intTypePromotion=1

Luận Văn: Chính sách tiền tệ và đánh giá về việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây

Chia sẻ: Nguyễn Phi Nhung Nhung | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:63

0
497
lượt xem
248
download

Luận Văn: Chính sách tiền tệ và đánh giá về việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận Văn: Chính sách tiền tệ và đánh giá về việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây trình bày những vấn đề chung về chính sách tiền tệ, thực tiễn thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận Văn: Chính sách tiền tệ và đánh giá về việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây

  1. Luận Văn Chính sách tiền tệ và đánh giá về việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây -1-
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 3 TÓM TẮT NỘI DUNG .............................................................................................. 4 PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ...................... 5 I. Cơ sở lý luận chung về chính sách tiền tệ:............................................ 5 1. Khái niệm:...................................................................................... 5 2. Cơ sở của chính sách tiền tệ: .......................................................... 5 3. Hệ thống điều tiết vĩ mô của NHTW .............................................. 8 4. Con đường dẫn truyền tác động của chính sách tiền tệ: .................22 5. Hỗn hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài chính:.......................26 II. Kinh nghiệm ở một số nước: ..............................................................27 1. Kinh nghiệm của quỹ dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) .........................27 2. Kinh nghiệm của NHTW Đức .......................................................28 3. Kinh nghiệm của NHTW Nhật ......................................................30 PHẦN B: THỰC TIỄN THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM. ..... 32 I. Thực tiễn thực thi chính sách tiền tệ của VN trong thập kỉ 90. ..........32 1. Nhận định chung. ..........................................................................32 2. Nội dung của chính sách tiền tệ. ....................................................34 3. Đánh giá chính sách tiền tệ ở Việt Nam. .......................................50 4. Những giải pháp đề xuất đối với chính sách tiền tệ của V iệt Nam. 52 II. Nội dung định hướng chính sách tiền tệ đến năm 2005.....................54 1. Về mục tiêu của chính sách tiền tệ. ...............................................55 2. Về việc điều hành khối lượng tiền cung ứng. ................................56 3. Về chính sách tín dụng. .................................................................57 4. Về chính sách quản lý ngoại hối và tỷ giá: ....................................59 5. Về tín dụng đối với ngân sách Nhà nước: ......................................59 6. Về việc xử lý lãi suất: ....................................................................60 7. Các biện pháp hỗ trợ: ....................................................................60 KẾT LUẬN ............................................................................................................... 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 63 -2-
  3. LỜI MỞ ĐẦU Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, qua bao thăng trầm và biến đổi, đường lối đổi mới của Việt Nam đã thực sự đi vào thực thi. Có thể nói, chính sách đổi mới về kinh tế đã thành công trong việc giúp nền kinh tế nước ta vượt qua thời kỳ lạm phát không kiềm chế được và khôi phục cân bằng kinh tế vĩ mô. Kể từ đó, Chính phủ đã chuyển dịch những ưu tiên hàng đầu của mình vào điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. Đặc biệt, xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, tăng cường quản lý N hà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, góp phần phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Cách quản lý kinh tế và hoạt động Ngân hàng bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung sẽ được thay thế dần bằng sự vận hành một chính sách tiền tệ linh hoạt dựa trên nền tảng một thị trường tài chính phát triển. Để thực hiện tốt chính sách tiền tệ, chúng ta cần nghiên cứu chính sách tiền tệ trên cơ sở một loạt các vấn đề về lý luận chung, về chính sách tiền tệ, kinh nghiệm chính sách tiền tệ một số nước, thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Do đó bài tiểu luận này với những nghiên cứu ban đầu về chính sách tiền tệ xin được đưa ra những tổng kết ban đầu về chính sách tiền tệ và đánh giá về việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây. Bài tiểu luận có hai phần: Phần A: Lý luận chung về chính sách tiền tệ. Phần này nghiên cứu sơ qua về cơ sở, khái niệm, mục tiêu, công cụ chính sách tiền tệ, đồng thời cũng nêu khái quát các con đường tác động của chính sách tiền tệ, sự phối hợp chính sách tiền tệ và tài chính. Đặc biệt, phần này cũng tổng kết kinh nghiệm về việc thực thi chính sách tiền tệ ở một số nước. Phần B: Thực tiễn thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Phần này sẽ khái quát những đặc điểm của chính sách tiền tệ, mục tiêu chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thập kỷ 90. Từ đó đánh giá những thành tựu, tồn tại của chính sách tiền tệ và đề ra những giải pháp định hướng chính sách tiền tệ trong thời gian tới. -3-
  4. TÓM TẮT NỘI DUNG Chúng ta biết rằng, chính sách tiền tệ bắt đầu thâm nhập vào Việt N am vào những năm đầu của thập kỷ 90. Do đó, những vấn đề chung về lý luận và thực tiễn về chính sách tiền tệ vẫn còn nhiều mới mẻ. Bài tiểu luận này nghiên cứu về những vấn đề chung về chính sách tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ ở V iệt Nam. Trên tinh thần đó, nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu được tóm tắt như sau: Trước hết, ta b àn về những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ là m ột bộ phận hợp thành của toàn bộ chính sách kinh tế bao gồm cả chính sách ngân sách, chính sách thu nhập, giá cả và những chính sách cơ cấu. Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, nó là tổng hoà các mối quan hệ mà NHTW thông qua các hoạt động của mình để tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - x ã hội trong từng thời kỳ nhất định. Việc tác động này được thực hiện qua 3 kênh: Giá cả, tài sản, tín dụng. Mặc dù vậy, để thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ, người ta thường kết hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài chính để tạo sự phối hợp hài hoà, đ ạt được hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, trong bài tiểu luận này cũng đề cập đến việc thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả được đúc kết từ các nước có hệ thống N gân hàng và thị trường tài chính phát triển. Thứ hai, thực tiễn Việt Nam: Việt Nam chúng ta đang trên con đường đổi mới kinh tế, đặc biệt là cải cách hệ thống Ngân hàng. Do đó, việc thực thi chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng cùng với công cụ trực tiếp hạn mức tín dụng, trong những năm đầu thập kỷ 90, Việt Nam đã bắt đầu trú trọng nhiều hơn đến việc sử dụng công cụ gián tiếp như: D ự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu. Nghiệp vụ thị trường mở cũng vừa mới ra đời. Việt Nam M2- làm mục tiêu trung gian. Qua các công cụ của mình, ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều tiết nhằm ổn định đồng tiền và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. V ới chính sách tiền tệ như trên, bước đầu V iệt Nam đã hạn chế được mức cung tiền, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả. Mặc dù vậy chính sách tiền tệ ở Việt Nam còn tồn tại đó là việc chưa xác định rõ ràng mối liên hệ giữa mục tiêu trung gian (M2) và mục tiêu lãi suất, chính sách về lãi suất còn nhiều bất cập, công cụ còn mang nặng tính hành chính chưa thực tế cho lắm. Nghiệp vụ thị trường mở ra đời chưa phát huy được hiệu quả mạnh mẽ. Trong thời gian cần xây dựng chính sách tiền -4-
  5. tệ độc lập, tương đối của ngân hàng Nhà nước, chú trọng phát triển thị trường tài chính. Trong bài tiểu luận này em xin đưa ra một số nội dung về đề xuất giải pháp về chính sách tiền tệ ở Việt Nam, định hướng tới năm 2005. PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ: 1. Khái niệm: Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, mà trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt các mục tiêu về giá cả và việc làm. Chính sách tiền tệ suy cho cùng là hướng đến mục tiêu đ ã định ra của một nền kinh tế. Vì vậy, để hiểu rõ tại sao khi NHTW điều tiết mức cung tiền tệ nó thực sự điều tiết kinh tế vĩ mô. 2. Cơ sở của chính sách tiền tệ: Cơ sở khoa học về mối liên hệ sản lượng, thu nhập và sản lượng cung ứng đã được nhà kinh tế học Milton Friedman rút ra từ thực tiễn khảo sát hơn 80 năm của kinh tế Hoa Kỳ. Milton đã khẳng định: “Sự thay đổi cung ứng tiền có tác động mạnh mẽ đến sản lượng, thu nhập và giá cả trong khoảng thời gian dài hàng năm. Và nó đã tác động nhanh chóng đến lãi suất, tổng cầu (AD) và sản lượng trong thời gian ngắn 1 năm trở lại”. Q ua đồ thị a, ta thấy đường cung (AS) của NHTW là MSo tương ứng với nhu cầu tiền là đường MDo. Tại điểm cân bằng Eo của thị trường tiền tệ, ta có mức cung tiền là Mo, ứng với lãi suất là io. Mức lãi suất io, ta có được mức đầu tư Io, tổng cầu ADo trên các đồ thị sau: i i MS1 MS0 i1 i1 MD o I0 I0 -5-
  6. 0 M1 M0 M 0 I1 I0 I -6-
  7. AD P AS AD1 AD0 P1 E1 E0 AD1 P0 AD0 0 Y0 Y1 Y 0 Y 0 Y1 Y b1 b2 Chẳng hạn, để hạn chế lạm phát, NHTW quyết định hạn chế mức cung tiền. Đ ường MSo sẽ dịch chuyển sang trái đến MS1. Trong khi đó MD0 hầu như không thay đổi trong thời gian ngắn. Điều đó dẫn đến tình trạng cung tiền nhỏ hơn cầu tiền, tiền tệ khan hiếm, lãi suất tăng và hệ quả tất yếu của lãi suất tăng sẽ là đầu tư giảm do chi phí cho việc đầu tư quá cao. Hơn thế nữa, đầu tư lại là một thành phần của tổng cầu. AD = C + I + G + Nx Do đó AD giảm, kéo theo sản lượng giảm, sản xuất có chiều hướng bị thu hẹp lại, thất nghiệp tăng, giá cả giảm xuống, nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. N gược lại, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho người tiêu dùng và nhà sản xuất có nhiều tiền hoặc không mấy khó khăn tốn kém để có tiền. Điều này sẽ kích thích họ tiêu dùng cho đầu tư. Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm cho sản xuất liên tục được mở rộng. Như vậy, việc cung ứng tiền là m ột sức mạnh đầy quyền lực của NHTW. Điều tiết mức cung tiền đó có nghĩa là NHTW đã bắt đầu điều tiết nền kinh tế bằng cách tạo ra sự biến động về tiền tệ mở rộng hay thu hẹp các nhà quản lý có thể tác động gián tiếp đến các mục tiêu kinh tế và hướng dẫn nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế. Đó chính là bản chất của chính sách tiền tệ. -7-
  8. 3. Hệ thống điều tiết vĩ mô của NHTW Các NHTW của mỗi quốc gia trên thế giới đều hoạt động với một mục tiêu giống nhau trong việc điều tiết kinh tế và mức cung tiền tệ. Hệ thống mối quan hệ giữa các mục tiêu và công cụ để thực hiện mục tiêu đó sẽ đ ược cụ thể hoá bằng sơ đồ dưới đây Cộng cụ điều Mục tiêu hoạt Mục tiêu Mục tiêu cuối tiết NHTW trung gian: cùng: động: - Nghiệp vụ - Tổng - Mức cung - Sản lượng thị trường lượng dự tiền - Giá cả mở trữ - Lãi suất - Công ăn suất việc làm - Chính sách - Lãi chiết tái liên ngân khấu hàng - Dự trữ bắt buộc Mục tiêu Mục tiêu Ho ạt động điều tiết hoạt động Trung gian 3.1. Công cụ của chính sách tiền tệ : 3.1a) Công cụ trực tiếp N ếu như công cụ gián tiếp tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ thì công cụ trực tiếp tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông - một trong những mục tiêu trung gian của NHTW, cụ thể là công cụ hạn mức tín dụng. Công cụ này được áp dụng ở nhiều NHTW cho đến nay như NH Nhật bản, Pháp , Hàn quốc.. K hái niệm: Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà các ngân hàng buộc các tổ chức tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Mức d ư nợ quy định cho từng ngân hàng định hướng cơ cấu kinh tế tổng thể, nhu cầu tài trợ các đối tượng chính sách và phải nằm trong giới hạn của tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể nói, trong những trường hợp đặc biệt, công cụ trực tiếp này có giá trị hữu ích. Thứ nhất, trong một nền kinh tế có lạm phát cao, NHTW sẽ kiểm soát các khoản vay lớn của NHTG, hạn chế cho vay tiêu dùng, cho vay trả chậm hoặc cho vay cầm cố. Như vậy, thông qua hạn mức tín dụng, NHTW sẽ khống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng. Thứ hai, trong trường hợp nền kinh tế có thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động, với lãi suất -8-
  9. hayNHTW không có khả năng khống chế và kiểm soát lượng vốn khả dụng của hệ thống NHTM thì hạn mức tín dụng sẽ là cứu cánh cho NHTW trong việc điều tiết mức cung tiền. Bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế; hiệu qủa của công cụ này không cao bởi vì nó thiếu linh hoạt và đôi khi đi ngược lại với sự biến động của thị trường tín dụng. Công cụ hạn mức tín dụng có thể đẩy lãi suất lên qúa cao hoặc làm giảm khả năng cạnh tranh của NHTM. Sử dụng nguồn vốn trong trường hợp NHTW cấp vốn theo một định hướng nào đó, không biết cho cụ thể ai vay, chỉ cho vay, ai được vay. Do vậy không tốt đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3.1.b) Công cụ gián tiếp: Công cụ gián tiếp hầu như được sử dụng nhiều hơn công cụ hạn mức tín dụng. Đây là nhóm các công cụ tác động trước hết vào m ục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ. Thông qua cơ chế thị trường m à tác động này được truyền đến các mục tiêu trung gian là mức cung tiền và lãi suất. b1) Dự trữ bắt buộc (DTBB) - Khái niệm: Dự trữ bắt buộc là số tiền m à các NHTW buộc các NHTM giữ không lãi ở NHTW tính theo số dư tiền gửi. (Điều 9 luật NHNN Việt Nam , dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng gửi tại NHNN để tổng hợp chính sách tiền tệ quốc gia). + Cơ chế tác động: dự trữ bắt buộc tác động trực tiếp bởi tỉ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của NHTW. Nếu NHTW tăng dự trữ bắt buộc, làm giảm khả năng cho vay của NHTM, cung tiền giảm (MS) Thứ hai, vì tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần của mẫu số của công thức tạo tiền. Vì thế, sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm đi số nhân tạo tiền và khả năng tạo ra tiền gửi của hệ thống ngân hàng. MS = m.MB N ếu cho vay với lãi suất cũ - không thu được lợi nhuận. N ếu cho vay với lãi suất cao thì không hấp dẫn khách hàng Do đó hạn chế cho vay, hạn chế khả năng tạo tiền cho nên MS + Nguyên nhân tác động: dự trữ bắt buộc tuân theo nguyên tắc bình quân. Điều đó có nghĩa là mức dự trữ yêu cầu cho một thời kỳ nào đó - thời kỳ duy trì được xác định căn cứ vào tỷ lệ % quy định trên số dư tiền gửi bình quân ngày giao dịch trong thời kỳ trước. Thời kỳ xác định và thời kỳ -9-
  10. duy trì có thể nối tiếp nhau có thể trùng ở một giai đoạn nào đó hoặc trùng khớp nhau. + Ưu điểm: Có thể nói, điểm lợi của dự trữ bắt buộc là nó có thể tác động đến tất cả các Ngân hàng như nhau tạo ra sự biến đổi đối với các N gân hàng và có tác dụng quyền lực đối với mức cung tiền. Sự tác động này làm NHTM không có khả năng chống đỡ được và mục tiêu NHTW đạt được. Bởi lẽ chỉ cần một phần trăm thay đổi của tỷ lệ dự trữ sẽ thay đổi đáng kể và dẫn đến sự thay đổi theo cấp số nhân của khối lượng tiền cung ứng. Kiểm soát NHTM đặc biệt là hoạt động tín dụng của NHTM. + Hạn chế: Chính tác động đầy quyền lực của công cụ dự trữ bắt buộc đến mức cung tiền làm cho hoạt động Ngân hàng bất ổn định, chi phí cho sự điều chỉnh để thích ứng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc mới là rất tốn kém. N ếu chỉ muốn có sự thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ mà sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc thì chẳng khác nào dùng “Cái búa tạ để đánh con chuột nhỏ”. V ả lại, việc sử dụng dự trữ bắt buộc gây ảnh hưởng đến lượng vốn khả dụng của hệ thống Ngân hàng. Như vậy vấn đề thanh khoản của Ngân hàng gặp khó khăn hơn. Do đó, ngày nay công cụ dự trữ bắt buộc thường ít được sử dụng và nếu có chăng thường phải được sử dụng với công cụ khác. Tích luỹ được sử dụng với công cụ tái cấp vốn. Chính sách tái cấp vốn là chính sách mà NHTW thực hiện khi cho vay tái cấp vốn đối với các NHTM. b2. Tái chiết khấu: - Khái niệm: Đây là một trong những công cụ chủ yếu của NHTW. Chính sách tái chiết khấu là chính sách mà NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn, chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu. Trong công cụ này NHTW sẽ ấn định mức lãi suất tái chiết khấu và tái chiết khấu giá. Lãi suất cho vay chiết khấu được NHTW quyết định trong 2 trường hợp: 1. Cho vay bình thường đối với ký quỹ khi Ngân hàng trung gian thanh toán. 2. Cho vay dưới hình thức cứu cánh. - Cơ chế tác động: Chính sách tái chiết khấu tác động vào mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ. Thể hiện ở 3 mặt sau:  Xét về sự tác động về mặt lượng: Do NHTW quy định hạn mức, điều kiện của các chứng từ có giá, do vậy trong trường hợp hạn mức tín dụng tăng thì lượng tiền tái chiết khấu sẽ tăng. Theo đó, khả năng cho vay - 10 -
  11. của NHTW sẽ tăng lên. Như vậy sẽ thúc đẩy khả năng mở rộng tiền của hệ thống NHTM, và một khi vốn khả dụng thay đổi, nó làm cho quan hệ cung - cầu vốn và do đó lãi suất thị trường liên ngân hàng thay đổi. Cấp vốn là lãi suất mà NHTW áp d ụng để cho vay tái cấp vốn đối với các tổ chức tín dụng.  Sự tác động của lãi suất tái chiết khấu: Sẽ có 2 trường hợp khi NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu. NHTG không thể vay của NHTW nhiều và dễ d àng như trước. NHTG sẽ phải giảm bớt cho vay để đảm bảo dự trữ trở lại. Như vậy lãi suất cho vay của NHTG tăng, đầu tư giảm, tổng cầu và sản lượng giảm theo. Thêm vào đó, việc tăng lãi suất tái chiết khấu làm cho NHTG biết rằng trong trường hợp vay khẩn cấp NHTW, NHTG phải trả lãi suất rất cao.  Xét về sự tác động hiệu ứng thông báo, sự thay đổi lãi suất chiết khấu được coi như là dấu hiệu định hướng của chính sách tiền tệ của NHTW. Các tuyên bố của NHTW về sự biến động của lãi suất tăng lên ho ặc giảm xuống cho ta biết NHTW đang muốn mở rộng hay thắt chặt chính sách tiền tệ. Nhờ vậy, chính sách tái chiết khấu có tác dụng hướng dẫn hành vi thị trường theo định hướng của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, hiệu ứng thông báo chỉ có hiệu quả khi lãi suất chiết khấu phù hợp với lãi suất thị trường. Trong trường hợp lãi suất chiết khấu cao hơn hoặc thấp hơn mức lãi suất thị trường, sự thay đổi lãi suất thực chất là sự “Điều chỉnh kỹ thuật” nhằm phù hợp với lãi suất thị trường. - Ưu điểm: 1. Công cụ tái chiết khấu mang tính chất linh hoạt trong những điều kiện nhất định. Đây là chính sách cho vay của NHTW, NHTG nào có nhu cầu và đủ điều kiện về khối lượng cũng như giá trái phiếu đều có thể xin vay. 2. Công cụ này không bóp méo tính cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng. 3. Đặc biệt nhất là công cụ tái chiết khấu, NHTW thể hiện rõ là người cho vay cuối cùng, đảm bảo sự ổn định của hệ thống Ngân hàng khi có rủi ro thanh khoản hoặc những vấn đề khó khăn khác. - Hạn chế: 1. Công cụ tái chiết khấu vẫn còn mang tính thiếu chủ động, bởi lẽ việc vay NHTW hay không còn phụ thuộc vào nhu cầu vay của NHTG. Lãi suất tái chiết khấu có giảm nhiều để thu hút sự vay tiền của NHTG mà NHTG không có nhu cầu vay thì công cụ này đành bất lực. Điều này có - 11 -
  12. nghĩa là ý định thay đổi lượng tiền và phạm vi tín dụng của NHTW không thực hiện được. 2. Khi NHTW muốn thu hẹp mức cung tiền, họ chỉ có thể thực hiện khi NHTG trả nợ. 3. Khi NHTW thay đổi lãi suất hoặc lãi suất chiết khấu có thể gây nên sự suy diễn trong dự đoán của các tổ chức tín dụng làm sai lệch ý định thay đổi lượng tiền của NHTW. - Những đề nghị cải cách lại: V ới những điểm đó không được thuận lợi, các nhà kinh tế đã có đề nghị cải cách chính sách chiết khấu bằng cách ràng buộc lãi suất chiết khấu với lãi suất thị trường. Thứ nhất: NHTW có thể điều tiết lãi suất chiết khấu để thực hiện vai trò của người cho vay cuối cùng của m ình. Thứ hai: đại bộ phận các biến động trong khoảng cách giữa lãi suất chiết khấu và lãi suất thị trường sẽ bị loại trừ, làm tan đi một nguồn chính gây ra biến động trong khối lượng các khoản vay chiết khấu. Thứ ba: nếu lãi suất trừng phạt được sử dụng thì việc quản lí cửa sổ chiết khấu sẽ giản đơn rất nhiều vì các Ngân hàng không tự đi vay từ cửa sổ chiết khấu để thu lợi. Thứ tư: vì lãi suất chiết khấu có thể tự động thay đổi nên không có những dấu hiệu sai lầm về ý định của NHTW và tác dụng thông báo sẽ mất đi. b3: Nghiệp vụ thị trường mở: - Khái niệm: Công cụ nghiệp vụ thị trường mở là công cụ hữu hiệu nhất của chính sách tiền tệ. Nghiệp vụ thị trường mở thể hiện hoạt động của NHTW trên thị trường mở nhằm can thiệp vào dự trữ của NHTM. Hoạt động chủ yếu là mua bán các chứng từ giá, hoán đổi ngoại tệ, huy động tiền gửi với lãi suất cố định phát hành chứng chỉ nợ của NHTW. - Cơ chế tác động: thông qua 3 con đường: Thứ nhất: Khi NHTW bán (mua) các chứng khoán của NHTM dù nó trả bằng séc hay tiền mặt, dự trữ của NHTM giảm đi, khi dự trữ của NHTM giảm một lần nữa nó làm giảm khả năng cấp phát tín dụng của các Ngân hàng và như thế cung ứng tiền trong nền kinh tế càng bị thắt chặt hơn nữa. Thứ hai (lãi suất): Khi vốn khả dụng của từng Ngân hàng cá nhân giảm (tăng) do tác động hoạt động nghiệp vụ thị trường mở mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng giảm (tăng) với điều kiện các yếu tố liên quan không thay đổi, lãi suất thị trường liên Ngân hàng tăng (giảm). - 12 -
  13. Thông qua giả thuyết dự tính về cấu trúc của lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất của các công cụ của thị trường mở và lãi suất trái phiếu. Kết quả là chi phí cơ hội cho người có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu vốn tăng (giảm) làm giảm nhu cầu đầu tư của xã hội mà do đó mà giảm sản lượng, giá cả và công ăn việc làm. Thứ ba: hoạt động nghiệp vụ thị trường mở còn ảnh hưởng đến cung - cầu và do đó giá các chứng khoán thuộc phạm vi can thiệp chủ yếu là tín phiếu kho bạc, khi NHTW bán chứng khoán để thu tiền về, lượng chứng khoán tuôn ra thị trường trở lên lớn. Chứng khoán dư thừa làm cho giá của nó hạ. Nên lãi suất chiết khấu tăng buộc lãi suất Ngân hàng tăng lên theo để tránh tình trạng “ Phi trung gian hoá” tức là tình trạng nhân dân và nhà đầu tư rút tiền ra khỏi Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán. Lãi suất tăng làm khan hiếm lượng tiền trong lưu thông và một khi lượng tiền khan hiếm làm giảm tỷ giá và giá cả hàng hoá. - Ưu điểm: N ghiệp vụ thị trường mở là một công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian có hiệu quả. 1. NHTW có thể chủ động điều tiết về thời gian, khối lượng, giá cả, chủng loại. 2. Mặc dù nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, những người kinh doanh chứng khoán không bị mua hoặc bán chứng khoán theo một giá trị nhất định, nhưng NHTW có thể thực hiện được yêu cầu của m ình bằng việc điều chính giá sao cho hấp dẫn với đối tác. 3. Nghiệp vụ thị trường mở có thể sử dụng ở bất cứ mức độ nào. Dù NHTW mong muốn mức thay đổi dự trữ hoặc cơ số tiền tệ nhỏ đến như thế nào không thành vấn đề. Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện điều mong muốn đó bằng mua hoặc bán ít chứng khoán và ngược lại. Đặc biệt là một khi có sai lầm trong khi sử dụng công cụ này, NHTW có thể đảo ngược việc sử dụng công cụ đó. Nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh, do nó mua trên thị trường tự do quá nhiều thì nó có thể sữa chữa ngay lập tức bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán trên thị trường mở. - Hạn chế: 1. Nghiệp vụ thị trường mở có tính hiệu quả cao nhưng không thể sử dụng ở một số nước mà thị trường tài chính chưa thực sự phát triển. Các chứng khoán được mua bán trong nghiệp vụ này là các chứng khoán đã được phát hành và đang lưu thông trên thị trường thứ cấp. Nếu thị trường tiền tệ nói riêng, thị trường thứ cấp nói chung chưa phát triển thì công cụ này không có tính khả thi. - 13 -
  14. 2. Ngoài ra công cụ này đòi hỏi NHTW phải có khả năng kiểm soát sự biến động và dự đoán sự biến động của lượng vốn khả dụng của hệ thống Ngân hàng: (Mô hình sau) 3. Không phải lúc nào Ngân hàng mua, bán cũng thực hiện được mục đích của mình. Thật vậy, khi MB có thể triệt tiêu nhau thì không ảnh hưởng. Vừa mua và bán không thể tác động đến dự trữ. Khi NHTW mua chứng khoán thì lãi suất giảm, tác động đến đầu tư.  Ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ vốn.  Rủi ro trong kinh doanh. X u hướng: - Các quốc gia sẽ hoàn thiện thị trường. - Hàng hoá đa dạng, phong phú chủng loại. - Thị trường tài chính, thị trường khác tốt hơn. - Độ rủi ro trên thị trường giảm xuống. - 14 -
  15. Điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc Tăng giảm dự trữ bắt buộc Tăng giảm mức cung tiền AS P Nghiệp Kiểm E soát tín vụ thị dụng trường AD mở 0 Q Tăng, giảm S, I Tăng, giảm i thị trường Thay đổi i chiết khấu - 15 -
  16. 3.2. Mục tiêu của NHTW: NHTW đã sử dụng những công cụ của chính sách tiền tệ để kiểm soát mức cung tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu điều tiết của mình, trong đó đích cuối cùng là đạt được các vấn đề về sản lượng giá cả, công ăn việc làm của nền kinh tế. Nhưng ở đây, NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng mà ảnh hưởng của chính sách tiền tệ chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định từ 6 tháng đến 2 năm. Sẽ là quá muộn nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, tỷ giá, thất nghiệp để điều chỉnh các công cụ. Để khắc phục hạn chế này NHTW thường xác định các mục tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng. 3.2.1. Mục tiêu hoạt động: - Khái niệm: Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có ảnh hưởng trực tiếp đến các công cụ của chính sách tiền tệ. - Các loại mục tiêu hoạt động: Bao gồm: + Tổng dự trữ của NHTM. + Lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên Ngân hàng. K hi ta sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ sẽ ảnh hưởng ngay đến tổng dự trữ của NHTM hoặc lãi suất liên Ngân hàng. Cụ thể là khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, làm cho vốn của NHTW trên thị trường liên N gân hàng thu hẹp, từ đó m à lãi suất Ngân hàng tăng lên. Nếu NHTW tăng lãi suất chiết khấu, NHTG phải tự nâng lãi suất lên để tránh tình trạng “Phi trung gian hoá”. Cũng như tránh thiệt hại khi vay NHTW. Đối với nghiệp vụ thị trường mở, khi NHTW bán chứng khoán, dự trữ của NHTM giảm đi, khả năng cấp phát tín dụng của Ngân hàng cũng giảm theo và như thế cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế bị thắt chặt. Do đó các chỉ tiêu bị ảnh hưởng trực tiếp bởi công cụ chính sách tiền tệ là tổng dự trữ của NHTM và lãi suất liên Ngân hàng. - Điều kiện chọn mục tiêu hoạt động: + Thứ nhất: Các chỉ tiêu phải đo lường được. + Thứ hai: Các chỉ tiêu phải được kiểm soát. + Thứ ba: Chỉ tiêu này bị ảnh hưởng trực tiếp bởi công cụ của chính sách tiền tệ. Khi NHTW điều chỉnh những công cụ của chính sách tiền tệ thì mục tiêu ho ạt động ngay lập tức bị thay đổi. Sự phản ứng nhanh chóng chính xác của các chỉ tiêu hoạt động mỗi khi NHTW điều chỉnh chính sách tiền tệ giúp cho NHTW có thể kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định trong việc điều hành chính sách tiền tệ hàng ngày. - 16 -
  17. + Thứ tư, các chỉ tiêu hoạt động phải có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mục tiêu trung gian. Vì thế, sự lựa chọn mục tiêu hoạt động phụ thuộc vào việc NHTW chọn chỉ tiêu nào làm mục tiêu trung gian: Lãi suất hay tổng lượng tiền. N hư vậy, mục tiêu hoạt động có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Bằng việc đạt được các mục tiêu này, NHTW có thể đạt được mục tiêu trung gian và do đó mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất định. 3.2.2. Mục tiêu trung gian: - Khái niệm: Mục tiêu trung gian là chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục đích cuối cùng của chính sách tiền tệ. Mục tiêu trung gian là những biến số không phải là những công cụ thực sự, cũng không phải là mục tiêu cuối cùng của N HTW, nhưng nó là trung gian trong dây chuyền nhân quả của công cụ chính sách tác động đến mục tiêu cuối cùng. Các loại mục tiêu trung gian: Gồm mức cung tiền, lãi suất thị trường, tỷ giá, khối lượng tín dụng. Nhưng có lẽ mục tiêu phổ biến nhất là mức cung tiền và lãi suất. * Đ iều kiện lựa chọn mục tiêu trung gian: Thứ nhất: tính có thể đo lường được. Việc đo nhanh và đúng một biến số của chỉ tiêu trung gian là cần thiết bởi lẽ các chỉ tiêu này thật sự cần thiết khi nó phản ánh tình trạng của chính sách tiền tệ nhanh hơn mục tiêu cuối cùng. Liệu có lợi gì khi đặt kế hoạch đạt tỷ lệ tăng trưởng 5% của M2 nếu NHTW không có cách nào để đo lường một cách nhanh chóng và chính xác M2. Mặt khác tiêu chuẩn này cho thấy NHTW nên chọn chỉ tiêu cụ thể nào tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất. Thứ hai: Tính có thể kiểm soát được của NHTW. NHTW chỉ có khả năng kiểm soát thật sự một biến số nếu như biến số đó hoạt động như một chỉ tiêu hữu ích. Cụ thể sự trông đợi của các nhà kinh doanh sẽ quyết định đến tổng đầu tư và do đó GDP, nhưng nếu chọn chỉ tiêu này làm mục tiêu trung gian thì ảnh hưởng của NHTW đến mục tiêu này rất ít. Nếu NHTW chọn mục tiêu trung gian mà NHTW có khả năng kiểm soát thì không những ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ mà còn lãng phí những chi tiêu cần thiết để đạt được mục tiêu này. Thứ ba: mục tiêu trung gian phải có sự liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng. Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất của mục tiêu trung gian. Khả năng có thể đo lường chính xác hoặc khả năng kiểm soát của NHTW sẽ trở nên vô nghĩa nếu các chỉ tiêu được chọn không có ảnh hưởng trực tiếp đến - 17 -
  18. sản lượng hoặc giá cả. Do đó, mức cung tiền hay lãi suất đều có liên quan chặt chẽ với mức tăng trưởng kinh tế. * Các chỉ tiêu trung gian: + Chỉ tiêu m ức cung tiền: Cả hai chỉ tiêu m ức cung tiền và lãi suất đều thoả mãn các điều kiện trên nhưng NHTW không thể chọn hai chỉ tiêu làm mục tiêu trung gian mà chỉ được chọn một trong hai chỉ tiêu đó căn cứ vào mối liên hệ của các mục tiêu này đến mục tiêu cuối cùng. Bởi lẽ, nếu đạt được các mục tiêu về tổng lượng tiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động lãi suất và ngược lại. Chẳng hạn NHTW chọn mức cung tiền làm mục tiêu trung gian với tỷ lệ tăng tự định là x%, lãi suất tương ứng là i0. Tuy vậy, nếu MD không ấn định mà dao động giữa MD1 và MD 2 thì lãi suất sẽ biến động từ i1 đến i2. Tại đây các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu nắm giữ tiền tệ của công chúng làm cho nhu cầu tiền tệ tăng lên hoặc xuống là tất yếu. - 18 -
  19. Trong điều kiện cố định mức cung tiền, sự biến động lãi suất là hiển nhiên: i MS i2 MD 2 i0 MD 0 i1 MD 1 0 M0 M * Đ ánh giá mục tiêu mức cung tiền: Mỗi Ngân hàng được quy định một chính sách riêng biệt, lấy mức cung tiền hoặc lấy lãi suất làm mục tiêu trung gian. Vì vậy nếu NHTW chọn mức cung tiền làm căn cứ để đạt được của chính sách tiền tệ thì lúc đó lãi suất sẽ biến động phù hợp với tiêu dùng và đầu tư, vì vậy làm giảm đi sự biến động bất ngờ của tổng cầu. Cụ thể là trong một nền kinh tế mà tổng cầu biến động mạnh, nhu cầu tiền tệ luôn thay đổi thì việc cố định mức cung tiền sẽ làm cho lãi suất thay đổi, điều chỉnh đầu tư và tiêu dùng để tổng cầu biến động phù hợp với nền kinh tế. Điều hạn chế thể hiện ở chỗ mức cung tiền là m ục tiêu dài hạn của NHTW cho nên để đạt được mục tiêu này cần thời gian từ 6 tháng đến 2 năm. Do vậy mục tiêu cung ứng tiền tệ không có tác dụng điều chỉnh ngay lập tức mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. * Chỉ tiêu lãi suất: Chẳng hạn, với tốc độ tăng là y%, NHTW chọn lãi suất là mục tiêu trung gian, mức cầu tiền tệ tương ứng sẽ là MD 0. Trong thực tế, mức cầu tiền sẽ dao động từ MD1 đến MD2. Để đạt đ ược mức lãi suất tại i0, Ngân hàng buộc phải thay đổi mức cung tiền từ MS1 đến MS2 nhằm ngăn cản sự tăng lên hoặc giảm x uống của lãi suất so với i0. Như vậy, để duy trì mục tiêu lãi suất, mức cung tiền và tiền cơ sở sẽ biến động. - 19 -
  20. i MS2 MS0 MS1 E0 i0 MS2 MD 0 MD1 0 M0 M * Đ ánh giá chỉ tiêu lãi suất: Chúng ta biết rằng, lãi suất có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với nhu cầu tiêu dùng và đầu tư. N ếu lãi suất được chọn làm mục tiêu trung gian và được giữ cho ổn định, nó sẽ loại trừ ảnh hưởng của mức cầu tiền đến nền kinh tế. Như vậy, đối với nền kinh tế có mức cầu tiền biến động mạnh, việc chọn lãi suất làm cho mục tiêu trung gian thì thuận tiện. Tuy nhiên, mục tiêu lãi suất cũng có những hạn chế nhất định. Thứ nhất, mục tiêu lãi suất cần phải được sử dụng trong một môi trường mà ở đó thị trường tài chính phát triển sở dĩ vậy là vì một chỉ tiêu lãi suất, NHTW sẽ ngăn không cho lãi suất giảm bằng cách bán trái khoán để làm cho giá trái khoán giảm xuống và lãi suất lại tăng lên mức trước đó.Do đó với công cụ của thị trường mở, mục tiêu lãi suất mới thật sự hiệu quả. V ới sự biến đổi nhu cầu tiêu dùng đầu tư có thể do nhiều lý do khác (thuế, kỳ vọng) nên lãi suất ổn định có thể làm tăng thêm sự biến động của mức cầu tiền và tổng cầu. + Thứ hai, mục tiêu lãi suất không thể duy trì dài hạn được i danh nghĩa = i thực tế + tỷ lệ lạm phát dự kiến( theo Fisher) Chỉ khi tỷ lệ lạm phát ổn định, lãi suất không chịu ảnh hưởng của các yếu tố của nền kinh tế thì mới duy trì dài hạn. Chỉ tiêu tỷ giá; đặc điểm của hệ thống tiền tệ Việt Nam trong giai đo ạn hiện nay và trong tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế, đồng ngoại tệ còn chiếm một tỷ lệ đáng kể do đó, tuy các nước hầu hết đều chú trọng đến hai mục tiêu trung gian chủ yếu là lãi suất và mức cung tiền, - 20 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản