intTypePromotion=1

Luận văn: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Chia sẻ: Nguyễn Thành Long | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:34

0
52
lượt xem
5
download

Luận văn: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH đất nước, cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư

  1. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 3 Phần 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ  CÔNG   NGHIỆP   HÓA,   HIỆN   ĐẠI   HÓA   ĐẤT  NƯỚC   VÀ   CÁCH   MẠNG   CÔNG   NGHIỆP   LẦN  THỨ TƯ 5 1.1. Một số  vấn đề  lý luận về  công nghiệp hóa, hiện   đại   hóa  đất  nước  và cách  mạng công  nghiệp  lần  thứ tư  5 1.2. Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước  thời gian qua  14 Phần 2 MỘT SỐ  GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP  HÓA, HIỆN  ĐẠI  HÓA  ĐẤT  NƯỚC  TRONG  ĐIỀU  KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ 21 2.1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh   tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả 21 2.2. Đẩy mạnh hoạt động liên kết vùng kinh tế 23 2.3. Phát triển khoa học ­ công nghệ, giáo dục ­ đào tạo,  nâng cao năng lực sáng tạo, chất lượng nguồn nhân  lực 25 2.4. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể  chế  kinh tế   thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa 26 2.5. Đổi mới quản trị  nhà nước, xây dựng chính phủ  điện tử, quản trị thông minh 28 KẾT LUẬN 28 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
  2. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ 1 CNH Công nghiệp hóa 2 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 2 KHCN Khoa học công nghệ 3 KT ­ XH Kinh tế ­ xã hội 4 KTCN Kỹ thuật công nghệ 2
  3. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Kể  từ  khi Đảng ta đề  ra đường lối CNH và lãnh đạo việc tiến hành   công cuộc CNH  trong thực tiễn đường lối đó nhằm đưa đất nước ra khỏi  tình trạng một nước nông nghiệp lạc hậu và kém phát triển về công nghiệp  tính đến nay đã trên nửa thế kỷ. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt   và kéo dài không những đã làm gián đoạn công cuộc CNH, mà bom đạn Mỹ  còn phá huỷ hầu hết những gì mà nhân dân ta đã làm được trong thời kỳ hoà   bình ở miền Bắc trước đó. Đồng thời, sau khi chiến tranh kết thúc, do nhiều   nguyên nhân khác nhau, cả  chủ  quan lẫn khách quan, nên đất nước đã rơi  vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về KT ­ XH. Hơn thế nữa, quan niệm   cũ về  CNH  đã trở  nên quá lạc hậu trước sự  biến đổi mạnh mẽ  của khoa  học và công nghệ hiện đại. Những thành tựu mà nhân dân ta thu được trong  quá trình đổi mới, sự  nhận thức mới về thời đại, về  vai trò của khoa học,  công nghệ  và vai trò của con người trong phát triển KT ­ XH đương đại,   cũng như những khó khăn và cả những sai lầm khó tránh... đã được Đảng ta   đúc kết thành những bài học có giá trị trong việc chỉ đạo công cuộc xây dựng  và phát triển đất nước. Công nghiệp hoá theo hướng hiện đại được coi là   nhiệm vụ  trọng tâm để  sớm đưa nước ta cơ  bản trở  thành một nước công  nghiệp. Sự đánh giá khách quan kinh nghiệm của các nước xung quanh nước   ta đã CNH thành công đã góp phần giúp Đảng ta, qua các kỳ đại hội, đúc kết   thành lý luận CNH đầy đủ  hơn  ở  một đất nước kém phát triển trong điều  3
  4. kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và kinh tế  tri thức   ngày càng đóng vai trò quan trọng. Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất   mạnh mẽ, tạo cơ  hội phát triển cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang   phát triển. Đối với nước ta, nếu tận dụng được những thành tựu của cuộc   cách mạng này có thể  “đi tắt, đón đầu”, đẩy mạnh và rút ngắn thời gian  tiến hành CNH, HĐH đất nước; đồng thời cũng có thể  làm n cho chúng ta   sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn nếu không tận dụng được cơ hội này. Thực tế  đó đang đặt ra vấn đề  cần phải có những giải pháp phù hợp đối với quá  trình CNH, HĐH đất nước hiện nay.  Vì vậy, tác giả  chọn vấn đề:  Công   nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp   lần thứ tư làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. 2. Mục tiêu, nội dung nghiên cứu  * Mục tiêu nghiên cứu  Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH  đất nước, cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trên cơ sở đó đề xuất  một số  giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong điều kiện cách mạng công  nghiệp lần thứ tư.  * Nhiệm vụ nghiên cứu  ­ Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về CNH, HĐH đất nước, cách  mạng công nghiệp lần thứ tư.   ­ Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình CNH, HĐH đất nước thời  gian vừa qua.  ­ Đề  xuất  một số  giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong  điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư.  4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  * Đối tượng nghiên cứu  4
  5. Quá trình CNH, HĐH đất nước. * Phạm vi nghiên cứu  ­ Về thời gian: từ năm 2010 đến nay. ­ Về không gian: trên phạm vi cả nước. 4. Kết cấu Ngoài phần mở  đầu, đề  tài gồm 2 phần (7 tiết), kết luận và danh   mục tài liệu tham khảo. Phần 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG NGHIỆP  HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP   LẦN THỨ TƯ 1.1. Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  nước và cách mạng công nghiệp lần thứ tư 1.1.1. Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa  đất   nước 1.1.1.1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa  Công nghiệp hoá có lịch sử  phát triển khoảng ba trăm năm nay, bắt  đầu từ  nước Anh vào cuối thế  kỷ  XVIII, sau đó lan sang các nước  ở  Tây   Âu, Bắc Mỹ... và ngày nay  ở  các nước đang phát triển. Theo đó, có nhiều  cách hiểu khác nhau về công nghiệp hoá như: công nghiệp hoá tư bản chủ  nghĩa, công nghiệp hoá xã hội chủ  nghĩa, công nghiệp hoá của các nước  đang   phát   triển.   Tổ   chức   Phát   triển   công   nghiệp   của   Liên   Hiệp   Quốc  (UNIDO) đã tổng kết hiện có 128 khái niệm về công nghiệp hoá. Các khái  niệm này xét về mục đích, phương pháp tiến hành, về  điều kiện KT ­ XH   5
  6. là khác nhau; CNH có tính lịch sử gắn với những điều kiện của mỗi nước  trong các thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, theo nghĩa chung nhất, công nghiệp   hoá  là quá trình chuyển một nền kinh tế lạc hậu, nông nghiệp là chủ yếu  thành một nước có nền kinh tế công nghiệp.  Hội nghị  đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ  khoá VII của Đảng (1­ 1994) tiếp tục coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng  hàng đầu, là con đường khả dĩ duy nhất có thể đưa đất nước thoát khỏi nguy  cơ tụt hậu xa hơn nữa so với các nước xung quanh, là cách thức để ổn định  chính trị, xã hội, bảo vệ  độc lập, giữ  vững chủ  quyền quốc gia và định  hướng   phát   triển   xã   hội   chủ   nghĩa.   Hội   nghị   một   lần   nữa   khẳng   định:  “chúng ta tiến hành công nghiệp hoá không theo kiểu cũ, không lặp lại sai  lầm nóng vội, chủ quan mà Đại hội VI đã phê phán. Công nghiệp hoá thực  chất là xây dựng cơ sở vật chất ­ kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó không   chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong  nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về  công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền  của toàn bộ nền kinh tế quốc dân” [7, tr. 27]. Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung  ương khoá VII đã ra NQ số  07­NQ/HNTW về  phát triển công nghiệp, công  nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và  xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó  chỉ  rõ:  “Công  nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt   động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng sức  lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với   công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự  phát   6
  7. triển của công nghiệp và tiến bộ  KHCN, tạo ra năng suất lao động xã hội  cao” [8, tr. 4]. 1.1.1.2. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước  Một là, đổi mới, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ của nền kinh   tế theo hướng hiện đại Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là cuộc cách mạng về  lực  lượng sản xuất nhằm chuyển nền kinh tế dựa trên trình độ KTCN thủ công,  năng suất lao động thấp thành nền kinh tế  công nghiệp dựa trên trình độ  KTCN hiện đại, năng suất lao động cao. Để thực hiện sự cải biến này phải   đổi mới và nâng cao trình độ  KTCN của nền kinh tế theo hướng hiện đại;  thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá sản xuất.  Đối tượng đổi mới KTCN là tất cả  các ngành, các lĩnh vực của nền  kinh tế  quốc dân. Trong đó, cần chú trọng các ngành sản xuất tư  liệu sản   xuất, các ngành công nghiệp chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, một  số ngành công nghiệp mới, công nghiệp dựa trên công nghệ cao. Phải đổi mới  công nghệ ở các khâu của quá trình tái sản xuất nhằm bảo đảm tính đồng bộ,  cân đối của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên, cần đột phá  vào những khâu có ý nghĩa quyết định đến nâng cao sức cạnh tranh của sản  phẩm trên thị trường, các lĩnh vực phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông   thôn. Hai là, xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu   quả Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, các yếu   tố đó có vai trò, tỷ trọng khác nhau, song quan hệ chặt chẽ với nhau, phản  ánh tình trạng phân công lao động xã hội và trình độ  phát triển của lực  lượng sản xuất. Dưới những góc độ khác nhau có các dạng cơ cấu kinh tế  7
  8. như: cơ  cấu kinh tế  ngành (công nghiệp ­ nông nghiệp ­ dịch vụ); cơ  cấu  kinh tế vùng; cơ cấu thành phần kinh tế... trong đó cơ cấu kinh tế ngành có   tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.  Xây dựng cơ  cấu kinh tế  là nội dung cơ  bản của quá trình công  nghiệp hoá, hiện đại hoá. Điều quan trọng là phải tạo ra được một cơ cấu  kinh tế hợp lý. Đó là một cơ cấu kinh tế phản ánh đúng các quy luật khách   quan mà trước hết là quy luật kinh tế; phù hợp với xu thế  tiến bộ  của   KHCN; cho phép khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước; thực  hiện tốt sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Công   nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  từ  lạc   hậu, mất cân đối, ít hiệu quả sang một cơ cấu kinh tế phù hợp với nền sản   xuất lớn hiện đại dưới tác động của cách mạng KHCN và xu thế mở cửa,   hội nhập. Đối với nước ta, Đảng ta chủ  trương phải từng bước xây dựng cơ  cấu kinh tế  công nghiệp ­ nông nghiệp ­ dịch vụ  hiện đại gắn với phân   công lao động và hợp tác quốc tế  sâu rộng. Khi cơ  cấu kinh tế  này được  được hình thành, nước ta sẽ kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.  1.1.2. Một số  vấn đề  lý luận về  cách mạng công nghiệp lần thứ   tư Cách mạng công nghiệp lần thứ  tư  bắt đầu xuất hiện từ  thập niên   đầu tiên của thế  kỷ  XXI. Khác với các cuộc cách mạng trước kia, cuộc  cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự gắn quyện giữa các nền công nghệ  làm xóa đi ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới số hóa và thế giới sinh   học. Đó là các công nghệ  internet vạn vật, trí tuệ  nhân tạo, người máy, xe  tự  lái, in ba chiều, máy tính siêu thông minh, công xưởng thông minh, công  nghệ nano, công nghệ sinh học...  Internet vạn vật (Internet of Things IoT) là hệ  thống mạng điện tử  8
  9. mới dựa trên công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, không chỉ kết  nối con người với vật thể, con người với con người mà còn kết nối cả vật   thể với vật thể, làm cho máy móc có thể  giao tiếp với máy móc trong môi  trường chung đa tầng nấc, đa chiều cạnh thông qua việc sử dụng các công  cụ  hiện đại: website, email, điện thoại thông minh, mạng truyền thông xã   hội, thiết bị   điện tử, thiết bị  số  hóa, thiết bị  cảm biến siêu  cao... Với  internet vạn vật, không gian thực (real sphere) và không gian  ảo (virtual   sphere); hệ thống vật thể (physical system) và hệ  thống số  (digital system)  giao hòa với nhau ngày càng hữu cơ, làm thay đổi căn bản phương thức tổ  chức và vận hành đời sống xã hội cũng như  nền sản xuất ­ dịch vụ ­ kinh   doanh.  Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence ­ AI) là công nghệ mô phỏng  các quá trình tư duy, nhận thức của con người, trong đó có các quá trình học  tập, phân tích, xử lý, lập luận, dịch thuật, sáng tác, dự báo, tự điều chỉnh...  Hơn nữa, trí tuệ  nhân tạo còn mô phỏng được cả  một số  hành vi của con  người, trong đó chứa đựng trạng thái tinh thần, cảm xúc, khả năng ứng xử  phù hợp với từng cảnh huống. Trên nền tảng của trí tuệ nhân tạo, các thiết  bị tự  động sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trong quá trình sản xuất vật chất  hoạt động kinh doanh, tác chiến quân sự, an ninh và nhiều loại hình lao  động khác cũng như trong đời sống thường nhật của con người.  Công nghệ in 3 chiều (3D Printing) hay còn được gọi là chế tạo cộng  (Additive Manufacturing), là công nghệ tạo ra một sản phẩm vật chất bằng  cách bồi đắp dần các lớp vật liệu từ  một bản vẽ  hay một mô hình 3D có   trước. Khác với công nghệ  chế  tạo truyền thống ­ chế  tạo trừ  (Reductive   Manufacturing), đây là mô hình sản xuất mới, hết sức tùy biến sản xuất ra   những sản phẩm theo “số   đo” của từng người, theo nhu cầu của từng   khách hàng; ngoài ra, quá trình sản xuất những phụ  tùng thay thế  sẽ  rất  9
  10. tiện lợi: các yêu cầu và thông số  kỹ  thuật được chuyển cho các tổ  chức   mẹ, khâu chế tạo sản phẩm sẽ được các công ty con thực hiện tại chỗ nhờ  hệ  thống máy tính dữ  liệu lớn (big data) kết nối đa chiều. Đây thật sự  là  điểm khởi đầu cho sự  hình thành các công xưởng, nhà máy thông minh   (Smart   Factory)   triển   khai   một   nền   sản   xuất   được   cá   tính   hóa  (individualized mass production) mà các nhà tư tưởng kinh tế xuất sắc của  nhân loại đã dự báo cách đây gần 170 năm. Với mô hình sản xuất 3D ở các   nhà máy thông minh, lợi thế cạnh tranh sẽ dịch chuyển từ chi phí, quy mô  đầu tư... sang các yếu tố  khác (ý tưởng, thiết kế, chức năng riêng biệt,   chuỗi cung ứng, dịch vụ...). Khi nền sản xuất này trở thành phổ biến, chắc   chắn các quy luật của kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa sẽ phải biểu   hiện dưới hình thức mới, khác nhiều so với thời kỳ kinh điển từ  trước tới   nay.  Công nghệ sinh học hiện đại (modern biotechnology) với hạt nhân là  công nghệ  gen hay công nghệ  di truyền (genetic engineering) đã phát triển   lên tầm cao của lực lượng sản xuất trực tiếp. Công nghệ gen bao gồm các  kỹ  thuật thực hiện trên axit nucleic nhằm nghiên cứu cấu trúc của gen;  điều chỉnh và biến đổi gen; tách, tổng hợp và chuyển các gen mong muốn  vào các tế bào sinh vật chủ mới tạo ra các cơ thể mới (thực vật, động vật,   vi sinh vật) mang đặc tính mới. Ngoài ra, công nghệ sinh học hiện đại còn  bao gồm công nghệ tế bào, công nghệ enzym và protein, công nghệ vi sinh   vật, công nghệ lên men, công nghệ môi trường...  1.1.3. Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ  tư  đến công   nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cơ hội phát cũng như thách   thức cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong quá trình   công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam có thể  tận dụng được những  10
  11. thành tựu khoa học ­ công nghệ  mới, có thể  “đi tắt, đón đầu”; đồng thời   cũng có thể làm sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn nếu không tận dụng được cơ  hội này.  1.1.3.1. Về thời cơ Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở  ra nhiều cơ  hội cho các  nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Đây có thể coi là  một cơ  hội vàng nhằm thúc đẩy sự  phát triển của Việt Nam, tiến tới thu   hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Cụ thể là: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể  tạo ra lợi thế  của những   nước đi sau như Việt Nam so với các nước phát triển do không bị hạn chế  bởi quy mô cồng kềnh; tạo điều kiện cho Việt Nam bứt phá nhanh chóng,  vượt qua các quốc gia khác cho dù xuất phát sau.  Việc đi sau và thừa hưởng những thành tựu từ cuộc cách mạng công  nghiệp 4.0 giúp Việt Nam tiết kiệm được thời gian nghiên cứu để phát huy   tối đa các tiềm năng và lợi thế sẵn có.  Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh nền kinh tế tri thức, đi tắt, đón   đầu, tiến thẳng vào lĩnh vực công nghệ  mới, tranh thủ thành tựu khoa học  và công nghệ,  đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện  đại hóa  đất  nước, hội nhập quốc tế.  Các chủ  thể  trong nền kinh tế  có điều kiện tiếp thu và  ứng dụng   những tiến bộ, thành tựu công nghệ  của nhân loại, trước hết là công nghệ  thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển và tự  động hóa để nâng cao  năng suất, hiệu quả trong tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội. Điều này  đã tạo ra khả  năng nâng cao mức thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc   sống cho người dân.  Với   ưu  thế   dân  số   trẻ,  tỷ   lệ   sử   dụng  điện   thoại   thông  minh   và   Internet cao, mức độ tiếp cận ứng dụng khoa học công nghệ tốt, cuộc cách  11
  12. mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra cho doanh nghiệp Việt Nam những cơ  hội lớn trong việc xây dựng và phát triển dữ  liệu lớn. Tại sự  kiện ngày  Internet 2017 do Hiệp hội Internet Việt Nam tổ chức ngày 22 tháng 11 năm  2017 thì Việt Nam hiện có 64 triệu người dùng Internet, xấp xỉ 67% dân số,   đạt mức số lượng người dùng Internet đứng thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế  giới. Ngoài ra, Việt Nam là nước có kết nối internet bằng điện thoại di  động cao, có đến 55% người Việt sở hữu điện thoại thông minh, trong khi  chỉ  có 46% người sở  hữu máy tính cá nhân. Đến năm 2020 cứ  10 người   Việt sẽ  có 8 người dùng điện thoại di động, hoạt động kinh doanh online   sẽ  tăng trưởng 40%. Theo bà Tammy Phan ­ Giám đốc đối tác chiến lược   và kênh bán hàng Việt Nam của Google thì sử  dụng dụng điện thoại di  động giúp phát triển 11 kinh tế. Cứ  tăng thêm 1% số  người dùng sẽ  đóng   góp hơn 100 triệu USD và GDP năm 2020, và tạo thêm 140.000 việc làm  mới. Như vậy, có thể thấy, Việt Nam đang có cơ  hội trong việc xây dựng  dữ liệu lớn, làm nền tảng triển khai các trụ cột khác của nền công nghiệp   4.0. 1.1.3.1. Về thách thức Một là, thách thức trong lĩnh vực giải quyết việc làm: chuyển dịch cơ  cấu lao động trong gần 30 năm qua của Việt Nam rất chậm và chậm hơn  nhiều nếu so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam hiện   nay vẫn dựa nhiều vào các ngành sử  dụng lao động giá rẻ  và khai thác tài  nguyên thiên nhiên. Trình độ  lạc hậu của người lao động và của cả  nền  kinh tế  chính là trở  ngại lớn nhất để  chúng ta bắt kịp với các thành tựu  khoa học, công nghệ  trong thời  đại cách mạng công nghiệp 4.0. Trong  tương lai, nhiều lao động trong các ngành nghề  của Việt Nam có thể  thất  nghiệp, ví dụ như lao động ngành dệt may, giày dép.  Hai là, chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam còn rất nhiều hạn   12
  13. chế. Tỷ  lệ  lao động trong độ  tuổi đã qua đào tạo còn thấp. Theo số  liệu  thống kê điều tra lao động việc làm quý 2 năm 2017 thì có tới 78.4% lao  động không có trình độ  chuyên môn kỹ  thuật; 9.48% lao động có trình độ  đại học trở  lên; 3.17% lao động có trình độ  cao đẳng; 5.42% lao động có  trình độ trung cấp; 3.53% lao động có trình độ sơ cấp. Thêm vào đó, những   người lao động có trình độ đại học trở lên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu  của thị  trường lao động. Vì vậy tỷ  lệ  thất nghiệp đang có xu hướng gia  tăng trong số lao động có trình độ cao. Theo Bản tin Thị trường lao động số  15, tại thời điểm quí 3 năm 2017 số  người thất nghiệp có trình độ  từ  đại  học trở  lên tăng 53,9 nghìn người so với quí 2 năm 2017  ở  mức 237 nghìn  người, tương đương 4,51%6 .  Ba là, năng suất lao động còn thấp so với khu vực. Theo số liệu của   Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành  năm   2017   ước   tính   đạt   93,2   triệu   đồng/lao   động   (tương   đương   4.166  USD/lao động). Tính theo năng suất lao động theo sức mua tương đương  năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ  bằng 7,0% mức năng suất của Xin­ga­po; 17,6% của Ma­lai­xi­a; 36,5%  của Thái Lan; 42,3% của In­đô­nê­xi­a và bằng 56,7% năng suất lao động  của Phi­li­pin. Đáng báo động là chênh lệch về  năng suất lao động giữa  Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng. Điều này cho thấy khoảng   cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp   mức năng suất lao động của các nước.  Bốn là, trình độ khoa học công nghệ của nước ta đang ở vị trí thấp so  với mức trung bình của thế giới. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công  nghệ năm 2015, thì hiện nay cả nước có gần 600 nghìn doanh nghiệp, với   hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ  và vừa. Phần lớn đều đang sử  dụng công  nghệ  tụt hậu so với mức trung bình của thế  giới từ  2­3 thế hệ. Trong đó,  13
  14. có đến 76% máy móc, dây chuyền công nghệ  nhập thuộc thế  hệ  những   năm 60 ­ 70 của thế kỷ trước, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% thiết bị  là đồ  tân trang..., chỉ  có 20% là nhóm ngành sử  dụng công nghệ  cao. Một  khảo sát khác từ Chương trình phát triển của Liên hợp quốc cho thấy, tỷ lệ  giá trị nhập khẩu công nghệ, thiết bị mỗi năm tại Việt Nam chưa đến 10%  tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi tỷ  lệ  tại các nước đang phát triển   khác lên đến 40%. Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017­ 2018, Việt  Nam được xếp hạng chung là 55/137 quốc gia, trong khi các chỉ  số  cấu  phần liên quan đến đổi mới sáng tạo lại thấp hơn nhiều.  Năm là, quy mô doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé, số doanh nghiệp  vừa, nhỏ  và siêu nhỏ  chiếm gần 98% tổng số  doanh nghiệp của cả  nước,   phần lớn doanh nghiệp chưa đạt được quy mô tối ưu (50 ­ 99 lao động) để  có được mức năng suất lao động cao nhất. Số lượng doanh nghiệp lớn còn ít   (chỉ  chiếm 2,1%), doanh nghiệp chưa xâm nhập được vào các thị  trường,   trung tâm công nghệ  của thế  giới, do đó, chưa thực hiện được chức năng   cầu nối về công nghệ tri thức của thế giới vào thị trường trong nước. Doanh   nghiệp tham gia các hoạt động liên quan đến sáng tạo còn hạn chế, chưa  tham gia sâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu nên chưa tận dụng được tính lan  tỏa của tri thức, công nghệ  và năng suất lao động từ  các công ty, tập đoàn  xuyên quốc gia vào doanh nghiệp trong nước. Thêm vào đó mức độ sẵn sàng  cho nền sản xuất tương lai.  Sáu là, các nước công nghiệp mới nổi và nhiều nước đang phát triển  đều cạnh tranh quyết liệt, tìm cách thu hút, hợp tác để  có đầu tư, chuyển  giao công nghệ, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu công nghệ từ cuộc  Cách mạng công nghiệp thứ tư đem lại để giành lợi thế phát triển. Đây cũng  chính là áp lực lớn cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại  hóa đất nước. Việt Nam cần tỉnh táo trong hội nhập, hợp tác quốc tế, phát  14
  15. triển nền kinh tế thị trường nhất là thị trường khoa học công nghệ, cải thiện  đổi mới môi trường đầu tư  kinh doanh, tích lũy đầu tư  để  thu hút chuyển  giao,  ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học công nghệ  vào phát triển  nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  Bảy là, quản trị nhà nước cũng là một trong những thách thức lớn nhất  đối với nước ta. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ gặp  nhiều khó khăn nếu công cuộc cải cách cơ  cấu kinh tế, đổi mới mô hình   tăng trưởng được Nhà nước đề ra trong thời gian qua thực hiện không thành  công. Bên cạnh đó, những thách thức về an ninh phi truyền thống sẽ tạo ra  áp lực lớn nếu Nhà nước không đủ trình độ  về công nghệ và kỹ năng quản  lý để ứng phó. 1.2. Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian  qua  1.2.1. Một số thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa  đất nước thời   gian qua  1.2.1.1. Về khoa học công nghệ  * Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập   kỷ qua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ  có trình độ  đại học   và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14   nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật;   trong đó, có khoảng 34 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực  KHCN  thuộc khu vực nhà nước. Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho  hoạt động  KHCN  của đất nước. Thực tế  cho thấy, đội ngũ này có khả  năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ  được tri thức, công nghệ  hiện   đại trong một số ngành và lĩnh vực. 15
  16. Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức  KHCN  với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh   tế, trong đó có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao   đẳng, trong đó có 30 trường ngoài công lập. Cơ  sở  hạ  tầng kỹ  thuật của   các viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông   tin khoa học công nghệ, thư  viện, cũng được tăng cường và nâng cấp. Đã  xuất hiện một số  loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát  triển công nghệ với sản xuất ­ kinh doanh. Mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhưng với sự  nỗ  lực rất  lớn của Nhà nước, từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KHCN đã  đạt 2%, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách   đầu tư phát triển KHCN của Đảng và Nhà nước. * Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới Hệ  thống quản lý nhà nước về  KHCN được tổ  chức từ  trung  ương  đến địa phương đã đẩy mạnh phát triển  KHCN  , góp phần thực hiện các  mục tiêu phát triển KT ­ XH của ngành và địa phương. Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự  án  KHCN    đã bám sát hơn nhiệm vụ  phát triển KT ­ XH. Cơ  chế  tuyển   chọn tổ  chức, cá nhân chủ  trì nhiệm vụ  KHCN  đã bước đầu được thực  hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai.  Hoạt động của các tổ  chức KHCN đã mở rộng từ  nghiên cứu ­ phát  triển đến sản xuất và dịch vụ  KHCN . Quyền tự  chủ  của các tổ  chức, cá  nhân trong hoạt động KHCN bước đầu được tăng cường. Quyền tự chủ về  hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN được mở rộng. Vốn huy động cho KHCN từ  các nguồn hợp đồng với khu vực sản   xuất ­ kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ  quốc tế  và các nguồn khác,  16
  17. tăng đáng kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho  KHCN. Đã  cải tiến một bước việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng  giảm bớt các khâu trung gian. Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về   KHCN  từng  bước được hoàn thiện thông qua các quy định về  chức năng, nhiệm vụ  và  trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố  trực thuộc trung ương. * Trình độ  nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ  của nhân  dân ngày càng được nâng cao Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động  tích cực của các tổ chức KHCN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công  tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của KHCN đến sản xuất và  đời sống, nhận thức và khả  năng tiếp thu,  ứng dụng tri thức   KHCN  của  người dân trong thời gian qua đã tăng lên rõ rệt. Hoạt động KHCN ngày càng  được xã hội hoá trên phạm vi cả nước. 1.2.1.2. Về cơ cấu kinh tế * Về cơ cấu thành phần kinh tế:  Cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch khá rõ. Trước hết là  trong cơ cấu GDP, tỷ trọng khu vực Nhà nước đã giảm xuống còn dưới 1/3;  của khu vực tập thể còn rất thấp (5,05%); của khu vực có vốn đầu tư nước   ngoài đã chiếm gần 20%; còn khu vực kinh tế  tư  nhân chiếm trên dưới  11%... Vốn đầu tư đã có sự chuyển dịch theo hướng khai thác các nguồn lực   của các thành phần kinh tế ở trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.  Trong tổng vốn đầu tư  phát triển toàn xã hội, tỷ  trọng vốn đầu tư  của khu  vực Nhà nước đã giảm xuống còn 39,3% (thời kỳ 2011­2013); của khu vực  ngoài Nhà nước tăng lên 38,1%; của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng  17
  18. lên 22,6% (thời kỳ 2011­2013). Về  tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu  dịch vụ  tiêu dùng, tỷ  trọng kinh tế  Nhà nước giảm xuống còn 10,2% năm  2013; tỷ  trọng của khu vực ngoài Nhà nước tăng lên 86,7%, trong đó của  kinh tế tập thể giảm còn 1%, của kinh tế tư nhân đã chiếm trên dưới 1/3;  tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,1%... * Về cơ cấu vùng kinh tế:  Đã xây dựng được một cơ cấu vùng hợp lý theo hướng phát huy lợi  thế từng vùng. Hiện nay cả nước có sáu vùng KT ­ XH và bốn vùng kinh tế  trọng điểm. Sáu vùng KT ­ XH bao gồm:  vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ  (Tây Bắc và Đông Bắc), vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ,  Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng  bằng sông Cửu Long. Bốn vùng kinh tế  trọng điểm bao gồm: vùng kinh tế  trọng điểm Bắc Bộ, gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,  Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Quảng Ninh; vùng kinh tế  trọng điểm   phía Nam gồm 8 tỉnh, thành phố: Hồ  Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa ­ Vũng   Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang; vùng Kinh   tế  trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên ­ Huế, Đà   Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định; vùng Kinh tế trọng điểm Đồng   bằng sông Cửu Long, gồm 4 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Cà Mau và  Kiên Giang. * Về cơ cấu ngành kinh tế:  Cơ  cấu các ngành kinh tế  đã có sự  dịch chuyển tích cực theo hướng  CNH, HĐH. Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm xuống còn 18,9%  năm 2010 và  ở  mức 18,12% năm 2014. Tỷ  trọng ngành công nghiệp và xây  dựng trong GDP tăng lên 38,5% năm 2014. Tỷ  trọng khu vực dịch vụ  trong  GDP đã tăng lên 42,88% năm 2010 và khoảng 43,38% năm 2014. Quá trình  18
  19. chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành cũng đã gắn nhiều hơn với các yêu cầu   về CNH, HĐH. Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của  công nghiệp khai khoáng giảm dần, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp  chế biến tăng. Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt  hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Trong đó, các ngành dịch vụ gắn với  CNH, HĐH như dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn   thông... phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP. * Về cơ cấu lao động: Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực. Gắn liền với quá trình   chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH. Tỷ  trọng lao động ngành nông nghiệp đã giảm mạnh xuống khoảng 47% năm  2014. Tỷ trọng lao động ngành công nghiệp ­ xây dựng và dịch vụ tăng liên   tục, trong đó, ngành công nghiệp, xây dựng tăng lên 20,8% năm 2014; ngành   dịch vụ  tăng lên 32,2% năm 2014. Tỷ  lệ  lao  động qua đào tạo tăng lên  khoảng 40% năm 2010 và đến năm 2014 là 49%.   1.2.2. Một số  hạn chế  của quá trình  công nghiệp hóa, hiện đại   hóa đất nước thời gian qua  1.2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động diễn ra   chậm Chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  bao gồm cả  cơ  cấu ngành, cơ  cấu lao  động đã “chững lại” trong nhiều năm nhưng chậm có sự  điều chỉnh phù   hợp. Các ngành dịch vụ sử dụng tri thức, KHCN phát triển còn chậm. Nếu   như trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH, cơ cấu kinh tế có tốc độ  chuyển dịch khá, cơ cấu ngành nông nghiệp trong GDP giảm mạnh xuống   19,3% năm 2005, thì từ  năm 2006 đến nay, tỷ  trọng ngành nông nghiệp  trong GDP giảm không đáng kể. Năm 2014, ngành nông nghiệp vẫn chiếm   19
  20. hơn 18% GDP, năm 2018 là 14,57%, cao hơn đáng kể so với tỷ trọng ngành  nông nghiệp trong GDP của các nước xung quanh (tỷ  trọng ngành nông  nghiệp trong GDP của Trung Quốc là 10,1%, của Indonesia là 14,4%, của  Malaixia là 10,1% và của Thái Lan là 12,3%). 1.2.2.2. Cơ cấu vùng kinh tế còn nhiều bất cập Bên cạnh những kết quả tích cực mang lại từ liên kết vùng, thực tế  cũng cho thấy quy hoạch tổng thể  phát triển KT­XH vùng và quy hoạch  ngành theo vùng hiện nay của nước ta chưa thực sự là công cụ hữu hiệu để  định hướng, điều phối, phân bổ ngân sách, thu hút nguồn lực, đầu tư, quản   trị không gian KT­XH, đặc biệt là thực hiện vai trò liên kết nội vùng. Các vùng kinh tế  trọng điểm chưa thực sự  phát huy vai trò đầu tàu,  thiếu tác dụng lan tỏa, hiệu quả đầu tư chưa vượt trội; các vùng khó khăn  phát triển thiếu bền vững, khoảng cách giữa các vùng chưa được thu hẹp;  liên kết vùng còn yếu, nhất là giữa các tỉnh và thành phố. Trong khi đó, vai trò vĩ mô của Nhà nước trong việc xây dựng quy  hoạch, kế hoạch phát triển các vùng kinh tế; tập trung các nguồn lực quốc   gia và xã hội phát triển hạ  tầng để  phát triển kinh tế  vùng và tăng cường   liên kết vùng còn hạn chế. Hiện nay, vẫn còn tồn tại tình trạng hầu hết các tỉnh, thành và các  vùng đều có những dấu hiệu “thu nhỏ” của quốc gia, nên quy hoạch, kế  hoạch chưa làm rõ được tính đặc thù, thế mạnh của mỗi địa phương và liên  kết nội vùng. Chất lượng quy hoạch phát triển KT­XH vùng còn nhiều bất cập,  tình trạng quá nhiều quy hoạch  ở  cấp  địa phương, quy hoạch dàn trải,  không tính đến lợi ích kinh tế chung và lợi ích cộng đồng đã gây ra lãng phí   và phức tạp trong thực hiện. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2