Khảo sát tình hình chăn nuôi lợn Vân Pa trong nông hộ miền núi tỉnh Quảng Trị

Chia sẻ: Lâm Đức Duy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
27
lượt xem
1
download

Khảo sát tình hình chăn nuôi lợn Vân Pa trong nông hộ miền núi tỉnh Quảng Trị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Khảo sát tình hình chăn nuôi lợn Vân Pa trong nông hộ miền núi tỉnh Quảng Trị trình bày: Dịch bệnh trên địa bàn nghiên cứu có xảy ra tuy nhiên các nông hộ không tiêm phòng hoặc điều trị. Thức ăn cho lợn được các nông hộ sử dụng phần lớn là thức ăn thô xanh. Các hộ nuôi lợn đều không có hố phân, chuồng nuôi hầu hết là tạm bợ, ít hộ sử dụng chuồng kiên cố,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát tình hình chăn nuôi lợn Vân Pa trong nông hộ miền núi tỉnh Quảng Trị

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN VÂN PA<br /> TRONG NÔNG HỘ MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG TRỊ<br /> NGUYỄN THỊ TƯỜNG VY<br /> Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế<br /> NGUYỄN ĐỨC HƯNG<br /> Đại học Huế<br /> TRẦN SÁNG TẠO<br /> Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế<br /> NGUYỄN VĂN HOÀ - NGUYỄN THỊ KIM CƠ - PHAN THỊ MỸ LỘC,<br /> CHU QUỐC TRUNG - NGUYỄN CÔNG HẬU - HÀ VĂN PHƯỚC,<br /> SV Khoa Sinh, Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Huế<br /> Tóm tắt: Điều tra 48 hộ ở 9 thôn thuộc 3 xã Ba Nang, A Bung, A Ngo<br /> huyện Đakrông và 22 hộ ở 9 thôn thuộc 3 xã Hướng Linh, Hướng Phòng,<br /> Hướng Tân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, kết quả cho thấy: Ở huyện<br /> Đakrông quy mô bình quân là 5,53 ± 0,19 con/hộ trong đó lợn nái là 2,39 ±<br /> 0,07, lợn con là 3,41 ± 0,29 con/hộ. Huyện Hướng Hoá quy mô bình quân là<br /> 9,50 ± 0,50 con/hộ trong đó lợn nái là 1,09 ± 0,11, lợn con là 6,54 ± 0,55<br /> con/hộ. Dịch bệnh trên địa bàn nghiên cứu có xảy ra tuy nhiên các nông hộ<br /> không tiêm phòng hoặc điều trị. Thức ăn cho lợn được các nông hộ sử dụng<br /> phần lớn là thức ăn thô xanh. Các hộ nuôi lợn đều không có hố phân, chuồng<br /> nuôi hầu hết là tạm bợ, ít hộ sử dụng chuồng kiên cố.<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Bảo tồn nguồn gen vật nuôi là một vấn đề cấp bách có tính chất toàn cầu. Nó chiếm một<br /> phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường [2]. Ở Việt Nam nhiều giống vật nuôi cổ<br /> truyền quý, có quá trình thích nghi lâu đời với điều kiện khí hậu nước ta đang bị mai<br /> một, lai tạp, thậm chí tuyệt chủng. Sự tuyệt chủng này gần đây xảy ra rất nhanh theo tốc<br /> độ phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hóa. Khi nền kinh tế phát triển mạnh, nhu<br /> cầu tiêu dùng các loại thực phẩm có chất lượng cao ngày càng gia tăng đặc biệt là các<br /> loại thực phẩm được chế biến từ các giống bản địa. Giống lợn Vân Pa là một trong<br /> những đối tượng được nuôi chủ yếu của bà con dân tộc Vân Kiều, Pakô ở vùng cao dọc<br /> theo dải Trường Sơn, tập trung ở một số huyện vùng Dakrong, Hướng Hóa (Quảng Trị)<br /> [1]. Với phương thức nuôi thả tự nhiên khâu chăm sóc, phối giống, phòng trừ dịch bệnh<br /> chưa được quan tâm nên năng suất thấp và số lượng ngày càng ít. Nghiên cứu tình hình<br /> chăn nuôi lợn Vân Pa ở các nông hộ miền núi ở hai huyện Đakrông và Hướng Hoá có ý<br /> nghĩa lớn trong việc định hướng phát triển ngành chăn nuôi trên cơ sở tiềm năng sẵn có<br /> của địa phương. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để phát triển hệ thống chăn nuôi ở miền<br /> núi có hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người dân tộc<br /> thiểu số ở miền núi.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế<br /> ISSN 1859-1612, Số 01(13)/2010: tr. 47-53<br /> <br /> 48<br /> <br /> NGUYỄN THỊ TƯỜNG VY và cs.<br /> <br /> 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 2.1. Nội dung nghiên cứu<br /> Quy mô, mục đích nuôi, thức ăn sử dụng nuôi lợn, tình hình chuồng trại, tình hình dịch<br /> bệnh và công tác thú y của các hộ đang nuôi lợn Vân Pa<br /> 2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Ở mỗi huyện, chọn 3 xã đại diện gồm xã Ba Nang, A Bung, A Ngo (huyện Đakrông) và<br /> xã Hướng Linh, Hướng Phòng, Hướng Tân (huyện Hướng Hoá). Ở mỗi xã chọn tất cả<br /> các hộ chăn nuôi để lập danh sách điều tra, khảo sát. Trong quá trình điều tra khảo sát<br /> các hộ chăn nuôi, nhóm nghiên cứu kết hợp phỏng vấn các hộ chăn nuôi lợn Vân Pa ở<br /> hai huyện.<br /> Số liệu thứ cấp được thu thập từ số liệu thống kê, tài liệu đã công bố và báo cáo của các xã.<br /> Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn hộ, phỏng vấn người cung cấp thông tin<br /> và thảo luận nhóm. Các bản hỏi phỏng vấn hộ được chuẩn bị trước và kiểm tra thử trước<br /> khi đi điều tra nghiên cứu.<br /> Tất cả số liệu thu thập được từ nghiên cứu được tổng hợp, quản lý và phân tích bằng<br /> Excel 2007 để tính các tham số thống kê của chỉ tiêu nghiên cứu.<br /> 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> 3.1. Quy mô chăn nuôi lợn Vân Pa<br /> Trên cơ sở danh sách hộ chăn nuôi đã lập ở mõi xã, nhóm nghiên cứu đã điều tra tình<br /> hình chăn nuôi ở 3 xã của mỗi huyện. Số hộ được khảo sát ở huyện Đakrông là 498 hộ<br /> trong đó có 48 hộ nuôi lợn Vân Pa. Số hộ khảo sát ở huyện Hướng Hoá là 291 hộ trong<br /> đó có 22 hộ nuôi. Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 1.<br /> Bảng 1. Quy mô chăn nuôi lợn Vân Pa ở các nông hộ của các xã nghiên cứu ở hai huyện<br /> (ĐVT: con/hộ)<br /> Chỉ tiêu nghiên cứu<br /> Quy mô bình quân<br /> Số lợn nái<br /> Trong<br /> đó<br /> Số lợn con<br /> <br /> Huyện Đakrông (n=48)<br /> CV%<br /> X ± m<br /> 5,53 ± 0,19<br /> 2,39 ± 0,07<br /> 3,41 ± 0,29<br /> <br /> 39,67<br /> 23,40<br /> 70,11<br /> <br /> Huyện Hướng Hoá (n=22)<br /> CV%<br /> X ± m<br /> 9,50 ± 0,50<br /> 1,09 ± 0,11<br /> 6,54 ± 0,55<br /> <br /> 28,59<br /> 48,24<br /> 39,08<br /> <br /> Số liệu ở bảng 1 cho thấy, quy mô bình quân lợn Vân Pa nuôi lợn trong nông hộ khá<br /> cao. Xét về cơ cấu đàn lợn Vân Pa số lợn con được nuôi trong nông hộ từ 3,41 - 6,54<br /> con/hộ, số lợn nái từ 1,09 - 2,39 con/hộ. So sánh về quy mô lợn Vân Pa nuôi ở hai<br /> huyện chúng ta thấy số lợn nuôi bình quân ở huyện Hướng Hoá cao hơn so với các hộ<br /> nuôi ở huyện Đakrông đồng thời số lợn con nuôi trong các nông hộ ở huyện Hướng<br /> Hoá cũng cao hơn so với các nông hộ của huyện Đakrông.<br /> <br /> KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN VÂN PA…<br /> <br /> 49<br /> <br /> 3.2. Thức ăn sử dụng nuôi lợn: Lợn Vân Pa là giống lợn thích nghi với lối sống hoang<br /> dã, được nuôi theo phương thức thả rông, thích nghi với đời sống kiếm ăn trong tự<br /> nhiên. Nguồn thức ăn chủ yếu của lợn là các loại củ quả như sắn, khoai, các loại rễ cây,<br /> rau cỏ dại, chuối mà lợn có thể kiếm được trong rừng ven suối… Những năm gần đây<br /> người dân đã bắt đầu sử dụng các loại rau, củ để cho lợn ăn. Kết quả nghiên cứu về tình<br /> hình sử dụng thức ăn của người dân để nuôi lợn được trình bày ở bảng 2.<br /> Bảng 2. Thức ăn sử dụng nuôi lợn Vân Pa ở các hộ của hai huyện<br /> Stt<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> <br /> Loại thức ăn<br /> Thân chuối<br /> Sắn củ<br /> Môn<br /> Rau trồng<br /> Cám gạo<br /> Thức ăn hỗn hợp<br /> <br /> Huyện Đakrông<br /> (n=48)<br /> Số hộ sử dụng<br /> Tỷ lệ (%)<br /> (hộ)<br /> 48<br /> 100,00<br /> 48<br /> 100,00<br /> 43<br /> 89,58<br /> 36<br /> 75,00<br /> 31<br /> 64,58<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Huyện Hướng Hoá<br /> (n=22)<br /> Số hộ sử dụng<br /> Tỷ lệ (%)<br /> (hộ)<br /> 22<br /> 100,00<br /> 22<br /> 100,00<br /> 17<br /> 77,27<br /> 15<br /> 68,18<br /> 10<br /> 45,45<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Qua bảng 2 chúng ta có thể thấy các loại thức ăn mà người dân sử dụng nhiều nhất<br /> trong chăn nuôi lợn là thân cây chuối, môn rừng, sắn củ, rau trồng và cám gạo. Điều<br /> đáng chú ý là không có hộ nào sử dụng thức ăn hỗn hợp để nuôi lợn. Như vậy hấy hầu<br /> hết thức ăn được sử dụng là thức ăn thô xanh, việc sử dụng thức ăn tinh là rất hạn chế.<br /> Điều này ảnh hưởng nhiều đến tốc độ tăng trưởng và khả năng sinh sản của lợn. Có thể<br /> nói nhận thức của người dân đã bắt đầu thay đổi và họ quan tâm ngày càng nhiều hơn<br /> đến chăm sóc nuôi dưỡng lợn. Hướng Hoá và Đakrông là hai huyện vùng cao, điều kiện<br /> khí hậu, thời tiết hết sức khắc nghiệt nên giải quyết thức ăn cho lợn luôn được đặt lên<br /> hàng đầu. Có thể nói, giun đất và các loại côn trùng khác sống trong đất là nguồn<br /> prôtêin của lợn. Lợn thường tự kiếm bằng cách dùng cái mõm dài và khoẻ để đào bới<br /> đất đá và điều này đã trở thành một bản năng sinh tồn của lợn Vân Pa.<br /> 3.3. Tình hình chuồng trại: Do tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chủ yếu theo phương<br /> thức thả rông do đó chuồng trại chưa được người dân quan tâm. Kết quả đánh giá về<br /> tình hình chuồng trại được trình bày ở bảng 3.<br /> Bảng 3. Tình hình chuồng trại nuôi lợn Vân Pa của các hộ ở hai huyện<br /> <br /> Stt<br /> <br /> Loại<br /> chuồng trại<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Bán kiên cố<br /> Tạm bợ<br /> Không có chuồng<br /> Sử dụng máng ăn<br /> Có hố phân<br /> <br /> Huyện Đakrông<br /> (n=48)<br /> Số hộ sử dụng<br /> Tỷ lệ (%)<br /> (hộ)<br /> 5<br /> 10,42<br /> 34<br /> 70,83<br /> 9<br /> 18,75<br /> 48<br /> 100,00<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Huyện Hướng Hoá<br /> (n=22)<br /> Số hộ sử dụng<br /> Tỷ lệ (%)<br /> (hộ)<br /> 3<br /> 13,63<br /> 11<br /> 50,00<br /> 8<br /> 36,37<br /> 22<br /> 100,00<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> 50<br /> <br /> NGUYỄN THỊ TƯỜNG VY và cs.<br /> <br /> Kết quả ở bảng 3 cho thấy, phần lớn các hộ nuôi lợn đều sử dụng loại chuồng tạm bợ<br /> (Đakrông: 70,83%; Hướng Hoá:50,00%). Chuồng loại này thường được làm sơ sài, gồm<br /> các cây que củi hoặc tre kết hợp với ván mỏng ghép lại với nhau tạo thành trung bình<br /> khoảng 4-5m2. Tỷ lệ hộ sử dụng loại chuồng bán kiên cố còn ít (Đakrông: 10,42%;<br /> Hướng Hoá: 13,63%) những chuồng này chủ yếu do một số chương trình, dự án tài trợ.<br /> Theo kết quả điều tra 18, 75% hộ ở huyện Đakrông và 36,37% hộ ở huyện Hướng Hoá<br /> không có chuồng để nuôi lợn. Lợn được thả tự do ở quanh sân vườn, nương rẫy và vào<br /> rừng để kiếm ăn, tối đến lợn thường tập trung ngủ ở dưới gốc cây quanh nhà hoặc dưới<br /> sàn nhà.<br /> Mặc dù 100% hộ nuôi đều sử dụng máng ăn, nhưng rất đơn giản có thể là can nhựa,<br /> bánh xe tải, nồi hỏng hoặc được đóng từ những cây gỗ nhỏ… Máng ăn này vừa làm<br /> máng uống, được đặt trong chuồng, ngoài sân hay giữa nhà. Kết quả điều tra cho thấy<br /> do chăn nuôi theo phương thức thả rông nên 100% hộ nuôi đều không có hố phân, gây ô<br /> nhiễm môi trường và lợn dễ mắc một số bệnh như giun sán, viêm phổi, ho... Điều này<br /> ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn. Ngoài ra, do phân chứa<br /> nhiều mầm bệnh thải ra khắp nơi trong sân, dưới sàn nhà, trong bếp, quanh khu vực trẻ<br /> em sinh hoạt ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người dân.<br /> 3.4. Mục đích nuôi giống lợn Vân Pa<br /> Mục đích chăn nuôi là một trong những nhân tố ảnh hưởng đền sự phát triển của giống<br /> vật nuôi. Kết quả khảo sát về mục đích chăn nuôi lợn Vân Pa tại vùng nghiên cứu được<br /> trình bày ở bảng 4<br /> Bảng 4. Mục đích nuôi giống lợn Vân Pa của các hộ ở hai huyện<br /> Stt<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> nghiên cứu<br /> Bán<br /> Sinh sản<br /> Giết thịt<br /> Mục đích khác<br /> <br /> Huyện Đakrông<br /> (n=48)<br /> Số hộ (hộ)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> 48<br /> 100<br /> 40<br /> 83,33<br /> 21<br /> 43,75<br /> 13<br /> 27,08<br /> <br /> Huyện Hướng Hoá<br /> (n=22)<br /> Số hộ (hộ)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> 20<br /> 90,90<br /> 18<br /> 81,81<br /> 16<br /> 72,72<br /> 10<br /> 45,45<br /> <br /> Số liệu ở bảng 4 cho thấy người dân ở hai huyện nuôi lợn Vân Pa trước hết là để bán,<br /> thứ đến là để sinh sản, giết thịt và phục vụ cho mục đích khác. Ở huyện Đakrông 100%<br /> hộ nuôi và huyện Hướng Hoá có đến 90,90% hộ nuôi cho rằng họ nuôi lợn Vân Pa để<br /> bán. Chứng tỏ giống lợn này góp một phần vào giá trị kinh tế cho đồng bào dân tộc.<br /> Phương thức bán của các nông hộ chủ yếu là bán tại nhà, các thương lái từ khắp nơi<br /> trong tỉnh tìm đến các nông hộ để mua. Qua điều tra chúng tôi nhận thấy đồng bào dân<br /> tộc sử dụng hai cách chủ yếu là bán vo (bán cáp cả con), hoặc đo theo vòng cổ, dài thân<br /> và tính theo giá khối lượng. Tuy nhiên, do bị hạn chế về trình độ và thông tin thị trường<br /> nên người dân bị ép giá.<br /> Sau mục đích để bán, các nông hộ cho rằng nuôi để cho sinh sản, duy trì đàn lợn của gia<br /> đình. Ở huyện Đakrông có 83,33% và ở Hướng Hoá có 81,81% số hộ nuôi lợn Vân Pa<br /> <br /> KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN VÂN PA…<br /> <br /> 51<br /> <br /> để sinh sản. Với phương thức sinh sản tự nhiên không cần sự can thiệp của thú y nên<br /> xảy ra tình trạng lợn con nhảy lợn mẹ, sinh ra đồng huyết và sức sản xuất ngày càng<br /> giảm. Ngoài những mục đích trên lợn Vân Pa còn được đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa<br /> Kô sử dụng trong các dịp cúng tế cầu mùa, cúng nhà mới, ăn tết, cưới hỏi, ma chay…<br /> Qua nghiên cứu chúng tôi còn được biết lợn còn là của hồi môn của bố mẹ cho các cặp<br /> vợ chồng mới cưới. Từ đây có thể thấy rằng giống lợn Vân Pa là vật nuôi truyền thống<br /> từ xa xưa của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô ở Quảng Trị. Với ý nghĩa đó, giống<br /> lợn này cần được bảo tồn và phát triển.<br /> 3.5. Dịch bệnh và công tác thú y trong chăn nuôi giống lợn Vân Pa<br /> Do địa bàn ở xa trung tâm thành phố và thị trấn, đi lại quá khó khăn, phạm vi phân bố<br /> rộng và điều kiện kinh tế xã hội còn kém phát triển nên đội ngũ cán bộ thú y cơ sở còn<br /> thiếu. Mỗi xã thông thường chỉ có 1 cán bộ thú y với trình độ sơ cấp hoặc được đào tạo<br /> ngắn hạn. Đa số họ hành nghề không chuyên, thu nhập và phụ cấp thấp nên các cán bộ<br /> thú y cơ sở không nhiệt tình, hoạt động thú y còn nhiều hạn chế. Kết quả nghiên cứu về<br /> dịch bệnh và công tác thú y tại các xã điều tra được trình bày ở bảng 5.<br /> Bảng 5. Tình hình dịch bệnh và công tác thú y ở hai huyện<br /> Stt<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> nghiên cứu<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> Có dịch bệnh<br /> Không dịch bệnh<br /> Điều trị<br /> Tiêm phòng<br /> <br /> 21<br /> 27<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Huyện Đakrông<br /> (n=48)<br /> Số hộ (hộ)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> 43,75<br /> 56,25<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Huyện Hướng Hoá<br /> (n=22)<br /> Số hộ (hộ)<br /> Tỷ lệ (%)<br /> 8<br /> 36,36<br /> 14<br /> 63,64<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Về tình hình dịch bệnh trên địa bàn xảy ra đối với lợn Vân Pa có nhiều ý kiến khác<br /> nhau. Có 56,25% số hộ ở huyện Đakrông và 63,64% hộ ở huyện Hướng Hóa cho rằng<br /> lợn địa phương không hề mắc bệnh giống như các loại bệnh mà lợn ở đồng bằng hay<br /> mắc phải. Điều này chứng tỏ lợn Vân Pa có khả năng đề kháng cao, chống chịu tốt với<br /> các điều kiện bất lợi về thức ăn, khí hậu thời tiết và dịch bệnh.<br /> Ngược lại, có 43,75% số hộ ở huyện Đakrông và 36,36% số hộ ở huyện Hướng Hoá cho<br /> rằng có dịch bệnh xảy ra ở lợn Vân Pa, như bệnh như tiêu chảy, ho, tụ huyết trùng, còi<br /> cọc, bệnh thường mắc đối với lợn con. Nguyên nhân gây ra những bệnh trên đó là do<br /> lợn được thả rông, thường xuyên ăn các loại thức ăn mang mầm bệnh do đó dễ mắc một<br /> số bệnh như giun sán, ỉa chảy. Một trong những nguyên nhân liên quan đến dịch bệnh là<br /> công tác tiêm phòng. Kết quả phỏng vấn cho thấy 100% hộ nuôi đều không tiêm phòng<br /> cho lợn. Khi lợn bị bệnh, các hộ tự điều trị mà không có sự hỗ trợ của cán bộ thú y.<br /> Kiến thức bản địa và kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh cho lợn của người dân vô<br /> cùng quan trọng khi mà trên địa bàn không có cơ sở bán thuốc thú y và tay nghề của cán<br /> bộ thú y còn hạn chế.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản