tổ hợp tác quản lý và bảo vệ rừng 1.3.4. Phân biệt sự khác nhau giữa tổ hợp tác, nhóm sở thích và HTX + Mặt mạnh của tổ hợp tác - Là tổ chức kinh tế gọn nhẹ, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hộ ở vùng miền núi, nông thôn. - Là phương thức mưu sinh bền vững cho người nông dân, ai cũng có thể tham gia và cùng tựa vào nhau tìm kế sinh nhai. - Mang lại lợi ích trực tiếp cho tổ viên trong tổ, đặc biệt đối với các thành viên thiếu nguồn lực hoặc thiếu vốn. - Thủ tục gọn nhẹ. Việc thành lập tổ hợp tác dễ dàng, chỉ cần các hộ thống nhất sau đó thông qua chính quyền cấp xã - Các thành viên trong tổ hầu hết là những người chung ngành nghề, chung sở thích nên khi sát nhập với nhau sẽ tăng thêm kinh nghiệm, tăng nguồn vốn, tăng mạnh sản phẩm có chất lượng, đồng thời cũng cùng chịu trách nhiệm. - Thuận tiện trao đổi thông tin về khoa học kỹ thuật, thị trường, giá cả - Tổ hợp tác đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao mức sống của người nông dân, là phương thức mưu sinh rất bền vững mà hiện nay nông dân ở nhiều vùng đang thực hiện. + Mặt hạn chế
  19. - Phát triển tự phát. Cơ chế quản lý lỏng lẻo. Rất khó khăn về giao dịch kinh tế, vay vốn ngân hàng hoặc đầu tư phát triển kinh tế ở quy mô lớn. - Thành viên các tổ hợp tác chỉ hoạt động theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết chưa được học qua các lớp đào tạo về quản lý, hoặc kỹ thuật. + Một số nhận xét chung Qua thực tế sản xuất và cuộc sống, các hình thức tổ hợp tác và nhóm sở thích đã thu hút được sự chú ý của nhiều hộ nông dân, vì thấy có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển đa dạng ngành nghề trong nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với từng cây trồng vật nuôi, với từng ngành nghề và sản phẩm, thực sự khuyến khích cuộc chạy đua tìm phương kế sinh nhai phù hợp nhất cho người nông dân. Các tổ hợp tác, các nhóm sở thích hoạt động trên cơ sở được đảm bảo bằng tính tự nguyện, tự quyết định sự tồn tại và phát triển của mình thông qua hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Điều đáng nói ở đây là việc hình thành các tổ hợp tác, nhóm sở thích là tự nguyện, không trông chờ ỷ lại vào nguồn vốn đầu tư của nhà nước như thời bao cấp trước đây. Mặc dù họ tự đóng góp công sức và tài sản, nhưng họ chung sức tìm hướng đi tối ưu nhất, mạnh dạn đầu tư vào việc phát triển sản xuất bằng nội lực. Người dân nói chung và các thành viên trong các tổ hợp tác được trao đổi kiến thức khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào sản xuất, thu hoạch và thu nhập kinh tế được nâng lên. Từ đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa bốn nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông. Từ thực tiễn từ các địa phương, có thể rút ra được những điểm sau: - Tổ hợp tác và các nhóm sở thích kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn là những hình thức phổ biến trong thành phần kinh tế tập thể. Nó phù hợp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh, phù hợp với đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần với sự sở hữu khác nhau. Đây là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường càng gay gắt thì những người lao động riêng lẻ, các hộ Hình 07: Gian hàng trưng bày nông sản của nông dân cá thể càng có yêu cầu phải liên kết hợp tác với nhau, nếu không khó có thể tồn tại và phát triển. Các tổ hợp tác, nhóm sở thích, các liên kết sản xuất đóng vai trò rất quan trọng vào việc giải quyết giữa sản xuất nhỏ, manh mún với sản xuất hàng hoá lớn, đáp ứng được yêu cầu của CNH-HDH; là cơ sở nền tảng để hình thành các HTX, liên hiệp HTX, các doanh nghiệp, các hiệp hội trong nông nghiệp, nông thôn. Ngay trong lòng các Hợp tác xã kiểu mới thì các tổ hợp tác cũng tồn tại và là những “ vệ tinh” quan trọng làm cho sự sinh sống của HTX ngày càng lớn mạnh.
  20. - Do tính chất tự nguyện, tự chủ, tự quản, tổ hợp tác, các liên kết, nhóm sở thích không phụ thuộc quá nhiều vào các qui định như luật HTX, điều lệ HTX, không cần các quyết định về tư cách pháp nhân, nên hoạt đọng của các tổ hợp tác cũng rất linh hoạt và mềm dẻo theo quy ước của những người tham gia mà không trái với luật pháp nên hiệu quả rất cao. Khi có yêu cầu cần liên kết sản xuất, thì họ hợp tác với nhau, khi yêu cầu của các thành viên không còn tiếng nói chung, họ có thể tự giải tán mà không cần các quyết định của cấp trên. - Tổ hợp tác mang tính tự nguyện, cùng đóng góp nên tính tự chủ rất cao. Họ không cần phải ra đời hệ thống ban bệ phức tạp mà vẫn đảm bảo công việc với tính công bằng, trung thực, không bị thất thoát tài sản theo kiểu “cha chung không ai khóc”, không tham nhũng, không lợi dụng chức quyền… Tổ hợp tác, nhóm sở thích và HTX là những hình thức phổ biến của thành phần kinh tế tập thể đã phát triển rất lâu trong lòng các nước phát triển. Và ngày nay, tại các nước phát triển và đang phát triển, cùng với các loại hình HTX, tổ hợp tác đã phát triển rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội rất cao, trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tổ hợp tác với sự thông thoáng về cơ chế và tổ chức, với sự phong phú đa dạng về ngành nghề, sẽ trở thành phương thức mưu sinh bền vững nhất cho những người nông dân, không những ở vùng đồng bằng, mà còn ở cả vùng núi, vùng biển, nơi được coi là có nền kinh tế thấp và trình độ sản xuất lạc hậu nhất. Nhưng cho đến hiện nay, nhà nước chưa có Hình 08: Lễ tôn vinh HTX, một chế tài cụ thể cho các tổ hợp tác trong tổ hợp tác tiêu biểu nông nghiệp nông thôn. 1.4. Nguyên tắc hoạt động - Là tổ chức tự nguyện của nông dân dự trên nguyên tắc: Dân chủ, cùng có lợi, nông dân làm đơn gia nhập tổ hợp tác sản xuất. - Biểu quyết theo đa số. - Không hạn chế về số lượng số hộ tham gia và thường tổ chức theo qui mô thôn, bản. - Lãnh đạo tổ liên kết hợp tác sản xuất là những người nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao. Họ làm việc không có chế độ thù lao công tác được nông dân tín nhiệm. - Kinh phí hoạt động do nông dân tham gia đóng góp, do các hợp tác xã, các tổ chức đoàn thể, chính quyền, các cá nhân, các tổ chức trong nước và nước ngoài tài trợ... - Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên. 1.5. Vị trí, cơ cấu tổ chức của tổ hợp tác sản xuất, nhóm sở thích trong hoạt động khuyến nông lâm
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2