intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Giải pháp hạn chế thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:80

1
252
lượt xem
106
download

LUẬN VĂN: Giải pháp hạn chế thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những thông tin đó có thể chưa đầy đủ, nhưng đó là những địa chỉ cụ thể diễn ra tình trạng thất thoát vốn trong đầu tư XDCB. Nhiều người, nhiều cấp đã quan tâm theo dõi với những băn khoăn suy nghĩ rất khác nhau. Với sự lý giải cũng có nhiều cách, một số đại biểu Quốc hội có ý kiến về thất thoát vốn đầu tư...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Giải pháp hạn chế thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Giải pháp hạn chế thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam
  2. mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những thông tin đó có thể chưa đầy đủ, nhưng đó là những địa chỉ cụ thể diễn ra tình trạng thất thoát vốn trong đầu tư XDCB. Nhiều người, nhiều cấp đã quan tâm theo dõi với những băn khoăn suy nghĩ rất khác nhau. Với sự lý giải cũng có nhiều cách, một số đại biểu Quốc hội có ý kiến về thất thoát vốn đầu tư xây dựng hiện nay chiếm khoảng 30 đến 35% tổng mức đầu tư và không chỉ xẩy ra ở một khâu nào đó, mà nó đã xẩy ra ở tất cả các khâu, như: chủ trương đầu tư, kế hoạch vốn, khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, thẩm định dự án đầu tư, đấu thầu, giám sát thi công và thanh quyết toán công trình. Để góp phần luận giải vấn đề này từ góc nhìn quản lý kinh tế, luận văn đề cập đến "Giải pháp hạn chế thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam". 2. Mục đích nghiên cứu của luận văn - Làm sáng tỏ những cơ sở lý luận, thực trạng về thất thoát vốn đầu tư XDCB ở Việt Nam trong thời gian. - Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất những giải pháp hạn chế thất thoát vốn đầu tư XDCB trong điều kiện và môi trường kinh tế - ở Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn - Về lý luận chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quản lý vốn và thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. - Về thực tiễn đánh giá thực trạng thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Việt Nam, phân tích xác định nguyên nhân để đề xuất những giải pháp hạn chế thất thoát. 4. Phương pháp nghiên cứu
  3. Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khái quát hóa các phương pháp về quản lý kinh tế nói chung và kiểm tra, kiểm soát nói riêng. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý vốn và thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản. Chương 2: Thực trạng về thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam trong thời gian qua. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản.
  4. Chương 1 Những vấn đề cơ bản về quản lý vốn và thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản 1.1. vai trò vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản 1.1.1. Khái niệm 1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản Quản lý đầu tư XDCB được xác định theo từng dự án. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư XDCB xét dưới các góc độ khác nhau. Chẳng hạn: - Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư XDCB là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. - Xét về góc độ quản lý, dự án đầu tư XDCB là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài. - Xét trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư XDCB là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH), làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung. - Xét về nội dung, dự án đầu tư XDCB bao gồm một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, đó là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra các kết quả cụ thể. Những nhiệm vụ và các hoạt động cùng với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch đầu tư XDCB. - Theo quan niệm phổ biến hiện nay, dự án đầu tư XDCB là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
  5. Như vậy: Dù xét theo bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư XDCB đều bao gồm 4 vấn đề chính, đó là: mục tiêu của đầu tư, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực. Trong 4 thành phần đó thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến độ thực hiện đầu tư. Vì vậy trong quá trình thực hiện đầu tư XDCB phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được. Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm. 1.1.1.2. Khái niệm về vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản Vốn cần thiết để tiến hành các hoạt động về đầu tư là rất lớn, không thể trích ra cùng một lúc từ các khoản chi tiêu thường xuyên của các cơ sở, của xã hội vì điều này sẽ làm xáo động mọi hoạt động bình thường của sản xuất và sinh hoạt xã hội. Do đó vốn trong đầu tư XDCB là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào xây dựng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt của xã hội. 1.1.2. Các kênh tạo vốn trong đầu tư XDCB và vai trò của nó 1.1.2.1. Các kênh tạo vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản Các kênh tạo vốn trong đầu tư XDCB ở nước ta bao gồm: - Vốn từ ngân sách nhà nước; - Vốn khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) của các doanh nghiệp được Nhà nước cho phép để lại đầu tư xây dựng, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật; - Vốn của doanh nghiệp; - Vốn của Nhà nước đi vay (vay trong nước, như: vay của dân, vay của các tổ chức xã hội... vay của nước ngoài...); - Vốn tín dụng nhà nước; - Vốn viện trợ của các chính phủ, phi chính phủ; - Vốn huy động từ dân, như: Công trái, trái phiếu; - Vốn đóng góp của nhân dân...
  6. 1.1.2.2. Vai trò vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản Để tiến hành mọi hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý sản xuất kinh doanh... phải có vốn. Vốn có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực xã hội, như: - Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lần đầu tiên được hình thành, vốn này được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị... để tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật (TSCĐ). - Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang hoạt động, vốn này dùng để mua sắm thêm các máy móc thiết bị, xây dựng thêm một số nhà xưởng, sửa chữa hoặc mua sắm các TSCĐ mới thay thế TSCĐ đã bị hư hỏng, hao mòn hữu hình (do quá trình sử dụng và do tác động của khí hậu, thời tiết) và vô hình (do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho nhiều TSCĐ nhanh chóng trở nên lạc hậu không còn thích hợp với điều kiện mới, tiếp tục sử dụng sẽ không có hiệu quả). - Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các cơ sở đào tạo, các phúc lợi xã hội... vốn này dùng để xây dựng các công sở, trường học, bệnh vện, các công trình giao thông, thủy lợi, cầu cảng... 1.1.3. Trình tự quản lý vốn trong đầu tư XDCB Theo quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng (ĐT&XD) ban hành kèm theo Nghị định số 52/CP ngày 8-7-1999, Nghị định số 12/2000/NĐ ngày 05-5-2000 và Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 31-01-2003 của Chính phủ quy định trình tự quản lý vốn đầu tư XDCB được phân chia thành ba giai đoạn chính: a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Nội dung bao gồm: - Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư; - Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư; - Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng; - Lập dự án đầu tư;
  7. - Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư. b) Giai đoạn thực hiện đầu tư. Nội dung bao gồm: - Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất); - Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên); - Thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với các dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng (nếu có); - Mua sắm thiết bị và công nghệ; - Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng; - Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình; - Tiến hành thi công xây lắp; - Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng; - Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng; - Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm. c) Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng. Nội dung bao gồm: - Nghiệm thu, bàn giao công trình; - Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình; - Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; - Bảo hành công trình; - Quyết toán vốn đầu tư; - Phê duyệt quyết toán.
  8. Quản lý vốn trong đầu tư XDCB của các dự án được tốt phải thực hiện quản lý theo định mức và đơn giá. Chúng là những cơ sở quan trọng và căn cứ để xây dựng dự toán, cấp phát thu hồi tạm ứng, thanh quyết toán dự án đầu tư XDCB hoàn thành. Nội dung cụ thể của định mức và đơn giá: * Về định mức dự toán xây dựng cơ bản Định mức dự toán XDCB là mức hao phí lao động trung bình tiên tiến cần thiết cho một đơn vị khối lượng công tác, một bộ phận công trình hay một nhóm công việc để người sản xuất hoàn thành khối lượng công tác, bộ phận công trình hay nhóm công việc theo thiết kế được duyệt. Định mức dự toán có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tương ứng với mỗi tiêu thức nhất định, như: theo công dụng, theo mức độ mở rộng, theo chuyên ngành. Nội dung của định mức dự toán xây dựng là thành phần công việc, điều kiện kỹ thuật, điều kiện thi công được xác định phù hợp để thực hiện công tác xây lắp đó. Định mức dự toán cho mỗi loại công việc bao gồm ba nội dung: - Mức hao phí vật liệu, là quy định về số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ và các vật liệu luân chuyển cần cho việc thực hiện hoàn thành khối lượng công tác xây lắp. Mức hao phí vật liệu đã bao gồm cả hao hụt vật liệu trong khâu vận chuyển, bảo quản và thi công trong phạm vi công trình. - Mức hao phí lao động, là quy định về sử dụng ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp và công nhân phục vụ xây lắp (kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu, bán thành phẩm trong phạm vi quy định của mặt bằng xây lắp). Mức chi phí lao động chính và phụ được quy định bằng số ngày công theo cấp bậc bình quân của công nhân trực tiếp xây lắp. Định mức bao gồm cả lao động chính, phụ (kể cả công tác chuẩn bị và kết thúc, thu dọn hiện trường thi công). - Mức hao phí máy thi công, là quy định về số ca sử dụng trực tiếp phục vụ xây lắp của tất cả các loại máy tham gia thi công khối lượng công tác xây lắp tại hiện trường. Mức hao phí máy thi công chính được quy định bằng số lượng ca máy sử dụng, mức hao phí máy thi công phụ được quy định bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí sử dụng máy thi công chính.
  9. * Về đơn giá xây dựng cơ bản Đơn giá XDCB là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tổng hợp quy định chi phí cần thiết hợp lý trên cơ sở tính đúng, tính đủ các hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công và các chi phí cần thiết khác để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc một kết cấu xây lắp tạo nên công trình. Đơn giá XDCB bao gồm các loại: - Đơn giá XDCB tổng hợp, là đơn giá do cơ quan quản lý xây dựng ở Trung ương ban hành cho các loại công tác hoặc kết cấu xây lắp, bộ phận nhà và công trình được xây dựng trên cơ sở định mức dự toán XDCB tổng hợp và điều kiện sản xuất, cung ứng vật liệu trong từng vùng lớn. - Đơn giá XDCB khu vực thống nhất, là đơn giá các công tác hoặc kết cấu xây lắp bình quân chung của các công trình xây dựng tại các khu vực nhất định có điều kiện sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng giống nhau hoặc tương tự như nhau mà giá vật liệu đến hiện trường xây lắp chênh lệch nhau không nhiều. Đơn giá này được xây dựng trên cơ sở định mức dự toán các loại công tác hoặc kết cấu xây lắp do ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành. - Đơn giá XDCB cho các công trình riêng biệt, là đơn giá riêng cho từng công trình có yêu cầu kỹ thuật, điều kiện biện pháp thi công đặc biệt, cũng như điều kiện xây dựng khác biệt với điều kiện xây dựng của khu vực đơn giá thống nhất. Công trình đặc biệt của cấp nào quản lý thì cấp đó ban hành đơn giá. Nội dung của đơn giá XDCB chính, là các khoản mục hình thành nên đơn giá, bao gồm: chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy thi công cho một đơn vị công tác hay kết cấu xây lắp. Nội dung cụ thể của đơn giá: - Chi phí vật liệu, là chi phí đến hiện trường xây lắp của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển, phụ tùng, bán thành phẩ m cần thiết để tạo nên một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp (không bao gồm các chi phí của vật liệu để tính trong chi phí chung và chi phí sử dụng máy thi công). - Chi phí nhân công, bao gồm: Tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương, lương phụ có tính chất ổn định và các khoản chi phí khác theo chế độ của công nhân trực tiếp xây
  10. lắp cần thiết để hoàn thành một khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp quy định trong định mức dự toán. Các khoản phụ cấp lương không ổn định hoặc không thống nhất trong các vùng hoặc trong từng tỉnh, thành phố thì không tính vào đơn giá XDCB, mà được tính thành một khoản riêng trong chi phí nhân công thuộc chi phí trực tiếp của dự toán xây lắp. - Chi phí sử dụng máy thi công, là chi phí sử dụng máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp quy định trong định mức dự toán, bao gồm: phí khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn, chi phí sửa chữa thường xuyên, chi phí nhiên liệu động lực, tiền lương thợ điều khiển, chi phí khác của máy và chi phí quản lý máy - bảng giá ca máy. Quản lý vốn đầu tư XDCB là một công việc hết sức phức tạp vì mỗi dự án đầu tư xây dựng bao gồm nhiều công việc, hoạt động khác nhau. Do vậy, phải quản lý tốt chi phí, tạm ứng và thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành, theo các nội dung sau: - Quản lý chi phí, mỗi dự án đầu tư bao gồm nhiều công việc hoạt động khác nhau, nội dung các hoạt động lại rất đa dạng, do vậy quản lý vốn dự án ĐT&XD phải được thực hiện đối với từng hoạt động hay từng hạng mục của dự án. Quản lý chi phí theo các nội dung sau: + Quản lý chi phí xây lắp, là kiểm tra việc áp dụng các định mức, đơn giá đảm bảo đúng các quy định về thành phần công việc, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công. Đối với các quy định, hướng dẫn điều chỉnh định mức, đơn giá dự toán, các chế độ quản lý XDCB của nhà nước và địa phương, cần chú ý tới thời hạn hiệu lực của văn bản. Kiểm tra các khối lượng công tác chính như: đào móng, bê tông, cốt thép, xây dựng, vì những khối lượng này chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi phí xây lắp công trình. Kiểm tra để phát hiện những công việc trùng lắp, những khối lượng công tác không nằm trong thành phần chi phí trực tiếp (vì những khối lượng này đã được đưa vào tính toán trong chi phí chung, chi phí kiến thiết cơ bản khác hoặc đã nằm trong thành phần công việc định mức để lập đơn giá). + Quản lý chi phí thiết bị, số lượng, chủng loại, công suất, các chỉ tiêu kỹ thuật phải đảm bảo đúng nội dung đầu tư thiết bị trong dự án đã được duyệt. Kiểm tra về giá
  11. mua, chi phí vận chuyển, bốc dỡ bảo quản, gia công, tu sửa đảm bảo các quy định chung của nhà nước (giá thiết bị, cước phí vận tải, bốc dỡ...). + Quản lý chi phí kiến thiết cơ bản khác đối với những chi phí được quy định tính theo tỷ lệ hoặc có bảng giá cụ thể (như chi phí ban quản lý công trình, chi phí khảo sát thiết kế…) việc áp dụng các tỷ lệ định mức và đơn giá, khối lượng công việc đưa vào tính toán phải đảm bảo đúng quy định của nhà nước và phù hợp với nội dung dự án đã được duyệt. Đối với những chi phí kiến thiết cơ bản khác, xác định bằng cách lập dự toán riêng, việc quản lý cũng tương tự như đối với chi phí xây lắp (căn cứ vào các quy định về giá cả, chế độ chính sách của nhà nước có liên quan đến XDCB để xác định việc đưa vào tính toán chi phí đúng, sai, đủ hay thừa thiếu). Những khối lượng tăng thêm so với thiết kế được duyệt do mọi nguyên nhân đều phải được cơ quan chủ quản đầu tư xét duyệt lại, có sự thỏa thuận của Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính. - Thanh quyết toán vốn đầu tư XDCB, được thực hiện theo các nội dung sau: + Tạm ứng vốn phải căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu thầu hoặc chỉ định hầu, hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị trúng thầu hoặc giao thầu, giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu. Mức vốn tạm ứng bằng tỷ lệ tạm ứng nhân với giá trị gói thầu nhưng nhiều nhất không vượt quá số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu. Vốn tạm ứng được hoàn trả từng lần cấp phát cho khối lượng xây lắp hoàn thành và được hoàn trả hết trong năm kế hoạch. Trường hợp vốn tạm ứng chưa trả hết được chuyển sang năm sau, dự án không được ghi kế hoạch thì chủ đầu tư phải giải thích với cơ quan cấp phát vốn đầu tư về tình hình vốn chưa trả hết để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý. Các trường hợp khác được xử lý theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng. + Thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành phải căn cứ vào khối lượng công tác xây lắp thực hiện đã được nghiệm thu hàng tháng và có đủ các điều kiện: khối lượng nghiệm thu phải theo bản vẽ thiết kế thi công hoặc thiết kế kỹ thuật thi công được duyệt và có trong kế hoạch đầu tư năm được giao; có trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu (trúng thầu hoặc chỉ định thầu); chất lượng đảm bảo yêu cầu thiết kế; áp dụng đúng định mức, đơn giá của Nhà nước (số vốn thanh toán cho khối lượng này là giá trúng
  12. thầu được lập cho khối lượng đó). Những khối lượng xây lắp thực hiện ngoài kế hoạch và thiết kế dự toán được duyệt phải được hội đồng thẩm tra xét duyệt (theo phân cấp quản lý) phê chuẩn. Đối với những dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước (NSNN) thì phải gửi đến cơ quan cấp phát những tài liệu, như: biên bản nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình, bản tính toán chi tiết vật liệu, nhân công, máy thi công kèm theo bảng tổng hợp kinh phí, phiếu giá thanh toán. + Thanh toán khối lượng thiết bị là thiết bị đã nhập kho chủ đầu tư (đối với thiết bị không cần lắp), hoặc đã lắp đặt xong và được nghiệm thu (đối với thiết bị cần lắp đặt) và có đủ các điều kiện: danh mục thiết bị phải phù hợp với quyết định đầu tư về số lượng, chất lượng, chủng loại, tính năng, công suất, tiêu chuẩn kỹ thuật và có trong kế hoạch đầu tư được giao; có trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị cung ứng thiết bị; có các chứng từ hoặc hợp đồng, vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm, thuế nhập khẩu…; đã được chủ đầu tư nghiệm thu hoặc nhập kho. ở khâu này, cán bộ quản lý phải kiểm tra về mặt pháp lý của các hợp đồng, chứng từ và giá cả thanh toán (giá mua thiết bị, giá gia công thiết bị, cước phí vận chuyển, bốc dỡ…) đảm bảo các quy định của Nhà nước, phù hợp với thời điểm thực hiện khối lượng thanh toán. Đối với những dự án thuộc vốn NSNN, chủ đầu tư gửi đến cơ quan cấp phát vốn hồ sơ, tài liệu gồm: hợp đồng kinh tế, hóa đơn kèm phiếu xuất kho (đối với thiết bị mua trong nước), bộ chứng từ nhập khẩu (đối với thiết bị nhập khẩu), hóa đơn vận chuyển, chứng từ bảo hiểm (trường hợp có bảo hiểm), phiếu nhập kho (đối với thiết bị không cần lắp) hoặc phiếu giá thanh toán khối lượng thiết bị đã hoàn thành lắp đặt (đối với thiết bị cần lắp), các chứng từ khác có liên quan (thuế, phí lưu kho…), phiếu giá thanh toán thiết bị. + Thanh toán chi phí kiến thiết cơ bản khác khi có đủ các căn cứ chứng minh công việc đã được thực hiện hoàn thành theo hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu. + Quyết toán vốn đầu tư XDCB, khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư. Chậm nhất là 6 tháng sau khi dự án hoàn thành đưa vào vận hành, chủ đầu tư phải báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong báo cáo quyết toán phải phân tích rõ từng
  13. nguồn vốn. Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư thực hiện hàng năm, tổng mức vốn đã đầu tư thực hiện dự án, giá trị tài sản bàn giao cho sản xuất sử dụng. Đối với các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao, để xác định giá trị tài sản cố định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao. Tất cả các dự án đầu tư dùng vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư theo quy định. Trước khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư, tất cả các báo cáo quyết toán phải được tổ chức thẩm tra quyết toán. Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán quyết định hình thức tổ chức thẩm tra quyết toán theo quy định. Tổ chức thẩm tra báo cáo quyết toán do cơ quan chức năng trực thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán thực hiện hoặc thuê tổ chức kiểm toán. Trách nhiệm thẩm tra quyết toán: đối với các dự án do cơ quan chức năng trực thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán thẩm tra thì cơ quan thẩm tra phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra; đối với các dự án do tổ chức kiểm toán thẩm tra thì tổ chức kiểm toán chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả thẩm tra; cơ quan chức năng thẩm tra chịu trách nhiệm nội dung kiểm tra lại. Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A của Nhà nước theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ; đối với các dự án còn lại thì người có thẩm quyền quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt quyết toán vốn đầu tư. Căn cứ vào định mức, dự toán XDCB và khối lượng của các dự án để xây dựng giá xét thầu hay giá chọn thầu. Theo Quy chế đấu thầu ban hành theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01-9-1999 và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05-5-2000 của Chính phủ quy định các hình thức lựa chọn nhà thầu, như: - Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu. - Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận. Hình thức này chỉ được xem xét áp dụng
  14. khi có một trong các điều kiện: chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu; các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế; do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế. - Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng. Hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt, như: trường hợp bất khả kháng do thiên tai địch họa, được phép chỉ định ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời. Sau đó phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung chỉ định thầu để xem xét phê duyệt; gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh, bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định; gói thầu đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định, trên cơ sở báo cáo thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn và cơ quan có liên quan. Báo cáo đề nghị chỉ định thầu phải xác định rõ: lý do chỉ định thầu; kinh nghiệm và năng lực về mặt kỹ thuật, tài chính của nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu; giá trị và khối lượng đã được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định thầu. - Chào hàng cạnh tranh, hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị dưới 2 tỷ đồng. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của bên mời thầu. Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác. 1.1.4. Nguyên tắc và thẩm quyền quản lý vốn trong đầu tư 1.1.4.1. Nguyên tắcquản lý vốn trong đầu tư XDCB - Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và phân cấp quản lý về đầu tư và xây dựng phù hợp với từng loại nguồn vốn đầu tư và chủ đầu tư. Thực hiện quản lý đầu tư và xây dựng theo dự án, quy hoạch và pháp luật. - Các dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn do doanh nghiệp nhà nước đầu tư phải được quản lý chặt chẽ theo trình tự đầu tư và xây dựng quy định đối với từng loại vốn.
  15. - Đối với các hoạt động đầu tư, xây dựng của nhân dân, Nhà nước chỉ quản lý về quy hoạch, kiến trúc và môi trường sinh thái. - Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, của chủ đầu tư, của tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng. 1.1.4.2. Thẩm quyền quản lý vốn trong đầu tư XDCB a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của người Việt Nam ra nước ngoài; Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư bảo đảm sự cân đối giữa đầu tư trong nước và nước ngoài trình Chính phủ quyết định; Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển KT-XH; Cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai công tác chuẩn bị đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các quy định có liên quan của Quy chế quản lý ĐT&XD; Tổ chức thẩm định các dự án đầu tư thuộc nhóm A trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đầu tư hoặc đồng ý để Bộ cấp đăng ký kinh doanh cho các dự án đầu tư thuộc nhóm A không dùng vốn Nhà nước, theo dõi quá trình đầu tư các dự án đầu tư trong kế hoạch Nhà nước; Tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch đầu tư phát triển hàng năm và 5 năm. Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch đầu tư thuộc các nguồn vốn do Nhà nước quản lý; Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Quy chế đấu thầu;
  16. Quản lý nhà nước về việc lập, thẩm tra, xét duyệt, thực hiện các dự án quy hoạch phát triển KT-XH. b) Bộ Xây dựng Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, nghiên cứu các cơ chế, chính sách về quản lý xây dựng, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền ban hành; Ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy chuẩn xây dựng, quy trình thiết kế xây dựng, các quy định quản lý chất lượng công trình, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật xây dựng, định mức chi phí tư vấn ĐT&XD; thỏa thuận để các Bộ có xây dựng chuyên ngành ban hành các tiêu chuẩn, định mức, quy phạm, các quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng kỹ thuật chuyên ngành; Chủ trì cùng Bộ chuyên ngành kỹ thuật tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán (TKKT-TDT) các dự án ĐT&XD thuộc nhóm A để cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, theo dõi, kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý chất lượng các công trình xây dựng; đặc biệt về chất lượng các công trình xây dựng thuộc các dự án nhóm A; Hướng dẫn hoạt động của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, doanh nghiệp xây dựng và các tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng; Chủ trì cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Quy chế quản lý ĐT&XD. c) Bộ Tài chính Nghiên cứu các chính sách, chế độ về huy động các nguồn vốn đầu tư, quản lý vốn đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc phân bổ kế hoạch cấp phát vốn đầu tư cho các Bộ, địa phương và các dự án quan trọng quốc gia sử dụng vốn NSNN; Thống nhất quản lý các khoản vốn vay và viện trợ của chính phủ dành cho đầu tư phát triển;
  17. Cấp bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp (trừ các tổ chức tín dụng) vay vốn nước ngoài theo quy định của Chính phủ; Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với dự án của các tổ chức, đơn vị sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra việc quyết toán vốn đầu tư các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước và thực hiện quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước; Hướng dẫn việc cấp vốn NSNN cho đầu tư, vốn sự nghiệp có tính chất ĐT&XD đối với các dự án, chương trình theo kế hoạch đầu tư và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. d) Ngân hàng Nhà nước Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý nhà nước (QLNN) về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong ĐT&XD trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; Giám sát các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính tín dụng khác thực hiện các nhiệm vụ: - Huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để cho vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đối với các dự án đầu tư phát triển và sản xuất kinh doanh; - Cho vay vốn đối với các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, khả thi và có khả năng trả nợ; phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn thực hiện được các cơ hội đầu tư có hiệu quả; - Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác theo quy định của pháp luật; - Thực hiện bảo lãnh các khoản vốn vay nước ngoài của các tổ chức tín dụng để ĐT&XD. e) Các Bộ, ngành khác có liên quan Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng QLNN theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các Bộ có chức năng quản lý công trình
  18. xây dựng chuyên ngành ban hành các quy phạm, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật có liên quan đến xây dựng sau khi có sự thỏa thuận của Bộ Xây dựng; Các Bộ quản lý ngành và các cơ quan có liên quan về đất đai, tài nguyên, sinh học, công nghệ, môi trường, thương mại, bảo tồn, bảo tàng di tích, di sản văn hóa, cảnh quan, quốc phòng, an ninh, phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm xem xét và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề có liên quan của dự án đầu tư trong thời hạn quy định. Sau thời hạn quy định, nếu không nhận được ý kiến trả lời của các Bộ quản lý ngành có liên quan thì được xem như các Bộ, ngành và cơ quan đó đã thống nhất với văn bản đề nghị. f) UBND cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) UBND cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, quyền hạn, thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tất cả các tổ chức và cá nhân thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn theo quy định của pháp luật. g) Chủ đầu tư Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, có trách nhiệm: tổ chức lập dự án đầu tư, xác định rõ nguồn vốn đầu tư, thực hiện các thủ tục về đầu tư và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Tổ chức thực hiện đầu tư bao gồm: tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng đã ký kết với các nhà thầu theo quy định của pháp luật. Các dự án đầu tư sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau thì chủ đầu tư có trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa dự án vào khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư. Khi thay đổi chủ đầu tư thì chủ đầu tư mới được thay thế phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộ công việc đầu tư của chủ đầu tư trước. Chủ đầu tư có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan của nhà nước công bố công khai các quy định có liên quan đến công việc đầu tư, như: quy hoạch xây dựng, đất đai, tài nguyên, nguồn nước, điện, giao thông vận tải, môi trường sinh thái, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ di tích văn hóa, lịch sử, an ninh, quốc phòng để chủ đầu tư biết và thực hiện. h) Tư vấn xây dựng
  19. Tổ chức tư vấn ĐT&XD là các tổ chức nghề nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn ĐT&XD theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động tư vấn ĐT&XD: Là cung cấp thông tin về văn bản quy phạm pháp luật, về cơ chế chính sách ĐT&XD, lập các dự án đầu tư, quản lý dự án đầu tư, thiết kế, soạn thảo hồ sơ mời thầu, giám sát và quản lý quá trình thi công xây lắp, quản lý chi phí xây dựng, nghiệm thu công trình; tổ chức tư vấn này có thể ký hợp đồng lại với các tổ chức tư vấn ĐT&XD khác để thực hiện một phần nhiệm vụ của công tác tư vấn. Các tổ chức tư vấn ĐT&XD trách nhiệm: Đăng ký hoạt động tư vấn ĐT&XD tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, thời gian thực hiện, tính chính xác của sản phẩm và chất lượng sản phẩm tư vấn của mình; thực hiện chế độ bảo hiểm nghề nghiệp tư vấn ĐT&XD theo quy định của pháp luật. Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn. i) Doanh nghiệp xây dựng Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng. Các doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm: Đăng ký hoạt động xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm, thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao công trình, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng của mình theo quy định tại quy chế quản lý ĐT&XD; thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi liên quan đến an toàn của các công trình lân cận và công trình đang xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng. Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn. 1.1.5. Thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm
  20. 1.1.5.1. Thanh tra, kiểm tra Tất cả các hoạt động ĐT&XD thuộc mọi tổ chức, cá nhân có liên quan kể cả người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng nhà nước theo từng lĩnh vực quản lý, có phân biệt các công trình sử dụng vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, của doanh nghiệp liên doanh hoặc của nhân dân tự ĐT&XD. 1.1.5.2. Xử lý vi phạm Tổ chức, cá nhân kể cả người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động ĐT&XD trên lãnh thổ Việt Nam nếu vi phạm các quy định của Quy chế này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đối với các cơ quan chức năng nhà nước, cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐT&XD mà không làm đầy đủ nhiệm vụ được giao hoặc tự đặt ra các thủ tục, yêu cầu ngoài qui định, trì hoãn việc giải quyết các yêu cầu của cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức ĐT&XD khi đã đủ các điều kiện quy định thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 1.2. các thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản 1.2.1. Khái niệm về thất thoát Theo Pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí ngày 26-02-1998, thì: "Lãng phí là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định". Còn vấn đề thất thoát thì chưa có tài liệu văn bản quy phạm nào đưa ra định nghĩa hay một khái niệm cụ thể. Nhưng thực tế cho thấy lãng phí, thất thoát phản ánh một hiện tượng giống nhau, đó là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ sở vật chất, tăng thêm năng lực cho xã hội.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2