intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp& phát triển quận Thanh Xuân

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:78

0
94
lượt xem
44
download

LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp& phát triển quận Thanh Xuân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm vừa qua, cùng với những thành tựu đổi mới của đất nước, hệ thống Ngân Hàng Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc, đóng góp tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, ổn định lưu thông tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng đồng thời, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, cùng với việc tạo ra triển vọng và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngân hàng nói riêng, thì còn nhiều khó khăn mà các doanh nghiệp...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp& phát triển quận Thanh Xuân

  1. LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp& phát triển quận Thanh Xuân
  2. Lời mở đầu Trong nh ững năm vừa qua, cùng với những thành tựu đổi mới của đất nước, hệ thống Ngân Hàng Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc, đóng góp tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, ổn định lưu thông ti ền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng đồng thời, nền kinh tế vận hành theo c ơ chế thị trườn g, cùng với việc tạo ra triển vọng và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngân hàng nói riêng, thì còn nhi ều khó khăn mà các doanh nghi ệp phải đối mặt. Đối với hệ thống Ngân hàng, rủi ro tín dụng nh ư là vật cản trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tháo gỡ những khó kh ăn và hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được xem là chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Ho ạt động cho vay là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất, nó đ em lại khoảng 80- 95% lợi nhuận kinh doan h c ủa Ngân hàng th ương mại. Trong lĩnh vực tín dụng, hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng th ương mại là chỉ tiêu tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của hoạt động Ngân hàng. Khi hiệu quả cho vay đạt ở mức cao sẽ tạo ra động lực cho mọi hoạt đ ộng kinh doanh của Ngân hàng cùng hoạt động sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Ng ược lại, khi đồng vốn tín dụng không được sử dụng tốt sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không ổn định và suy yếu. Ch ất lượng tín dụng hiện nay đang là mối quan tâm k hông chỉ đối với nhà quản lý điều hành Ngân hàng mà còn là mối quan tâm của xã hội. Xuất phát từ những lý do trên tôi đ ã chọn đề tài" Nâng cao ch ất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp& phát triển quận Thanh Xuân". Đề tài nghiên cứu những vấn đ ề lý luận về Ngân hàng thơng mại, làm rõ vai trò của tín dụng trong kinh doanh của Ngân hàng th ương mại, từ đ ó cho thấy tầm quan trọng của chất l ượng tín dụng và ý nghĩa của công tác nâng cao chất l ượng hoạt động tín dụng.
  3. T hông qua phân tích, đánh giá thực trạng hoạt đ ộng tín dụng tại NHNo&PTNT qu ận Thanh Xuân để thấy được những mặt mạnh cần phát huy, đồng thời phát hiện nh ững vấn đề còn tồn tại, tìm ra nguyên nhân c ơ bản của vấn đ ề đ ể có những giải pháp nhằm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín d ụng, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Đề tài: "Nâng cao chất l ượng tín dụng tại NHNo &PTNT quận Thanh Xuân " được kết cấu làm 3 chương, ngoài lời nói đầu và kết luận: Chương I: Tổng quan về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chương II: Th ực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Tri ển Nông Thôn quận Thanh Xuân Chương III: Gi ải pháp nâng cao chất l ượng hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT quận Thanh Xuân.
  4. Chương I: tổng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.1. Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình sự phát triển của hệ thống ngân hàng là động lực thúc đẩy nền kinh tế. Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng. Cùng với việc phát triển của nền kinh tế đòi hỏi việc trao đổi giữa đồng tiền của khu vực này với khu vực khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác- đây là tiền đề cho nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ. Sự không thường xuyên và cùng một lúc giữa người gửi tiền và người lấy tiền ra đã tạo ra số dư trong két của các nhà buôn tiền. Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tam thời một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng thu hút nhiều tiền gửi vào, là điều kiện để mở rộng cho vay. Thuật ngữ ngân hàng ngày càng gần gủi với người dân đặc biệt những người có nhu cầu vay tiền và tạm thời dư tiền. Nhưng chưa có phân đ ịnh giữa ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng phát hành. Đến cuộc khủng hoảng nền kinh tế 1929-1933 các quốc gia thấy rằng cần phải quản lý việc phát hành tiền một cách chặt chẽ h ơn. Các quốc gia lần lượt quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hoặc thành lập các ngân hàng phát hành thuộc sở hữu Nhà nước... Từ đó khái niệm Ngân hàng Trung Ương và Ngân hàng thương mại được tách bạch rõ ràng. Trước tiên ta tìm hiểu khái niệm về ngân ngân hàng nói chung và sau đó là về ngân hàng thương mại.
  5. Có rất nhiều cách để định nghĩa về ngân hàng, có thể thông qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò của ch ung thực hiện trong nền kinh tế. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện nh ững loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Một cách tiếp cận dựa khác trên các hoạt động chủ yếu- theo luật các tổ chức tín dụng của nước Việt Nam:"Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán". Ngân hàng thương mại(NHTM) cũng thực hiện kinh doanh tiền tệ và d ịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Như vậy, ta có thể hiểu được NHTM là:"NHTM là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung th ường xuyên là nhận tiền gửi sử dụng số tiền này đ ể cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan". 1.1.2. Các hoạt đ ộng cơ bản của Ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Huy động vốn: Đây là hoạt động đặc trưng của NHTM, Ngân hàng có thể huy động vốn dưới các hình th ức sau đ ây: - Huy đ ộng tiền của các doanh nghiệp và dân c ư: Ngân hàng đư ợc nhận tiền gửi dư ới các hình thức. Tiền gửi không kỳ hạn: Là kho ản tiền gửi mà n gười gửi có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào, bộ phận tiền gửi này bao gồm: Tiền gửi thanh toán được bảo quản trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
  6. Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có quy đ ịnh cụ thể thời gian rút tiền của khách hàng. Nó có thể là tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp hay các tầng lớp dân cư trong xã hội. - Huy đ ộng vốn trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng: NHTM có thể huy động vốn trên thị trường liên Ngân hàng d ưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn hoặc ký hợp đồng vay vốn có đảm bảo bằng tài sản. NHTM có thể vay vốn NHTW mà cụ thể là xin tái cấp vốn và từ các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế. - Huy đ ộng vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá: Cùng v ới việc huy động tiền gửi, Ngân hàng còn h uy động vốn bằng các hình thức khác: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành trái phiếu - Huy đ ộng vốn bằng các hình thức khác: Ngoài ra NHTM còn huy động các nguồn vốn từ các nguồn khác nh ư: vốn trong thanh toán và vốn phát sinh từ nghiệp vụ đ ại lý. 1.1.2.2. Mua, bán ngoại tệ Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đ ổi(mua, bán) ngoại tệ: Mua, ban một loại tiền này lấy một loại tiền khác và h ưởng phí dịch vụ. 1.1.2.3. Cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận của NHTM. NHTM cho vay đối với các đơn vị kinh tế nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị được liên tục, công nghệ, máy móc, thiết bị, nhà x ưởng được đ ầu tư đổi mới nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ho ạt động này thường đ ược NHTM thực hiện d ưới các hình th ức sau đ ây: - Cho vay thương mại
  7. - Cho vay tiêu dùng - Tài trợ cho dự án 1.1.2.4. Bảo quản tài sản hộ Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng thư ờng giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách hàng. 1.1.2.5. Cung c ấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hà ng.Thanh toán qua ngân hàng mở đ ầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách hàng, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận đư ợc tiền - đ ó gọi là dịch vụ cung c áp tài kho ản cho khách hàng. Dịch vụ này n gày càng được sử dụng một cách rộng rãi và tiện ích đối với khách hàng cũng nh ư n gân hàng 1.1.2.6. Quản lý ngân quỹ Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và cá nhân. Nh ờ đ ó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng và uy tín cũng như kinh nghiệm nên nhiều ngan hàng đã cung cấp các dịch vụ quản lý ngân qu ỹ của khách hàng, quản lý thu chi và tiến hành đầu tư phần thặng d ư tạm thời nhàn rỗi. 1.1.2.7. Tài tr ợ các hoạ t động của Chính Phủ Ngân hàng có khả năng huy động lớn và cho vay lớn vì thế trở thành trọng tâm của Chính phủ khi có nhu cầu chi tiêu tạm thời hoặc lớn. Chính phủ các n ước đều mu ốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng, ngân hàng cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân
  8. hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất đ ịnh trên tổng lượng tiền gửi mà ngân h àng huy đ ộng được. 1.1.2.8. Bão lãnh: Do khả n ăng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây nghiệp vụ bảo lãnh n gày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng th ường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác… 1.1.2.9. Cho thuê trang thiết bị trung và dài hạn(leasing ) Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xu ất và thương mại đ ã cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đ ồn g thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. 1.1.2.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và t ư vấn Ho ạt động của ngân hàng trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều u y tín cung như kinh nghiệm. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đ ầu tư…Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là người đ ược uỷ thác di chúc, quản lý tài sả n cho khách hàng đã qua đ ời. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng nh ư một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp… 1.1.2.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đ ầu tư chứng khoán Đây là d ịch vụ ngân hàng mà ngân hàng bán các nghiệp vụ mua bán chứng khoán, cung c ấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Ngày nay một số ngân hàng thành lập, tổ chức ra các công ty chứng khoán đ ể cung cấp dịch vụ môi giới.
  9. 1.1.2.12. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, đ iều đ ó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàngbị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh với công ty bảo hiểm ho ặc tổ chức công ty bảo hiểm con ng ười, ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí… 1.1.2.13. Cung cấp các dịch vụ đại lý Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi n ơi. Nhiều ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán h ộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ. 1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.2.1. Vai trò c ủa hoạt động tín dụng đ ối với NHTM Sau gần hai mươi năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã có s ự tăng trưởng rõ rệt, đời sống cải thiện, đưa lại sự phồn vinh cho đất nước. Để đạt được những kết quả đó phải kể đến một nhân tố góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước đó chính là tín dụng ngân hàng. Khác so với tín dụng trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng được coi như là một công cụ cấp phát thay ngân sách. Vì lẽ đó mà đã xảy ra tình trạng có nơi cần vốn sản xuất thì không có, nhưng có nơi lại ứ đọng vốn. Ngày nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà n ước thì tín dụng ngân hàng đ ược sử dụng nh ư một đòn bẩy kinh tế, điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu một cách hiệu quả, giúp cho nền kinh tế ngày một phát triển. Ta tìm hiểu về vai trò của tín dụng: 1.2.1.1. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Sự ra đ ời của tín dụng ngân hàng đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế trong những thập kỷ qua. Với chức năng là trung gian tài chính đứng giữa người gửi tiền và người đi vay ngân hàng đã biến mọi nguồn tiền tệ phân tán trong xã hội thành
  10. nguồn vốn tập trung, qua đó điều hoà quan hệ cung cầu về tiền tệ trong xã hội, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Là một đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục đích lợi nhuận, các ngân hàng thương mại luôn tìm cách để tối đa hoá lợi nhuận của mình. Lợi tức thu được của các ngân hàng được hình thành từ hai hoạt động đó là: Hoạt động tín dụng và các dịch vụ của ngân hàng trong đó thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu. Tín dụng ở đây chúng ta hiểu là hoạt động cho vay của ngân hàng. Vậy ngân hàng lấy vốn ở đâu ra để cho vay? Phải chăng là vốn tự có của ngân hàng. Ơ đây các ngân hàng phải huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tầng lớp dân cư trong xã hội sau đó phân phối vốn trở lại một cách hợp lý. Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà các chủ thể"thừa" vốn có c ơ hội không nh ững bảo tồn vốn mà còn tạo thu nhập(thu lãi), còn đối với chủ thể thiếu vốn, tín dụng ngân hàng giúp họ bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc đời sống. Thông qua công tác tín dụng, ngân hàng đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa đến n ơi thiếu. Bên cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho các doanh nghiệp, các ngân hàng còn có những ý kiến đóng góp cho phương án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác thông qua quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp... Như vậy hoạt động tín dụng của ngân hàng góp phần đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. 1.2.1.2. Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển: Có thể nói tín dụng ngân hàng là một nguồn c ơ bản của các doanh nghiệp nhằm mở rộng tái sản xuất. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới và mở rộng sản xuất. Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn cơ bản hình thành nên vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp. Thông qua việc đầu tư tín dụng, tín dụng ngân hàng sẽ góp phần hình thành c ơ cấu vốn hợp lý cho các doanh nghiệp. Muốn vậy các ngân hàng cần phải
  11. làm tốt công tác huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và xây dựng cho mình những chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của các thành phần kinh tế. Có như vậy các ngân hàng mới có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất đưa nền kinh tế n ước nhà ngày càng phát triển. 1.2.1.3. Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ: Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng của mình, các Ngân hàng đã huy động và tập trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội, đồng thời rút ra khỏi lưu thông một bộ phận tiền tệ. Như vậy, NHTM đã can thiệp vào việc đ iều hoà lưu thông tiền tệ. Mặt khác, nhằm kiểm soát việc tạo tiền của NHTM, Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh thông qua các công cụ của mình. Và kết quả là lượng tiền trong lưu thông có sự thay đổi. Do đó sự vận động của vốn tín dụng là phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế để tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ. Hơn nữa, quá trình hoạt động tín dụng ngân hàng gắn liền với việc thanh toán không dùng tiền mặt góp phần giảm bớt lượng tiền mặt lưu thông trôi nổi trên thị trường mà không có s ự quản lý của Nhà nước nhằm mục đích ổn định lưu thông tiền tệ. Điều này đồng nghĩa với việc làm giảm lạm phát - một vấn đề mà nền kinh tế phải đương đầu khi có tốc đ ộ tăng trưởng gia tăng nhanh. Như vậy tín dụng ngân hàng được coi là một công cụ có thể đ iều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 1.2.1.4. Tín dụng ngân hàng góp phần tăng cường việc chấp hành chế độ hạch toán trong các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Trong quá trình nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng trước khi cho vay, Ngân hàng có nghiệp vụ giúp đ ỡ các đ ơn vị vay vốn xây dựng kế hoạch vay vốn dựa trên cơ sở các kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính. Khi xét duyệt cho vay ngân hàng còn căn cứ vào tình hình chấp hành các nguyên tắc cơ bản của chế độ tín dụng ngân hàng, tình hình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đối với các đ ơn vị bạn cũng như tôn trọng các quy chế thủ tục cho vay. Đặc biệt cần phải có các báo cáo tài chính kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong
  12. đó nêu rõ mục đích và khẳng định tính khả thi và mức sinh lợi của dự án. Nh ư vậy muốn vay được vốn các doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ hạch toán thật tốt. Tất cả những công tác trên giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, Ngân hàng có khả năng thu hồi được vốn. Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Các đơn vị kinh tế, cá nhân khi vay vốn ngân hàng đều phải cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện mà ngân hàng đưa ra nhằm đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của đ ơn vị. Trong trường hợp các đơn vị vay vốn không thực hiện đúng cam kết thì ngân hàng sẽ dùng đến các biện pháp chế tài tín dụng. Do vậy, các đơn vị sản xuất kinh doanh luôn luôn tìm mọi biện pháp để tăng hiệu quả sử dụng vốn như: Đẩy nhanh vòng quay vốn, tăng năng xuất, giảm giá thành nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận, để có thể hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn. Điều này đã thúc đẩy đơn vị sản xuất kinh doanh tăng cường khâu hạch toán kế toán một cách chặt chẽ đảm bảo doanh lợi ngày càng cao, tăng hiệu quả sử dụng vốn tín dụng. 1.2.1.5. Tín dụng ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tư, tài trợ cho các ngành kinh tế then chốt và các ngành, vùng kinh tế kém phát triển: Mục tiêu hoạt động của các Ngân hàng là an toàn và sinh lời. Vì thế khi cung cấp tín dụng Ngân hàng luôn phải cân nhắc những rủi ro sao cho đó là tối thiểu. Nhưng không phải tất cả các chủ thể có nhu cầu vay đều được Ngân hàng đáp ứng, bởi để tránh rủi ro tín dụng các Ngân hàng chỉ thực hiện đầu tư vào các đơn vị có đủ các điều kiện. Tuy nhiên, trong điều kiện đất nước ta hiện nay phần lớn dân số sống bằng nông n ghiệp. ở hầu hết các tỉnh miền núi, nông thôn vấn đề đưa máy móc vào nông nghiệp còn rất hạn chế. Vì vậy, thông qua công tác tín dụng, Nhà n ước cần tập trung vào phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội đồng thời tạo đ iều kiện phát triển các ngành kinh tế khác. Bên c ạnh đó nư ớc ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi vậy chúng ta cần phải tập trung vào việc phát triển các ngành mũi nhọn nh ư: công n ghiệp chế biến, dầu khí... và tín dụng ngân hàng là một trong những yếu tố c ơ bản góp phần quan trọng vào việc phát triển các ngành này đ iều đó được thể hiện qua việc
  13. cấp tín dụng cho các dự án, các ch ương trình trọng điểm để khai thác triệt để nguồn lực, đ ẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h ướng công nghiệp - nông n ghiệp - d ịch vụ. Với một chính sách tín dụng và mức lãi suất hợp lý sử dụng trong việc khuyến khích phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn sẽ là một công cụ linh ho ạt tích cực trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công n ghiệp hoá hiện đại hoá đ ất n ước một cách vững chắc. 1.2.1.6. Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết các vấn đề xã hội: Trong những năm qua với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; nước ta đã và đang từng bước đi lên và đạt được những thành tựu đáng kể như: Tốc độ tăng trưởng tương đối cao, tăng thu nhập, đ ời sống nhân dân được cải thiện... Nh ưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước đã nẩy sinh các vấn đề xã hội lớn: Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, tham nhũng có dấu hiệu gia tăng cả về quy mô và số lượng, thất nghiệp ở tỷ lệ cao... Nhận thức sâu sắc thực trạng này, các ngh ị quyết của Đảng luôn luôn nhấn mạnh yêu cầu phải kết hợp tăng trưởng với công bằng, giải quyết các yêu cầu về công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong từng b ước tăng trưởng và tín dụng ngân hàng được sử dụng như một công cụ để khắc phục tình trạng này. Thông qua cơ chế tín dụng ưu tiên và ưu đãi chúng ta đang dần dần khắc phục được các vấn đề xã hội. Tín dụng ưu tiên là hình thức tập trung nguồn vốn cho một vùng, giới, ngành trong một thời gian nhất định nhằm đạt tới một mục tiêu nào đó. Tín dụng ưu đãi là cho va y các đối tượng cần ưu đãi với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường gọi là lãi suất ưu đãi. Bằng cách các ngân hàng cung cấp nguồn vốn với lãi suất ưu đãi cho người nghèo, người khó khăn để họ có đ iều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, áp dụng kỹ thuật mới, mở rộng thị trường từ đó tăng thu nhập. Với mức lãi suất ưu đãi, tín dụng ngân hàng có vai trò to lớn trong việc giúp người nghèo tự vươn lên, tự giải quyết được tình trạng nghèo đói của mình.
  14. Ngoài ra các cán bộ tín dụng ngân hàng cần phải quan tâm đến vấn đề làm sao để vốn được sử dụng đúng mục đích là phát triển sản xuất, cải tiến kỹ thuật để tăng thu nhập, tránh rủi ro cho Ngân hàng không thu hồi được vốn... Trong điều kiện hiện nay chúng ta hy vọng rằng tín dụng ngân hàng sẽ phát huy tốt vai trò to lớn của mình trong việc cung cấp nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng chủ động, tích cực, phù hợp với kinh tế thị trường. 1.2.1.7. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển quan hệ đối ngoại: Ngày nay khi tất cả các quốc gia trên th ế giới đều có xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại thì việc phát triển kinh tế không chỉ bó hẹp trong phạm vi đất n ước mình mà phải hoà vào sự phát triển chung của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Tín dụng ngân hàng đã trở thành một phương tiện nối liền nền kinh tế các nước với nhau. Đặc biệt là các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. Sở dĩ nó có một tầm quan trọng như vậy là b ởi các hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn đặc biệt là vốn ngoại tệ mà chính bản thân một tổ chức hay một cá nhân không thể có đ ược. Vì vậy, mà tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ đắc lực cho các nhà đầu tư, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, d ịch vụ. Hơn nữa nếu Ngân hàng có một chính sách tín dụng đúng đắn thì nó sẽ có tác động tích cực tới hoạt động xuất nhập khẩu. Một chính sách tín dụng ưu đãi đối với các sản phẩm xuất khẩu sẽ làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá này trên thị trường quốc tế, nâng cao vị thế của quốc gia. Sự phát triển của hoạt động tín dụng giữa các tổ chức tài chính quốc tế, các quỹ tiền tệ quốc tế và các ngân hàng nước ngoài với chính phủ Việt Nam sẽ góp phần to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế nước ta có những bước tiến vượt bậc để có thể có khả năng hội nhập với các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới. 1.2.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng tự do hoá, các ngân hàng phải luôn luôn nghiên cứu và đưa ra các hình thức tín dụng khác nhau để có thể đáp ứng một
  15. cách tốt nhất nhu cầu của quá trình tái sản xuất, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư để mở rộng tín dụng, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận và thực hiện phân tán rủi ro. Dựa vào các tiêu thức khác nhau mà có thể tiến hành phân loại các hình thức tín dụng ngân hàng khác nhau: 1.2.2.1. Căn cứ vào mục đích sử dụng có các hình thức tín dụng sau: - Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. - Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệp, th ương mại, dịch vụ. - Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động... - Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn thực hiện cho vay để trang trải chi phí thông thường của đ ời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng. 1.2.2.2. Căn cứ vào tài sản thế chấp có các hình thức tín dụng ngân hàng sau: - Cho vay có tài sản thế chấp: Ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm bảo cho việc trả nợ của khách hàng. + Cho vay cầm cố: Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản khách hàng mang đến cầm cố tại ngân hàng. Tài sản của khách hàng do ngân hàng bảo quản, trong suốt thời gian cầm cố khách hàng không được sử dụng nhượng bán, cho thuê... + Cho vay thế chấp: Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng. Tài sản không cần mang đến ngân hàng, khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có quyền bán và cho thuê. - Cho vay không có tài sản thế chấp (Tín chấp): Ngân hàng cho vay trên cơ sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng. Ngoài ra còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn.
  16. 1.2.2.3. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: - Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền nh ư: Thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp... - Cho vay bằng tài sản: Phổ biến là tài trợ thuê mua. 1.2.2.4. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng: - Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng và khách hàng trực tiếp trả lãi và gốc cho ngân hàng. - Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn lại trong thời hạn thanh toán gồm các hình thức: 1.2.2.5. Căn cứ vào thời hạn cho vay có các hình thức tín dụng sau: - Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng. Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân... - Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ, thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở lên. Mục đích sử dụng là để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định, đổi mới công nghệ và xây dựng mới đối với những công trình mới, với thời gian thu hồi vốn lâu...
  17. 1.3. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.3.1. Quan điểm về chất l ượng tín dụng c ủa Ngân hàng thương mại T ín dụng Ngân hàng là mối quan hệ vay mượn theo nguyên tắc hoàn trả giữa một bên là Ngân hàng và một bên là các đơn vị kinh tế các tổ chức xã hội và dân c ư. Ho ạt động tín dụng phát sinh từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, các quan hệ tín dụng ngày càng đ ược phát triển và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nhờ khả năng về nguồn lực, khả năng huy động vốn rất lớn của Ngân hàng, tín dụng Ngân hàng đã trở thành "bà đ ỡ" lý tưởng trong việc đ áp ứng nhu cầu vay vốn của các đơn vị, tổ chức kinh tế để phục vụ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy lưu thông hàng hoá đóng góp phần làm tăng năng lực sản xuất, khả n ăng cạnh tranh và phát triển của các lực lượng kinh tế, và nó là một trong những đ ộng lực cơ bản, mang tính quyết đ ịnh, tạo ra sức bật và sự tăng trư ởng bền vững, ổn đ ịnh cho nền kinh tế quốc dân. Nhưng bên cạnh đó hoạt động tín dụng luôn gắn liền và có mối quan hệ hữu c ơ với hoạt động sản xuất kinh doanh của các khác h hàng vay v ốn cho nên kinh doanh tín dụng là một nghề đặc thù luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro nhất, vì ngoài việc phải đối đầu với những rủi ro nảy sinh trong thị trường tín dụng (do thay đổi chủ trương, chính sách kinh tế, sự biến động của thị trường... có thể tổn thất trong cho vay) thì Ngân hàng còn phải gánh chịu rủi ro của người vay vốn. Do đó, bất cứ NHTM nào cũng đặt chất lư ợng tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu, nó ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại hay suy vong của một Ngân hàng. Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Chất l ượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là Ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, ch ất lượng hoạt động TD của Ngân hàng không những phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào khả n ăng đáp ứng cao nhất các nhu cầu hợp pháp của khách hàng từ phía Ngân hàng
  18. Chất lượng tín dụng còn là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh mức đ ộ thích nghi của NHTM đối với sự thay đ ổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh đ ể tồn tại. Như vậy chất lượng tín dụng là gì? "Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng(người gửi tiền và người vay tiền) trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội " 1.3.2. M ột số chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng: Với số lượng NHTM ngày càng gia tăng, tính c ạnh tranh được thể hiện ngày càng mạnh mẽ. Do đó, đối với mỗi Ngân hàng phải tìm cho mình một nét riêng, một hư ớng đ i đ ể phù hợp với môi trường thể hiện sức mạnh của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh. Để phân tích, đánh giá được kết quả hoạt đ ộng kinh doanh tháng, hàng quý, hàng năm, trong từng thời kỳ, chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu phân tích Có th ể sử dụng nhiều chỉ tiêu để đánh giá chất lượng hoạt đ ộng tín dụng, sau đây là một số chỉ tiêu c ơ bản: 1.3.2.1. Hi ệu suất sử dụng vốn: "Đi vay để cho vay" là hoạt động chính của Ngân hàng. Trong hoạt đ ộng đ i vay, Ngân hàng là người phải trả các khoản lãi cho các nguồn vốn huy động được. Đồng thời sẽ thu lại từ hoạt đ ộng cho vay. Việc phân bổ các nguồn vốn đó như thế nào đ ể đảm bảo tính hiệu quả. Nếu nguồn vốn huy động lớn mà dư n ợ thấp sẽ bị ứ đọng vốn. T ổng dư n ợ Hiệu suất sử = d ụng vốn T ổng nguồn vốn huy động đư ợc
  19. Qua công th ức này ta ra rằng việc vận dụng một cách linh hoạt giữa nguồn vốn đ i vay và sử dụng vốn đó để cho vay góp phần không nhỏ trong hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. 1.3.2.2. Vòng quay tín dụng: Doanh s ố thu nợ/n ăm Vòng quay tín d ụng = Dư nợ bình quân/năm Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn. Nếu tỷ lệ vòng quay vốn tín dụng càng cao, chứng tỏ kỳ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, hiệu quả hoạt động tín dụng tốt, bởi vì kỳ luân chuyển vốn tín dụng càng nhanh, chứng tỏ công tác thu nợ trong kỳ tốt và ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp, phản ánh việc thu nợ kém, vốn tín dụng bị"đóng băng". 1.3.2.3. Hệ số an toàn VLĐ: Tài sản lưu động Hệ số an toàn = * 100 ≥ 1 VLĐ Nợ ngắn hạn 1.3.2.4. Tỷ lệ Nợ quá hạn: Nợ quá hạn T ỷ lệ nợ quá hạn = T ổng dư Nợ Đây là một chỉ tiêu quan trọng, đánh giá đúng hơn chất lượng ho ạt động tín dụng NHTM, tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện chất l ượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng cao, độ an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng cao hay nói cách khác mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng thấp. T ỷ lệ nợ quá hạn cao biểu hiện ch ất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thấp, rủi ro trong hoạt động cao. Phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ"có vấn đề", có thể bị mất một phần, có thể bị mất toàn bộ vốn cho vay.
  20. Chất lượng hoạt động tín dụng đ ược nâng cao chỉ thực sự có ý n gh ĩa khi nó góp ph ần nâng cao khả n ăng sinh lời của Ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động cho vay là chỉ tiêu c ần thiết đ ể đ o lư ờng khả năng sinh lời của Ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại. 1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM: Hiện nay vấn đề chất lượng tín dụng đ ang được các ngân hàng rất quan tâm và đang tìm mọi cách để có thể nâng cao chất lượng tín dụng một cách tốt nhất. Để quản lý và đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng một cách có hiệu quả đòi hỏi chúng ta phải có một sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố tác động đến nó. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng nhưng chúng ta có thể phân thành các nhóm nhân tố như: 1.3.3.1. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế : Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng phát triển, làm cho quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đ ược tiến hành một cách bình thường, không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, khủng hoảng tài chính dẫn đến khả năng cho vay và khả năng trả nợ vay không có biến động lớn. Đất nước đang trong th ời kỳ mở cửa, n ước ta đã có quan hệ với nhiều nước trên thế giới và đem lại nhiều thuận lợi. Song việc đầu tư nước ngoài vào trong nước một cách ồ ạt sẽ làm mất cân bằng cung cầu tiền tệ gây ra lạm phát làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Vì thế cần phải kiểm soát luồng tiền từ nước ngoài vào trong nước, bởi luồng tiền này sẽ làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông gây ra lạm phát ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng. Chu kỳ phát triển kinh tế cũng có tác động không nhỏ tới chất lượng tín dụng. Trong thời kỳ sản xuất kinh doanh đình trệ, nhu cầu vốn tín dụng giảm gây nên tình trạng ứ đọng vốn và các khoản tín dụng đã được thực hiện cũng khó hoàn trả. Ngược lại, trong
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2