intTypePromotion=1

Luận văn: Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945

Chia sẻ: Orchid_1 Orchid_1 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:91

0
106
lượt xem
19
download

Luận văn: Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong lịch sử hằng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử chói lọi, là một biến cố vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nó lật đổ chế độ phong kiến, đập tan xiềng xích nô lệ của phát xít Nhật và thực dân Pháp. Đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, đưa Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945

  1. ®¹i häc th¸i nguyªn TRƯỜNG ®¹i häc SƯ ph¹m ---------------------------- Lª thÞ quúnh liu C«ng cuéc chuÈn bÞ lùc LƯỢNG vµ khëi nghÜa giµnh chÝnh quyÒn ë phæ yªn tØnh th¸i nguyªn (tõ 1939 ®Õn 1945) Chuyªn ngµnh: LÞch sö ViÖt Nam M· sè: 60.22.54 LuËn V¨n th¹c sÜ khoa häc lÞch sö NGƯỜI HƯỚNG dÉn khoa häc: TS. NguyÔn Duy TiÕn Th¸i Nguyªn – 2008
  2. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong lịch sử hằng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử chói lọi, là một biến cố vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nó lật đổ chế độ phong kiến, đập tan xiềng xích nô lệ của phát xít Nhật và thực dân Pháp. Đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, đưa Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành Đảng hoạt động công khai, hợp pháp. Thành công của cách mạng tháng Tám có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và tinh thần đoàn kết, quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do của nhân dân ta. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám là kết quả của quá trình chuẩn bị lực lượng lâu dài, chu đáo của toàn Đảng, toàn dân ta qua 3 phong trào cách mạng: phong trào (1930 - 1931), phong trào (1936 - 1939) và trực tiếp là phong trào (1939 - 1945). Ngày 20/8/1945, cách mạng tháng Tám thành công tại Thái Nguyên. Cùng với nhân dân toàn tỉnh, ngày 19/8/1945 nhân dân các dân tộc huyện Phổ Yên đồng loạt đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của nhân dân huyện Phổ Yên đã góp phần tạo điều kiệ n cho quá trình giành chính quyền ở tỉnh lỵ Thái Nguyên và các địa phương trong khu vực. Có đựơc thành công nhanh chóng là do nhân dân Phổ Yên đã có quá trình chuẩn bị lực lượng sẵn sàng cho tổng khởi nghĩa. Về quá trình chuẩn bị lực lượng, tiến lên khởi n ghĩa giành chính quyền ở huyện Phổ Yên đã được một số cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên còn có những nội dung cần được tiếp tục bổ sung, làm rõ hơn như: vị trí, vai trò của Phổ Yên trong quá trình xây dựng An toàn khu của TW; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  3. 2 việc đảm bả o giao thông liên lạc giữa phong trào cách mạng các tỉnh miền xuôi với chiến khu. Lịch sử dân tộc bao gồm lịch sử các địa phương, muốn nghiên cứu lịch sử của dân tộc một cách toàn diện thì không thể không tìm hiểu lịch sử của các địa phương. Việc nghiên cứu lịch sử địa phương sẽ góp phần làm sáng rõ, bổ sung, làm phong phú thêm lịch sử dân tộc và khẳng định vị trí không thể tách rời của lịch sử các địa phương Hiện nay, trước những yêu cầu cải tạo kinh tế, xã hội nhiều địa phương đã đẩy mạnh quá trình nghiê n cứu lịch sử địa phương, đúc kết những bài học kinh nghiệm quý, phát huy những truyền thống tốt đẹp nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, xã hội địa phương, xây dựng chế độ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Qua đó, tìm ra những nhược điểm để khắc phục. Lịch sử Phổ Yên là một bộ phận của lịch sử tỉnh Thái Nguyên, và là một bộ phận của lịch sử dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu về lịch sử Phổ Yên từ năm 1939 đến năm 1945 sẽ góp phần làm sáng rõ lịch sử dân tộc giai đoạn này. Nghiên cứu công cuộc vận động xây dựng lực lượng cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945 ở huyện Phổ Yên sẽ giúp chúng ta bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử, phục dựng chân xác hoạt động chuẩn bị lực lượng cách mạng ở huyện Phổ Yê n. Việc nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử của địa phương sẽ góp phần khơi dậy giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước và nâng cao niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa cho mọi thế hệ nhân dân Phổ Yên hôm nay và mai sau. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề “Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945” làm đề tài luận văn Thạc sĩ. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong những năm qua, công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên đã được một số tác giả, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  4. 3 cơ quan nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, được trình bày trong một số cuốn lịch sử địa phương và tản mạn ở nhiều tài liệu. Năm 1970, cuốn “Lịch sử thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám tỉnh Thái Nguyên 1939 – 1945” của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, các tác giả đã phân tích về hoạt động chuẩn bị lực lượng cho cách mạng tháng Tám ở tỉnh Thái Nguyên, trong đó có trình bày sơ lược về hoạt động cách mạng ở huyệ n Phổ Yên trước cách mạng tháng Tám. Cuốn “Lịch sử cách mạng tháng Tám Bắc Thái” xuất bản năm 1978, đã viết về hoạt động cách mạng ở Phổ Yên, ATK II và vai trò của nó đối với cách mạng tháng Tám, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêu các sự kiện. Với đề tài “Hoạt động của các chiến sĩ cộng sản ở trại tập trung Bá Vân thời kỳ 1941 – 1945” tác giả Nghiêm Xuân Thạo với sự hướng dẫn của Giáo sư Lê Mậu Hãn đã nghiên cứu những hoạt động của các chiến sĩ cộng sản trong Căng Bá Vân, nhưng chủ yếu dừng lại ở việc thu thập tài liệu. Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Phổ Yên”, tập I (1930 – 1954), xuất bản năm 1990, mở đầu các tác giả đã khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, con người và truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc huyện Phổ Yên trong quá trình xây dựng bảo vệ đất nước. Trong phần thứ nhất, với tiêu đề Xây dựng cơ sở Đảng, cuốn sách đã trình bày quá trình Pháp xâm lược nước ta và cuộc đấu tranh của nhân dân Phổ Yên chống thực dân Pháp, từng bước hình thành cơ sở cách mạng đầu tiên ở tổng Tiên Thù (xã Tiên Phong ngày nay), đường dây hoạt động cách mạng từ Căng Bá Vân lan ra Xuân Lãng, Phúc Thuận, Phi Đơn, Niệm Cuông, Mỏ Chè, Phố Cò…Phần thứ hai, các tác giả phân tích tình hình thế giới, trong nước và quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng đã góp phần định hướng thúc đẩy phong trào cách mạng ở huyện Phổ Yên. Cuốn sách đã dành nhiều trang để phân tích, trình bày phong trào cách mạng ở tổng Tiên Thù và những hoạt động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. 4 du kích liên quan đến hoạt động của các chiến sĩ cách mạng ở “Căng Bá Vân”. Về hoạt động chuẩn bị lực lượng trực tiếp cho tổng khởi nghĩa trong cao trào kháng Nhật, các tác giả đã trình bày về quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, vũ trang và chớp thời cơ giành chính quyền ở huyện lỵ Phổ Yên. Tuy cuốn sách đã dành nhiều trang trình bày về hoạt động chuẩn bị lực lượng, nhưng chưa hệ thống, chỉ tập trung chủ yếu vào hoạt động chuẩn bị lực lượng vũ trang, có nhiều sự kiện lịch sử chưa chính xác. Cuốn sách chưa phân tích và trình bày được vai trò, vị trí của công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến đến khởi nghĩa giành chính quyền của huyện Phổ Yên. Từ năm 1990 đến năm 1995, trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các cán bộ lão thành cách mạng, của đông đảo cán bộ, đảng viên trong toàn huyện, Ban thường vụ huyện uỷ Phổ Yên đã thẩm định và xác minh làm rõ nhiều vấn đề lịch sử trong thời kỳ 1930 – 1954 và quyết định biên soạn lại cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ Phổ Yên”. Trên cơ sở phê phán các loại tư liệu lịch sử, cuốn sách đã chỉnh lý bổ sung một số sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, nội dung cuốn “Lịch sử Đảng bộ Phổ Yên” xuất bản năm 1995 không có gì thay đổi lớn so với cuốn “Lịch sử Đảng bộ Phổ Yên” xuất bản năm 1990. Bài viết “Khởi nghĩa từng phần ở Bắc Thái” của tác giả Phạm Tất Quynh in trong tạp chí Lịch sử Đảng số 4/1995, đã trình bày về quá trình khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Thái Nguyên từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945). Trong đó, đã trình bày và phân tích một số sự kiện lịch sử diễn ra tại ATKII, trong đó có Phổ Yên. Năm 1997, Huyện uỷ Đồng Hỷ xuất bản c uốn sách “Sơ thảo lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Hỷ 1930 – 1995”, do Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh làm Chủ biên đã viết về một số sự kiện cách mạng diễn ra ở nam Đồng Hỷ, bắc Phổ Yên. Đây là nguồn tài liệu quý để nghiên cứu về lịch sử Phổ Yên và mối quan hệ giữa lịch sử lịch sử Phổ Yên với các địa phương khác trong khu vực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. 5 Năm 1998, cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ thị xã Sông Công 1985 – 1995” đã dành phần mở đầu chương I để viết về phong trào cách mạng trên địa bàn huyện Phổ Yên trước cách mạng tháng Tám, nhưng chỉ khái quát những nét chung chưa trình bày cụ thể, hệ thống về quá trình chuẩn bị lực lượng trong thời kì 1939 – 1945. Năm 1999, cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ xã Kha Sơn 1938 – 1995” do Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh làm chủ biên, đã có trình bày về mối quan hệ giữa cá c địa phương trong ATK II và mối quan hệ giữa ATK II với các địa phương khác. Năm 1999, trong cuốn sách “Thái Nguyên Lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống Pháp 1941 -1954” của Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Thái Nguyên, nhóm tác giả cũng đã trình bày khái quát về hoạt động cách mạng ở huyện Phổ Yên thời kỳ 1939 – 1945. Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”, tập I (1936 -1965) xuất bản năm 2003, trong phần mở đầu và chương I nhóm tác giả đã có đề cập đến tình hình Phổ Yên trước cách mạng tháng Tám, nhưng chủ yếu là những thủ đoạn cai trị của thực dân Pháp. Các tác giả mới chỉ nêu những nét chung về phong trào cách mạng ở Phổ yên chưa nêu cụ thể, hệ thống về phong trào cách mạng ở huyện Phổ Yên. Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ Phú Bình 1930 - 2005”, các nhà nghiên cứu đã có phân tích vị trí, mối quan hệ, vai trò của ATK II với các địa phương khác trong đó có hoạt động trước cách mạng tháng Tám ở huyện Phổ Yên. Tóm lại, cho đến nay chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ thống về công cuộc chuẩn b ị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên từ 1939 đến 1945. Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên là nguồn tư liệu lịch sử có giá trị khoa học, đó là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu, hoàn thiện luận văn của mình. 3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm v ụ nghiên cứu của đề tài 3.1. Đối tượng nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. 6 Đề tài nghiên cứu công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: chủ yếu huyện Phổ Yên (sau năm 1985 là huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công). Phạm vi thời gian: từ 1939 đến cách mạng tháng Tám năm 1945 . 3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn đi sâu vào nghiên cứu công cuộc chuẩn bị lực lượng (lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa) và khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Phổ Yên. Khôi phục chân xác công cuộc chuẩn bị lực lượng và diễn biến Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại huyện Phổ Yên. Từ đó, nêu rõ vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa ở Phổ Yên với các địa phương khác. 4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4.1. Nguồn tài liệu Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám là cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi khai thác triệt để các nguồn tư liệu lịch sử, tài liệu lịch sử liên quan đến công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám tại huyện lỵ Phổ Yên. Các công trình nghiên cứu Lịch sử có liên quan đến quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng cho cách mạng tháng Tám tại huyện Phổ Yên: Lịch sử Đảng bộ, Huyện bộ, Chi bộ, Lịch sử quân sự,… Các tập hồi ký của các đồng chí lãnh đạo Đảng, cán bộ lão thành cách mạng. Ngoài các tư liệu, tài liệu thà nh văn, những lời kể của các nhân chứng lịch sử là nguồn tư liệu quý, góp phần làm sáng rõ, cụ thể về công cuộc chuẩn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. 7 bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám trên quê hương Phổ Yên. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc để phục dựng lại công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. - Phương pháp thống kê, so sánh để thấy được sự phá t triển của phong trào cách mạng ở Phổ Yên so với các địa phương khác. - Phương pháp phân tích, tổng hợp để thấy được vai trò, vị trí và mối liên hệ giữa phong trào cách mạng ở Phổ Yên với các địa phương khác. - Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp điền dã, phỏng vấn. 5. Đóng góp của luận văn - Khôi phục chân thực toàn cảnh quá trình chuẩn bị lực lượng tiến tới giành chính quyền ở Phổ Yên trong cách mạng tháng Tám (từ 1939 đến 1945). - Phân tích, đánh giá vai trò của công cuộc chuẩn bị lực lượng trước cách mạng tháng Tám ở huyện Phổ Yên. - Luận văn làm rõ vai trò của Phổ Yên trong quá trình tham gia xây dựng An toàn khu của TW và vai trò “cầu nối liên lạc” giữa phong trào cách mạng các tỉnh miền xuôi với khu giải phóng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước và lòng tự hào dân tộc. 6. Bố cục nội dung luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được xây dựng thành 3 chương. Chương 1. Vài nét về mảnh đất con người và truyền thống lịch sử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. 8 Chương 2. Công cuộc xây dựng lực lượng cách mạng (từ 1939 đến 3/1945) Chương 3. Phổ Yên trong cao trào kháng Nhật cứu nước và khởi nghĩa giành chính quyền (từ tháng 3 đến 8/1945) Chương 1 VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ 1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên Phổ Yên (nay là huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công) là một huyện trung du, nằm phía nam tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) và huyện Phú Bình, phía nam giáp Sóc Sơn (Hà Nội), phía tây và tây bắc tiếp giáp với dãy Tam Đảo (Phúc Yên) và huyện Đại Từ, phía bắc giáp thị xã Thái Nguyên. Trung tâm của huyện là thị trấn Ba Hàng. Phổ Yên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô rất thuận lợi cho việc phát triển, thâm canh cây trồng theo mùa. Bên cạnh những thuận lợi, khí hậu Phổ Yên thường xuyên gây ra tình trạng lũ lụt, đặc biệt là khu vực phía nam của huyện. Vì vậy, nhân dân Phổ Yên thường xuyên phải kiên cường dũng cảm đương đầu với khó khăn của thiên nhiên và cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, xây dựng, bảo vệ quê hương từ đó đã tạo nên truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Diện tích tự nhiên của huyện khoảng 300 km2, thấp dần về phía nam và đông nam, tạo thành hai vùng với đặc điểm địa hình khác nhau, phía bắc và tây bắc của huyện là vùng đồi núi, xen kẽ với những dải đồng bằng hẹp, thích hợp cho việc trồng các cây công nghiệp (chè, lạc,…), cây ăn quả lâu năm (vải, nhãn, trám,…) và chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò). Phía đông nam và tây nam chủ yếu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. 9 là đồng đất tương đối bằng phẳng, liền kề với sông Cầu và sông Công, đất đai dễ canh tác, thuận tiện cho việc tưới tiêu, phù hợp với trồng lúa nước và các loại rau màu (su hào, cải bắp, cà chua đặc biệt là khoai lang và sắn). Ở vị trí trung tâm khu vực miền núi phía bắc , nên ngoài mạng lưới các tuyến đường liên huyện, liên xã đã được xây dựng và phát triển trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, trên địa bàn Phổ Yên còn có hai tuyến đường quốc gia. Đó là đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội đi Cao Bằng , đoạn đi qua huyện dài tới 30 km chạy theo hướng bắc nam và tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều, có ga đỗ tại trung tâm huyện lỵ. Hai tuyến đường này, cùng hệ thống đường liên huyện, liên xã trở thành mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân, thúc đẩy kinh tế, văn hoá địa phương phát triển. Ngoài các tuyến đường bộ, sông Cầu và sông Công cùng với hệ thống kênh máng, ao, hồ không chỉ thuận lợi cho việc tưới tiêu, là nguồn cung cấp thuỷ sản cho nhân dân trong huyện mà còn là hệ thống giao thông đường thuỷ hết sức quan trọng. Quan trọng nhất là sông Cầu và sông Công , từ thị xã Thái Nguyên sông Cầu chảy xuống phía đông và đông nam của huyện Phổ Yên, tạo thành danh giới tự nhiên với huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Sông Công chảy theo hướng bắc xuống nam, chia Phổ Yên thành hai phần. Hai con sông hợp lưu tại ngã ba Vát (thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành). Với lưu lượng nước tương đối lớn, hai con sông đã mang nhiều phù sa, nguồn lợi về cho huyện và góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Trong lịch sử sông Cầu không chỉ là biên giới tự nhiên bảo vệ phía bắc kinh thành Thăng Long mà còn là tuyến đường huyết mạch giao lưu kinh tế nối đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Bắc. Trên địa bàn huyện Phổ Yên, bến Đại Phùng xưa (nay là chợ Chã) đã từng là trung tâm giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền lớn nhất trong khu vực, từ đây hàng hoá ngược lên bến Thượng, Thái Nguyên và xuôi đến tận Hải Phòng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. 10 Do ảnh hưởng của điều kiệ n tự nhiên, cho nên trong suốt quá trình lao động, chống giặc ngoại xâm tộc người Kinh đã đoàn kết với các tộc người Tày , Nùng, Sán Dìu,…cùng xây dựng, bảo vệ quê hương Phổ Yên. Sau khi giành được quyền độc lập tự chủ, các triều đình phong kiến nước ta đã chọn Thái Nguyên để xây dựng tuyến phòng ngự chống lại giặc phương Bắc. Với vị trí nằm ở cực nam của tỉnh Thái Nguyên, cho nên Phổ Yên luôn là phên dậu quan trọng bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ. Nhìn chung, địa hình Phổ Yên là bán sơn địa, có nhiều đồi núi đất. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 còn có nhiều rừng rậm rất thuận lợi cho hoạ t động bí mật, xây dựng các cơ sở cách mạng, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền. 1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội huyện Phổ Yên Do đặc điểm điều kiện tự nhiên, cho nên kinh tế chủ yếu là nông lâm nghiệp mang tính chất tự cung tự cấp, đa số dân cư đã biết làm thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, ngoài ra cư dân trong huyện còn trồng xen canh các loại cây hoa màu khác (khoai lang, sắn, ngô) và chăn nuôi các loại gia súc gia cầm. Tại Phổ Yên, nghề thủ công đan lát khá phát triển, trong đó nghề truyền thống đan lát ở thôn Yên Trung, xã Tiên Phong với sản phẩm chủ yếu là : thúng, dần, sàng, nong, giỏ, nơm…không chỉ phục vụ cho nhâ n dân trong huyện, đã có nhiều lái buôn từ các nơi về cất hàng đem bán cho các địa phương trong khu vực. Thương nghiệp trong huyện nhìn chung không phát triển, chỉ được coi là nghề phụ, phần lớn được tiến hành vào lúc nông nhàn hoặc chỉ là sự trao đổi những nông sản dư thừa thông qua hệ thống chợ làng, ngoại trừ một vài cửa hàng buôn bán tại chợ Ba Hàng và chợ Chã , mặt hàng trao đổi chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu như muối, diêm,… Theo dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phổ Yên là một trong tám huyện thuộc phủ Phú Bình, Đạo Thái Nguyên (Bắc Đạo). Địa danh Phổ Yên đã phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. 11 cùng quá trình xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Qua các thời kỳ lịch sử, Phổ Yên vẫn thuộc phủ Phú Bình. Năm 1887, thi hành chính sách chia để trị của thực dân Pháp, Đồng Khánh cho thiết lập lại huyện Phổ Yên. Khi thành lập khu tự trị Việt Bắc (8/1956) Phổ Yên được chuyển giao sang cho tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 7/1957, Phổ Yên trở lạ i là huyện của tỉnh Thái Nguyên. Năm 1932, Phổ Yên có 7 tổng, 38 làng. Cuối năm 1984, Phổ Yên có 19 xã và 4 thị trấn (thị trấn Ba Hàng, Bãi Bông, Phúc Thuận và Mỏ Chè). Tháng 4/1985, Phổ Yên cắt một xã và một thị trấn (xã Cải Đan và thị trấn Mỏ Chè ) để thành lập thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên còn lại là 18 xã và 3 thị trấn [42]. Cư trú trên địa bàn huyện Phổ Yên là những cư dân thuộc 7 tộc người : “Kinh, Sán Dìu, Tày, Nùng, Dao, Hoa, Mường; trong đó người Kinh (Việt) c ó số đông (93,76%), Sán Dìu (5,09%), Tày (0,53%), Nùng (0,3%), Dao (0,26%), Hoa và các dân tộc khác chiếm 0,06% và sống xen kẽ vớ i nhau, riêng đồng bào Dao cư trú chủ yếu ở các xã chân dãy Tam Đảo” [41,tr.39]. Trên một địa bàn không rộng, có nhiều tộc người cùng cư trú, văn hoá - xã hội của Phổ Yên mang những sắc thái riêng. Bên cạnh kết cấu, quan hệ bản làng tồn tại ở các vùng dân tộc ít người là kết cấu quan hệ làng xóm với đình làng , luỹ tre xanh của người kinh. Đặc điểm đó đã làm phong phú thêm đời sống văn hoá , tâm linh của dân cư trên địa bàn. Trong quá trình phát triển của lịch sử , trải qua các cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, quan hệ giao lưu giữa các vùng, các dân tộc đã tạo nên một cộng đồng dân cư thống nhất bền chặt , đó là “cơ sở” để các tộc người trên địa bàn Phổ Yên cùng xây dựng quê hương và chống lại thù trong giặc ngoài. Với những đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những tư liệu lịch sử chứng tỏ đất và người Phổ Yên đã luôn gắn với quá trình xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, duy trì bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Quá trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. 12 phát triển lịch sử lâu dài đã hình thành cho con người Phổ Yên truyền thống yêu nước, bất khuất trước mọi thách thức, khó khăn. 1.3. Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế và thường xuyên phải cùng nhau trị thuỷ, chống lại giặc xâm lược từ phương Bắc, nhân dân các tộc người Phổ Yên luôn đoàn kết, gắn bó keo sơn. Tuy đời sống của nhân dân Phổ Yên còn nghèo khó về vật chất, nhưng họ đều rất dũng cảm, yêu lao động, căm thù mọi sự áp bức bất công. Những phẩm chất tốt đẹp đó được lưu truyền và phát huy từ thế hệ này sang t hế hệ khác và trở thành một trong những đặc điểm nhân cách của con người Phổ Yên. “Nhân dân Phổ Yên không chỉ cần cù, kiên nhẫn, sáng tạo trong lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên để biến những mảnh đất hoang vu xưa thành vùng đất màu mỡ, với những bản làng trù phú, mà còn dũng cảm kiên cường đấu tranh chống lại mọi áp bức, bất công và giặc ngoại xâm” [16,tr.4]. Kể từ khi cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược thất bại đến thành công của cuộc khởi nghĩa do Khúc Thừa Dụ lãnh đạo (179 TCN - 905), đất nước ta bị các triều đại phương Bắc kế tiếp nhau xâm lược. Trong hơn một thiên niên kỷ đó, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh giành độc lập : Tiêu biểu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248, khởi nghĩa Lý Bí năm 542, khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 722,.. Trong đó, mùa xuân năm 542, Lý Bí đã liên kết với các hào kiệt và nhân dân các Châu thuộc miền Bắc nước ta nổi dậy khởi nghĩa. Cùng với nhân dân trong vùng, nhân dân Phổ Yên đã nổi dậy ủng hộ nghĩa quân. Hiện nay, tại xã Hồng Tiến có nhiều ngôi chùa, đền đều thờ Lý Bí. Sự tham gia đóng góp của nhân dân Phổ Yên với cuộc khởi nghĩa đã gắn liền với địa điểm “đồi khao vương”, “ngòi khao vương” tại xã Tiên Phong ngày nay [77]. Năm 1077, nhà Tống cho 30 vạn quân vào xâm lược nước ta. Dựa vào địa thế núi sông, Nhà Lý (1010 - 1225) đã cho dựng phòng tuyến trên sông Như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. 13 Nguyệt (Sông Cầu) để chặn giặc. Trong cuộc chiến đấu đó, nhân dân các dân tộc Phổ Yên cùng đồng bào cả nước dưới sự chỉ huy trực tiếp của tướng Dương Tự Minh đã góp phần đánh tan quân Tống xâm lược. Ngày nay trên địa bàn huyện có nhiều ngôi chùa, đền, nghè ven sông Cầu đều thờ Cao Sơn Quý Minh đại vương thần (là Dương Tự Minh - một tướng quân thời Lý). Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng khủng hoảng , nền kinh tế bế tắc, đời sống nhân dân khốn cùng, bộ máy chính quyền ngày càng quan liêu, tha hoá. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, đã làm bùng lên làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp trong xã hội chống lại nhà Nguyễn. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, đã có gần 400 cuộc khởi nghĩa nổ ra. Năm 1806, Dương Đình Cúc phất cờ khởi nghĩa đã được đông đảo nhân dân Phổ Yên tham gia. Năm 1833, nhân dân Phổ Yên đã cùng đồng bào trong tỉnh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa do Nông Văn Vân lãnh đạo. Sau khi đánh chiếm Thái Nguyên, nghĩa quân đã bắt quan lại, thích vào mặt dòng chữ “quan tỉnh ăn hối lộ”, rồi đuổi ra khỏi thành. Sau đó nhân dân Phổ Yên lại tiếp tục tham gia cuộc khởi nghĩa do Cai Vàng chỉ huy [77]. Do triều Nguyễn phải tập trung lực lượng đàn áp các cuộc k hởi nghĩa của nông dân, cho nên biên giới phía bắc nước ta gần như bỏ ngỏ. Vì thế , năm 1870 tàn quân của phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn vào tỉnh ta, đánh chiếm thành Thái Nguyên và phủ Phú Bình. Nhân dân các dân tộc t rong phủ Phú Bình cùng các vùng lân cận hưởng ứng lời kêu gọi của tri phủ Đoàn Công Trịnh, đã tự vũ trang đánh trả kẻ thù, bảo vệ quê hương. Đầu năm 1884, quân Cờ Đen do Lý A Sinh cầm đầu đã đánh chiếm và cướp bóc hầu hết các tổng trong phủ Phú Bình. Một lần nữa nhân dân trong khu vực và quân triều đình do Tôn Thất Thuyết chỉ huy cùng đánh đuổi bọn giặc cướp lên phía Bắc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. 14 Cùng với truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động và dũng cảm, đoàn kết chống lại giặc ngoại xâm, nhân dân các dân tộc Phổ Yên còn có truyền thống hiếu học, thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng…Tất cả những truyền thống tốt đẹp đó là chất men tạo nên khối đại đoàn kết, sức mạnh phi thường để con người nơi đây chinh phục cải tạo thiên nhiên, chống lại mọi áp bức bất công và đạp bằng mọi thế lực thù địch. Sau các cuộc cách mạng tư sản, giai cấp tư sản đã đẩy nhanh cuộc cách mạng kỹ thuật sản xuất nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển. Để đẩy nhanh nền kinh tế phát triển, các nước tư bản chủ nghĩa đã tiến hành xâm lược các nước thuộc địa, mà đích đến là các nước Á, Phi, Mỹ La Tinh và trước hết là châu Á. Từ nửa sau thế kỷ XIX, lợi dụng sự suy yếu của chế độ phong kiến Việt Nam thực dân Pháp từng bước tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Ngày 1/9/1858, quân Pháp nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược quy mô của thực dân Pháp. Trong khi nhân dân cả nước quyết đứng lên kháng chiến, chống thực dân Pháp xâm lược thì nhà Nguyễn đã từng bước nhượng bộ , đầu hàng giặc. Với điều ước Nhâm Tuất (1862) triều đình Huế đã nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà). Trong tháng 6/1867, quân Pháp đã chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ không tốn một viên đạn (Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên). Với Hiệp ước Hác - măng (1883), Hiệp ước Pa - tơ - nốt (1884) thực dân Pháp đã cơ bản đặt được ách thống trị lên đất nước ta. Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng các tỉnh Nam bộ , Trung bộ và đồng bằng Bắc bộ, thực dân Pháp bắt đầu đem quân đi đánh chiếm các tỉnh trung du và miền núi phía bắc Bắc bộ. N gày 1 7 /3/1884, t hực dân Pháp đưa hai đại đội thuộc tiểu đoàn x ung kích Angiêri và một trung đội pháo từ Bắc Ninh qua Hiệp Hoà đánh c hiếm phủ Phú Bình , c ửa ngõ phía đông nam của tỉnh Thái Nguyên. Nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. 15 d ân Phổ Yên cùng với nhân dân phủ Phú Bình , H iệp Hoà và quân đ ội t riều đình đã chặn đánh cuộc hành binh của Pháp , làm cho chúng bị tổn t hất nặng nề và phải bỏ dở cuộc tấn công . Sau khi củng cố lực lượng, ngày 19/3/1884, quân Pháp từ Bắc Ninh tiến sang đánh chiếm thị xã Thái Nguyên. Do chênh lệch về lực lượng và sự n hu nhược của bọn quan quân, từ tháng 5/1884 thực dân Pháp từng bước đặt ách thống trị lên đầu nhân dân Thái Nguyên, trong đó có huyện Phổ Yên. Sau khi hoàn thành việc xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã biến bộ máy nhà nước của triều Nguyễn thành công cụ, tay sai đắc lực cho chúng. Chính quyền thực dân đã sử dụng cả hệ thống bộ máy nhà nước từ triều đình cho đến tận các làng xã. Với những thủ đoạn đó, thực dân Pháp chẳng những che đậy được bộ mặt thực dân xâm lược mà còn tạo ra một đội ngũ tay sai trung thàn h với chúng cả về kinh tế và chính trị. ở mỗi cấp chính quyền, thực dân Pháp duy trì một lực lượng quân sự nhất định để làm công cụ đàn áp nhân dân ta. Đứng đầu bộ máy cai trị bản xứ ở cấp tỉnh là viên Công sứ người Pháp. “Đến năm 1901, thực dân Pháp cơ bả n thiết lập xong bộ máy cai trị tại tỉnh Thái Nguyên” [41,tr.10]. Thực dân Pháp chia huyện Phổ Yên làm 6 tổng, 28 làng (1901). Để bảo vệ chính sách thống trị của mình, thực dân Pháp thiết lập hệ thống đồn bốt dày đặc, vững chắc nhằm kiểm soát các đầu mối giao thông quan trọng, các khu vực quan trọng như đồn Sơn Cốt (1886), đồn Trinh Nữ, Phố Cò, Phúc Thuận,…đến năm 1934 - 1935 chúng lập thêm đồn Chã, Hà Châu. Hệ thống đồn bốt này nằm trong bộ máy cai trị thực dân trong phạm vi toàn tỉnh Thái Nguyên, nhằm trấn giữ vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng Bắc bộ với miền thượng du phía bắc. Dưới thời thực dân phong kiến, nhân dân ta phải sống trong cảnh nghèo đói. Phần lớn ruộng đất đều bị địa chủ người Pháp hoặc địa chủ người Việt chiếm đoạt, người nông dân bị bần cùng hoá không lối thoát. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. 16 Năm 1887, trong khi chưa hoàn thành công cuộc bình định Thái Nguyên, nhưng thực dân Pháp đã cấp giấy phép cho địa chủ người Pháp chiếm đất lập đồn điền, quá trình đó diễn ra liên tục từ năm 1887 đến những năm 30 đầu thế kỷ XX. Nghị định 1/5/1900, cho phép Khâm sứ Trung Kì, Thống sứ Bắc Kì, Thống đốc Nam Kì có quyền cấp cho mỗi người 300 ha trở xuống, Toàn quyền Đông Dương có quyền cấp ít nhất từ 300 ha trở lên. Cho nên ruộng đất của nông dân bị bọn địa chủ người Pháp, người Việt ra sức cướp đoạt trắng trợn. Dựa vào Nghị định của Toàn quyền Đông Dương cho phép những nhà doanh nghiệp Pháp được khẩn hoang ruộng đất bỏ trống để lập đồn điền. Được sự giúp đỡ của viên Công sứ đầu tỉnh, bọn thực dân đã dùng vũ lực để đánh đuổi hàng trăm gia đình nông dân đi nơi khác để chiếm đất, chiếm ruộng. Dưới danh nghĩa “Công ty dân dụng đồn điền” do Guillaume làm chủ có trụ sở ở Chã và Thác Nhái, cũng như Công ty “Râynud cha và con” có trụ sở ở Sơn Cốt đ ã d ùng nhân viên của sở địa chính có lính đi kèm đ ể đo đất quy hoạch cho đ ồn điền, a i có ruộng trong phạm vi quy hoạch đó sẽ mất quyền làm chủ , a i có thái độ chống lại lậ p tức bị kết tội: c hống lại nhà nước bảo hộ và bị t rừng phạt nghiêm khắc [65 ]. Ngay từ năm 1898, bọn điền chủ Pháp đã bắt đầu cướp đoạt ruộng đất, đồi bãi của nhân dân Nam Phổ Yên để lập đồn điền Chã , chúng chuyên canh các loại cây nông sản như: lúa, cà phê, chè, trẩu. Trong đó, có 448 hộ tá điền phần lớn được mộ từ dưới xuôi lê n và hàng trăm người làm công hoặc làm khoán theo việc, hằng năm đã mang lại cho chủ một khoản lợi rất lớn. Sau đồn điền Chã, hàng loạt các đồn điền khác như đồn điền Sơn Cốt , do tên Raynô lập 1898 rộng 3634 ha, các đồn điền Thác Nhái, Phúc Thuận rộng từ 200 đến 300 ha. Ngoài ra còn hơn 660 ha ruộng đất của 10 tên địa chủ người Việt và gần 1000 mẫu ruộng nửa công nửa tư, về hình thức đây là ruộng đất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. 17 làng xã nhưng thực chất thì do bọn cường hào địa chủ chức dịch địa phương quản lý và dần tập trung vào tay chúng. Số địa chủ người Việt tuy không có quyền lực , sức mạnh như địa chủ người Pháp nhưng dựa vào chính quyền thực dân chúng ra sức áp bức , bóc lột giai cấp nông dân, tước đoạt ruộng đất của nông dân ở những nơi mà bọn thực dân chưa vươn tới. Dưới chế độ thực dân phong kiến, giai cấp nông dân chiếm trên 90% dân số trong huyện. Trong đó, 80% không có hoặc thiếu ruộng đất canh tác , phải làm tá điền, cam chịu cuộc sống làm thuê cuốc mướn trong các đồn điền của địa chủ. Hầu hết ruộng đất bị chủ đồn điền và địa chủ chiếm đoạt. Ngoài các chủ đồn điền, số địa chủ không nhiều, chủ yếu là địa chủ vừa và nhỏ. Hình thức bóc lột chính và phổ biến nhất là thu tô và cho vay nặng lãi. Thông thường mức tô từ 50 đến 60% sản lượng, bất kể ruộng đất tốt hay xấu, được mùa hay mất mùa, mức tô là 8 phương thóc (tương đương 160 kg) một mẫu. Những gia đình nông dân nghèo không có trâu cày, phải thuê trâu của nhà giàu với giá từ 8 - 12 phương thóc một con. Ngoài tô chính còn nhiều khoản tô phụ như lễ lạt , biếu xén trong các dịp giỗ, tết. Lãi suất cho vay rất cao, vay thóc thường được địa chủ tính lãi theo mùa, với mức lãi từ 50 đến 60%. Do đó, lãi mẹ đẻ lãi con khiến cho người vay không thể trả hết nợ, buộc phải gán ruộng đất cho địa chủ [65]. Trong các đồn điền của Pháp , c húng kết hợp hình thức bóc lột phong k iến với hình thức bóc lột tư bản. B ên cạnh việc duy trì hình thức phát c anh thu tô đối với tá điền , c húng tìm cách bóc lột ngày công đối những n gười làm khoán hay công nhật vào các dịp mùa vụ. “ Quyền lực của bọn đ ịa chủ Pháp - V iệt rất lớn. Mỗi đồn điền được tổ chức như một đơn vị hành chín h riêng, c ó chánh phó tổng , l ý trưởng và lực lượng tuần đinh p hục vụ cho công việc quản lý đồn điền và ấp trại” [41,tr.12 ]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. 18 Cùng với các chính sách bóc lột , vơ vét cướp đoạt ruộng đất bần cùng hoá nông dân của giai cấp địa chủ là chính sách thuế khoá nặng nề của chính quyền thực dân phong kiến. Riêng thuế trực thu năm 1932 , nhân dân Phổ Yên phải nộp 26.871 đồng, b ình quân mỗi xuất đinh nộp hơn 7 đồng trong một năm (thời giá năm 1932 từ 3 ,8 đồng đến 4 đồng một tạ gạ o). Ngoài ra còn hàng chục thứ thuế vô lý k hác, cùng với phu phen tạp dịch…đã đẩy người lao động vào cuộc sống cùng cực , “ nghèo nàn, sơ xác, thất nghiệp, điêu linh. Đó là bộ mặt thật của dân cày Đông Dương” nói chung cũng như nhân dân Phổ Yên nói riêng [42]. Sau khi từng bước đặt ách thống trị lên đầu nhân dân Thái Nguyên, thực dân Pháp đã thi hành chính sách chia để trị. Chúng chia rẽ , gây ra sự thù hằn giữa các tộc người, các tôn giáo, thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ tối thiểu của người dân. Thủ đoạn thâm độc, phổ biến của thực dân Pháp trên địa bàn Phổ Yên là tạo ra sự khác biệt, gây ra sự thù hằn giữa những tá điền trong các đồn điền với nông dân ngoài đồn điền (gọi là dân xứ). Đối với tá điền trong các đồn điền chúng cho đi lại tự do, tự do nấu rượu, đánh bạc,…được miễn các thứ phu phen tạp dịch. Ngược lại đối với “dân xứ” chúng tuyên truyền là bọn “khố rách áo ôm” và bị chèn ép cướp bóc thường xuyên. Ngoài ra chúng tìm mọi cách mua chuộc, nâng đỡ, dung dưỡng bọn tay sai, nâng đỡ bộ máy tay sai địa phương, thông qua bọn này để kiểm soát, bóc lột nhân dân. Bên cạnh những thủ đoạn chia để trị, mua chuộc dụ dỗ thực dân Pháp sẵn sàng sử dụng vũ lực thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Đồng thời với những thủ đoạn thâm độc về chính trị và để tạo điều kiện cho việc bóc lột, thực dân Pháp thi hành chính sách nô dịch và ngu dân. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, toàn huyện chỉ có một trường tiểu học với khoảng 100 học sinh, đa số là con em người nhà của địa chủ, quan lại và những gia đình giàu có. Tuyệt đại đa số con em nông dân người lao động không được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. 19 đi học, hơn 95% dân số Phổ Yên mù chữ. Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Pháp sử dụng báo chí, văn hoá,…để phục vụ công cuộc khai thác và thống trị. Chúng ưu tiên, khuyến khích xuất bản các loại sách báo theo chủ trương “Pháp - Việt đề huề”, “Pháp - Việt hợp tác”. Hệ quả là các trào lưu tư tưởng mới, khoa học kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật phương Tây có điều kiện tràn vào Việt Nam. Các yếu tố, giá trị văn hoá truyền thống và văn hoá ngoại nhập, nền văn hoá mới, tiến bộ từng bước được định hình. Trên địa bàn huyện Phổ Yên, do tác động của chính sách văn hoá giáo dục của thực dân Pháp, đã hình thành nên số ít trí thức tân học, đó là điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp thu lý luận cách mạng tiên tiến và hoạt động cách mạng, tiêu biểu như đồng chí Đỗ Đình Tạo (Tú Tạo), đồng chí Ngô Hải Long. Lợi dụng trình độ văn hoá thấp kém của quần chúng, thực dân Pháp khuyến khích việc mê tín dị đoan. Sức khoẻ, tính mạng của nhân dân lao động bị coi thường. Cả huyện chỉ có một y tá chữa bệnh cho bọn quan lại và binh lính. Người dân mỗi khi bị đau ốm, chỉ biết cầu trời, khấn Phật. Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút,…được khuyến khích phát triển. Những chính sách của thực dân Pháp đã làm cho đời sống nhân dân Phổ Yên thêm cơ cực. Với chính sách phả n động trên, dưới chế độ thực dân, phong kiến, người dân Phổ Yên vô cùng cực khổ lầm than, “tức nước vỡ bờ” nhân dân Phổ Yên không cam chịu kiếp sống trâu ngựa, đã nhiều lần đứng lên đấu tranh để giành lấy quyền sống, quyền làm người. Ngay từ khi thực dân Pháp đánh chiếm Thái Nguyên, trước sự chống cự yếu ớt rồi đi đến đầu hàng giặc của quan quân triều Nguyễn, nhân dân các dân tộc Phổ Yên đã luôn đoàn kết cùng nhân dân các dân tộc Thái Nguyên nói chung, sát cánh, quy tụ xung quanh các thủ lĩnh địa phương, tiến hành những trận tập kích, phục kích các toán lính Pháp đang tiến hành lùng sục , bình định các vùng phụ cận tỉnh lỵ, huyện lỵ, khiến cho tên Công sứ tỉnh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2