intTypePromotion=3

Kháng kháng sinh: “Căn bệnh” không có thuốc chữa trong tương lai

Chia sẻ: Ton Thi Huong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
141
lượt xem
44
download

Kháng kháng sinh: “Căn bệnh” không có thuốc chữa trong tương lai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'kháng kháng sinh: “căn bệnh” không có thuốc chữa trong tương lai', y tế - sức khoẻ, y học thường thức phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kháng kháng sinh: “Căn bệnh” không có thuốc chữa trong tương lai

  1. Kháng kháng sinh: “Căn bệnh” không có thuốc chữa trong tương lai Biện pháp hạn chế vi khuẩn kháng kháng sinh Vi khuẩn ngày càng có xu hướng kháng lại các thuốc kháng sinh ngay cả những loại kháng sinh thế hệ mới. Qua các công trình nghiên cứu ở nhiều cơ sở bệnh viện khác nhau và ở các lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam cho thấy, có rất nhiều loại vi khuẩn không những chỉ kháng lại một hay hai loại thuốc kháng sinh mà còn kháng lại nhiều thuốc kháng sinh. Vi khuẩn kháng kháng sinh có nhiều cơ chế khác nhau và cũng có nhiều nguyên nhân làm cho vi khuẩn kháng thuốc. Một số nét về kháng sinh Kháng sinh là một chất mà ở ngay nồng độ thấp Muốn biết có nên dùng kháng cũng có thể ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn. sinh hay chưa phải cho người Nguồn gốc của kháng sinh có thể từ thiên nhiên bệnh đi khám bệnh. Phải được hoặc kháng sinh có nguồn gốc từ tổng hợp hoặc bác sĩ khám bệnh khi nghi bị bán tổng hợp. Người ta chia kháng sinh thành 3 bệnh nhiễm trùng. Tuyệt đối loại, đó là kháng sinh đặc hiệu, kháng sinh phổ không tự động mua thuốc rộng và kháng sinh phổ hẹp. Kháng sinh đặc hiệu kháng sinh để dùng cho bản là các loại kháng sinh có khả năng tác động lên thân hoặc người nhà. một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn nhất định (Spectinomycin tác động lên vi khuẩn lậu). Các loại kháng sinh phổ rộng có hoạt tính đối với nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Kháng sinh phổ hẹp là các loại kháng sinh chỉ tác động lên một số vi khuẩn mà thôi. Về nguyên tắc, chỉ sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh do vi khuẩn gây nên (hoặc vi nấm), không dùng kháng sinh để điều trị bệnh do virut gây ra. Khi kháng sinh được đưa vào cơ thể có
  2. thể theo đường uống, đường tiêm, qua niêm mạc hoặc ngấm qua da nhưng dù hình thức nào đi nữa thì kháng sinh cũng tác động lên bản thân vi khuẩn để làm cho chúng ngưng hoạt động hoặc chết. Vi khuẩn kháng lại kháng sinh, vì sao? Có nhiều cơ chế kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn như vi khuẩn sản xuất ra enzym phá huỷ hoạt tính của thuốc; vi khuẩn làm thay đổi khả năng thẩm thấu của màng tế bào đối với thuốc. Thông dụng nhất là do nguồn gốc di truyền và không do di truyền của vi khuẩn. Những nguồn gốc không do di truyền như vi khuẩn không nhân lên được dẫn đến kháng thuốc hoặc những thế hệ sau của vi khuẩn có thể do quen thuốc dẫn đến kháng thuốc (yếu tố này liên quan mật thiết đến việc sử dụng kháng sinh không hợp lý do người bệnh hoặc do thầy thuốc gây ra). Kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn cũng có thể do mất điểm gắn đặc biệt dành cho thuốc trên thân vi khuẩn… Phần lớn vi khuẩn kháng thuốc là do di truyền hoặc do đột biến gen, đột biến nhiễm sắc thể, trong đó đáng quan tâm nhất là di truyền do plasmid… Một số biện pháp nhằm ngăn chặn vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh Hiện nay, vi khuẩn có xu hướng kháng lại một hoặc nhiều loại thuốc kháng sinh gọi là vi khuẩn đa đề kháng. Ví dụ như vi khuẩn tụ cầu, trong đó tụ cầu vàng (S.aureus), trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa), E.coli, lậu cầu, vi khuẩn lao, vi khuẩn lỵ (Shigella)… kháng lại rất nhiều loại kháng sinh. Việc vi khuẩn kháng lại kháng sinh và kháng lại nhiều kháng sinh trong một thời điểm, gây không ít khó khăn cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn nặng, cấp tính như nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng huyết, áp-xe phủ tạng, bệnh lao phổi, viêm đường sinh dục - tiết niệu… Để hạn chế vi khuẩn kháng thuốc, trước hết cần lưu ý là chỉ khi nào mắc bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn mới dùng thuốc kháng sinh. Hiện nay, việc tự động mua thuốc
  3. kháng sinh để dùng và việc dược tá tự do bán thuốc kháng sinh khi người mua yêu cầu là khá phổ biến, chính lý do này càng làm cho vi khuẩn kháng thuốc tăng lên. Khi đã được bác sĩ khám và kê đơn mua thuốc kháng sinh thì cần tuyệt đối tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ, không nên tự động thay đổi thuốc, thay đổi liều lượng hoặc thay đổi cách dùng thuốc khác với đơn của bác sĩ đã cho (ví dụ đổi thuốc kháng sinh hoặc dùng được vài ba hôm thấy hết sốt thì ngưng không dùng kháng sinh…). Khi bị bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn (bác sĩ đã xác định) thì bác sĩ cần cho bệnh nhân dùng một trong các loại thuốc có phổ hẹp ngay từ ban đầu, không nên cho kháng sinh phổ rộng dễ dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc. Hiện nay, ở nhiều cơ sở đã có khả năng thử nghiệm xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh (gọi là kỹ thuật kháng sinh đồ), vì vậy bác sĩ nên dựa vào kết quả đó để lựa chọn kháng sinh cho thích hợp, trong trường hợp chưa có kỹ thuật này thì nên dựa vào phác đồ điều trị của Bộ Y tế để thực hiện. Ngoài ra, bác sĩ kê đơn cũng cần dựa vào tính động học của thuốc kháng sinh, dựa vào tính chất của từng loại thuốc kháng sinh (ví dụ trẻ em không dùng những loại thuốc gì) và không nên dùng kháng sinh phổ rộng hay kháng sinh thế hệ mới ngay từ lần đầu tiên điều trị cho người bệnh. Nếu không tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này thì rất dễ làm cho vi khuẩn ngày càng kháng lại thuốc kháng sinh. Vấn đề diệt mầm bệnh vi khuẩn cũng đóng góp làm giảm sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Vì vậy, trong các cơ sở y tế cần có các biện pháp vô trùng và tiệt trùng một cách nghiêm ngặt để không cho vi khuẩn tồn tại, phát triển và lan rộng. Môi trường bệnh viện (khoa phòng, bệnh phòng, phòng mổ, phòng đẻ, phòng sơ sinh...), dụng cụ y tế, quần áo, chăn, màn dùng cho bệnh nhân luôn được vô trùng. Vô trùng và tiệt trùng trang thiết bị và dụng cụ y tế là những khâu hết sức quan trọng để tiêu diệt các loại mầm bệnh vì trong đó có vô vàn các loại vi khuẩn và vi khuẩn kháng thuốc. Vi khuẩn kháng kháng sinh: Do “kiếm” cũ đã cùn?
  4. Từ khi nhà sinh học Alexander Fleming (1881-1955) phát kiến penicillin vào năm 1928 và bào chế thành thuốc vào năm 1943, nhân loại đã hoan hỉ bởi sự huy hoàng của "kỷ nguyên kháng sinh". Tiếp sau Fleming, nhiều nhà khoa học đã nô nức chạy đua trong việc nghiên cứu, tìm tòi các chủng loại kháng sinh khác và đã có nhiều phát minh được công bố. Từ đó đến nay, con số kháng sinh được nghiên cứu đã lên tới trên 5.000 và đã có gần 1.000 loại kháng sinh bán ra trên thị trường thế giới. Nhiều loại kháng sinh cũ dần mất hiệu lực trước vi khuẩn Dần dần nhiều người dễ dàng nhận ra những kháng sinh nổi danh một thời thì nay tác dụng trị liệu đã giảm sút nhiều. Hình như các vi khuẩn gây bệnh đã có thời gian chỉnh đốn đội ngũ, rèn luyện vũ khí để chống thuốc kháng sinh khiến cho nhiều loại kháng sinh mất dần hiệu lực. Tựu trung vi khuẩn có hai miếng võ hiểm, đó là: Sự đột biến, chọn lọc tự nhiên: Đây là sự biến đổi tự nhiên xảy ra ở trong nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Các vi khuẩn đều phụ thuộc vào môi trường sống của chúng để tồn tại và phát triển, mỗi loài vi khuẩn phải có đầy đủ một bộ enzym để chiết ra các chất dinh dưỡng từ môi trường. Nếu môi trường sống bình thường bị thay đổi hay bị nhiễm độc, nhiều vi khuẩn sẽ chết vì thiếu enzym để thích nghi. Nhưng cũng có một số vi khuẩn có khả năng thích nghi với môi trường bằng cách đột biến sản sinh ra những enzym mới phù hợp với hoàn cảnh. Dưới tác dụng của một liều kháng sinh đặt vi khuẩn vào tình thế chết, đa số vi khuẩn bị tiêu diệt, nhưng cũng có một số ít thoát chết, sẽ tồn tại và phát triển theo nguyên lý chọn lọc tự nhiên của Darwin (1809-1892). Do biến đổi trong cấu trúc của ADN (sự biến đổi này xảy ra ở trong nhiễm sắc thể của vi khuẩn) sẽ làm thay đổi cấu trúc các phân tử protein hoặc enzym mà chúng tổng hợp ra. Nếu các phân tử này là đích tác dụng của một kháng sinh nào đó thì làm cho kháng sinh này
  5. không còn tác dụng nữa vì bị mất đích tác dụng. Sự đề kháng này là vững bền và vi khuẩn có thể truyền lại cho các thế hệ sau. Plasmid - "vũ khí" đặc biệt của vi khuẩn: Plasmid không có ở các sinh vật khác. Tất cả các loài vi khuẩn dù hình tròn (cầu khuẩn), hình thẳng dài (trực khuẩn), hoặc uốn éo như lò xo (xoắn khuẩn)... đều có một điểm chung: đó là một cái vỏ (màng tế bào) bên trong chứa bào tương và một nhân tế bào. Trong nhân tế bào có nhiễm sắc thể và ADN. ADN mang trong nó những tính chất di truyền cần thiết cho sự tái sinh và sự dinh dưỡng của vi khuẩn. Từ năm 1958, Jacob và Wollman thấy vi khuẩn còn có các cấu trúc ADN nằm ngoài nhân và sao chép độc lập với nhân, gọi là episom. Episom có 2 vị trí: một ở ngoài nhiễm sắc thể và một sáp nhập vào nhiễm sắc thể. Các episom không bao giờ sáp nhập vào nhiễm sắc thể được gọi là plasmid. Bản chất các plasmid này là những phân tử ADN rất nhỏ (chứa ít gen), có hình vòng (chứ không phải hình que như những nhiễm sắc thể thông thường), có kích thước chỉ 0,5 - 5% kích thước của nhiễm sắc thể thông thường, phân bố tự do trong bào tương. Sự sản sinh các enzym chống lại thuốc kháng sinh do các plasmid này phụ trách. Trong quần thể vi khuẩn, các plasmid được truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác theo kiểu bơm do thực khuẩn thể (kiểu phage) hoặc hợp nhất 2 vi khuẩn chuyển những yếu tố di truyền gen chống kháng sinh, làm số lượng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh tăng nhanh. Năm 1941, tất cả các tụ cầu khuẩn vàng (staphylococcus aureus) gây bệnh dễ bị diệt bởi kháng sinh penicillin, nhưng chỉ 3 năm sau tụ cầu khuẩn đã trở nên kháng thuốc bằng cách sản sinh ra một loại men (enzym) penicilase phân hủy phân tử penicillin. Một số vi khuẩn khác tiết ra enzym beta lactamase để chống kháng sinh ampicilin... hoặc acetyl transferase để chống với chloramphenicol. Càng ngày càng có nhiều loài vi khuẩn chống đỡ được với nhiều loại thuốc kháng sinh. Theo một thông báo của dự án điều tra tính kháng thuốc của vi khuẩn của Bộ Y tế, ở Việt Nam, S.aureus đã kháng gentamycin với tỷ lệ 51,6%, kháng norploxacin với tỷ lệ 65,7%. E.Coli đã kháng cotrrimoxazol với tỷ lệ 79,3%, kháng cloramphenicol
  6. 52,6%; P.aeruginosa kháng cefotaxim 77,3%, kháng amikacin 64,7%. Thậm chí một tài liệu nước ngoài còn cảnh báo vi khuẩn cũng đã kháng lại vancomycin, một loại kháng sinh được coi là hiệu lực nhất hiện nay chỉ dùng khi các kháng sinh vô hiệu. Cuộc chiến đang tiếp tục Binh chủng kháng sinh tuy còn đông về số lượng, nhưng sức chiến đấu ngày càng suy giảm, đó là nỗi lo không của riêng ai. Hai nhà khoa học Mỹ, Pandolph Nesse và George Williams (những người sáng lập Bộ môn y học Darwin) đã viết trong cuốn sách Tại sao chúng ta ốm như sau: "... Không bao giờ loài người có thể chiến thắng được những thực thể vi mô. Chúng ta yếu ớt hơn các loài vi khuẩn và siêu vi khuẩn rất nhiều, vì chúng có khả năng sinh sản cực kỳ nhanh. Quá trình tiến hóa của vi khuẩn trong một ngày có thể trải qua những bước phát triển mà con người cần tới hàng ngàn năm". Một báo cáo chính thức của WHO công bố giữa tháng 6/2000 cũng khẳng định, nếu không có biện pháp hiệu quả thì chỉ trong vòng 20 năm tới, không còn một thứ thuốc kháng sinh nào có hiệu lực nữa. Tuy nhiên, sự xuất hiện tính kháng sinh, chủ yếu lại là do con người đã lạm dụng kháng sinh trong điều trị và phòng bệnh, trong đó phải tính đến cả việc sử dụng kháng sinh cho gia súc chăn nuôi một cách bừa bãi. Vì vậy, sử dụng kháng sinh hợp lý luôn là một vấn đề thời sự. Do tính quyết liệt vi khuẩn chống kháng sinh, nhiều nhà khoa học đang có nhiều cố gắng tìm hiểu mật mã di truyền chống kháng sinh của vi khuẩn. Những ý kiến lạc quan nhất thì cho rằng: loài người với trí thông minh tuyệt vời sẽ hạ gục vi khuẩn. Với công nghệ sinh học phân tử hiện đại, người ta có thể tách những mẫu gọn xác định và nhận ra được những mảnh plasmid có mang yếu tố chống đối với một kháng sinh này hoặc kháng sinh khác. Những mảnh plasmid cắt nhỏ ra như thế lại có thể hàn gắn lại bằng cách bù thêm vào hai đầu. Như vậy là có thể tái tạo một plasmid từ những mảnh của nó và qua đó có thể tạo ra những plasmid kỳ dị
  7. qua việc lai tạo các ADN thuộc 2 plasmid của 2 vi khuẩn khác nhau, rồi lại ghép sản phẩm thu được vào một vi khuẩn khác. Dựa vào tính phổ biến của quy luật di truyền, người ta đã đề cập đến việc tạo ra những plasmid mới lạ từ những vi khuẩn rất khác nhau nhằm vô hiệu hóa khả năng chống kháng sinh. Mặt khác, bằng cách phóng cực to các "nhà máy" sản xuất protein của tế bào giúp hiểu rõ cơ chế phiên mã di truyền thành protein, qua đó mà hiểu được các tác dụng của nhiều loại kháng sinh và cơ sở một số kiểu kháng thuốc của vi khuẩn. Mục đích sâu rộng nhất của các điều nói trên là tìm hiểu mật mã di truyền sản xuất enzym chống các kháng sinh của vi khuẩn, để tìm cách vô hiệu hóa tính kháng thuốc hoặc để tìm ra kháng sinh mới đặc biệt có hiệu lực cao mà vi khuẩn rất khó kháng thuốc. BS. Vũ Hướng Văn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản