intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn: Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

210
lượt xem
55
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hoa Kì là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong đó thủy sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Trong thời gian qua sự gia tăng trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của thị trường Hoa Kì vì đây là nhóm hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kì. Tuy nhiên, những mặt hàng thủy sản có lợi thế của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam

  1. Luận văn Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
  2. LỜI MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài: Hoa Kì là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong đó thủy sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Trong thời gian qua sự gia tăng trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của thị trường Hoa Kì vì đây là nhóm hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kì. Tuy nhiên, những mặt hàng thủy sản có lợi thế của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì cũng chính là những mặt hàng mà nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước trong Asean, Trung Quốc có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kì. Đồng thời đây cũng là một trong những thị trường có chính sách quản lí hàng hóa nhập khẩu phức tạp nhất. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam cũng gặp phải nhiều rào cản khi thâm nhập thị trường Hoa Kì do chưa đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt khe khác của Hoa Kì. Trước bối cảnh hiện nay thì cạnh tranh xuất khẩu ngày càng gay gắt và đặc biệt những yêu cầu khắt khe về hàng rào kĩ thuật thương mại đối với hàng thủy sản nhập khẩu vào Hoa Kì. Xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường này trong thời gian qua tuy có nhiều thành tựu nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém trong cạnh tranh, chưa đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu của thị trường Hoa Kì, chưa phát huy hết những lợi thế và khả năng của đất nước để duy trì và mở rộng thị phần trên thị trường Hoa Kì. Mặt khác, Hoa Kì được coi như là thịtrường truyền thống và luôn chiếm thị phần lớn nhất trong việc nhập khẩu thủy sản của Việt Nam. Do đó việc duy trì chỗ đứng trên thị trường Hoa Kì là một yêu cầu mang tính cấp thiết đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Vì vậy em cho rằng việc nghiên cứu đề tài “Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam.” là hết sức cần thiết. Bài viết là sự kế tiếp các công trình nghiên cứu trước đây trong việc phân tích thực trạng hang thuỷ sản Việt Nam, các hàng rào kĩ thuật của Hoa Kì áp dụng đối với mặt hàng thuỷ sản nói chung và thuỷ sản Việt Nam nói riêng trong những năm gần đây, thêm vào đó bài viết đi vào phân tích những rào cản kĩ thuật mà Việt Nam chưa vượt qua để đưa ra những giải pháp thiết thực chủ yếu từ phía nhà nước
  3. để giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kì một cách thuận lợi trong thời kì hậu khủng hoảng. 2. Đối tượng nghiên cứu; Là các rào cản kĩ thuật thương mại Mỹ đối với mặt hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam và tác động của nó đến việc xuât khẩu thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kì 3. Mục đích nghiên cứu: Mục đích là nghiên cứu và phân tích tác động của rào cản kĩ thuật thương mại Hoa Kì đối với hàng thủy sản của Việt Nam và đề xuất các giải pháp vượt rào cản kĩ thuật thương mại Hoa Kì nhằm phát triển xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kì. Để thực hiện mục tiêu này, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau: - Tổng quan về rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản nhập khẩu - Phân tích, đánh giá tác động của các rào cản kĩ thuật thương mại Hoa Kì đối với xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam - Đề xuất các giải pháp vượt rào cản kĩ thuật thương mại Hoa Kì để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường này. 4. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi thời gian: phân tích thực trạng từ 2001 đến nay và giải pháp cho tới năm 2015 - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tác động của rào cản kĩ thuật thương mại Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kì để từ đó đứng trên giác độ cơ quan quản lí nhà nước đề xuất các giải pháp nhằm vượt qua các rào cản kĩ thuật thương mại để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kì.
  4. 5. Phương pháp nghiên cứu: -Thực hiện nghiên cứu tài liệu trên cơ sở các nguồn tài liệu là sách, báo, websites. - Phuơng pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp. 6. Kết cấu: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, chuyên đề có 3 chương như sau: Chương 1: Tổng quan về Viện nghiên cứu thương mại Chương 2: Thực trạng rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam
  5. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI VÀ KHÁI QUÁT VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HOA KÌ 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Viện nghiên cứu Thương mại - Tên doanh nghiệp: Viện Nghiên cứu Thương mại - Tên tiếng Anh: Vietnam institute for trade (VIT) - Địa chỉ: 17 Yết Kiêu - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Điện thoại: (04) 38 262 721 - Fax: (04) 38 248 279 - Email: vit@netnam.orgViệt Nam - Hình thức pháp lý: Đơn vị sự nghiệp hành chính - Tên giao dịch trong hoạt động của Viện là tên tiếng việt: Viện Nghiên cứu Thương mại. - Ngành nghề kinh doanh chính của Viện: Nghiên cứu khoa học về kinh tế - thương mại. Viện Nghiên cứu Thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học quốc gia được thành lập theo Quyết định số 721/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8/11/1995 trên cơ sở hợp nhất Viện Kinh tế kỹ thuật Thương mại và Viện Kinh tế Đối ngoại mà tiền thân là: - Viện Kinh tế Kỹ thuật Thương nghiệp (1983 - 1992) - Viện Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế vật tư (1983 - 1992) - Viện Kinh tế Đối ngoại (1982 - 1995) - Viện Kinh tế Kỹ thuật Thương mại (1992 - 1995) 1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Viện nghiên cứu Thương mại 1.2.1. Chức năng Viện Nghiên cứu Thương mại có chức năng nghiên cứu những vấn đề khoa học về kinh tế - thương mại như: nghiên cứu các chiến lược và quy hoạch phát triển thương mại; nghiên cứu các cơ chế, chính sách phát triển thương mại; nghiên cứu thị trường trong nước và quốc tế, dự báo xu hướng phát triển của thị trường
  6. hàng hoá và dịch vụ thế giới cũng như Việt Nam; nghiên cứu các vấn đề về thương mại liên quan đến môi trường, hội nhập kinh tế của Việt Nam; tổ chức đào tạo trên đại học, đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao trình độ và cung cấp các dịch vụ tư vấn, thông tin thương mại, thông tin thị trường… 1.2.2. Nhiệm vụ Là một đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương, nằm trong hệ thống các viện nghiên cứu khoa học quốc gia nên Viện Nghiên cứu Thương mại có những nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu các luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại và thị trường; - Nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại; - Nghiên cứu kinh tế và thương mại thế giới, các tổ chức kinh tế và thương mại quốc tế và các vấn đề liên quan đến hoạt động thương mại của Việt Nam; - Nghiên cứu và dự báo về thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ trong nước và quốc tế; - Nghiên cứu vềhội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; - Nghiên cứu những vấn đề về thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam; - Tổ chức đào tạo trên đại học chuyên ngành kinh tế thương mại; - Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, công nghệ thông tin và ngoại ngữ cho cán bộ thương mại; - Cung cấp các dịch vụ tư vấn chất lượng cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân cả trong và ngoài nước về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của Viện; - Hợp tác nghiên cứu, đào tạo và trao đổi thông tin khoa học thương mại với các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học, các nhà khoa học trong và ngoài nước... 1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện Nghiên cứu Thương mại Các mô hình tổ chức phổ biến hiện nay là mô hình trực tuyến chức năng và trực tuyến tham mưu. Đối với Viện nghiên cứu Thương mại, mô hình tổ chức quản lý cũng mô hình trực tuyến chức năng và trực tuyến tham mưu.
  7. Hình 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện Viện trưởng Các phó viện trưởng Ban nghiên cứu Phòng quản lý chiến lược phát khoa học và đào Văn phòng triển thương mại tạo Ban nghiên cứu Phòng tài chính sách và cơ Phòng hợp tác chính kế toán chế quản lý quốc tế Ban nghiên Phòng thông Phân viện nghiên cứu thị trường tin tư liệu cứu TM tại TPHCM Ban nghiên cứu Phòng nghiên cứu Trung tâm tư vấn thương mại môi phát triển dự án và đào tạo kinh tế trường thương mại (Nguồn: Viện Nghiên cứu Thương mại) Người Lãnh đạo đứng đầu Viện là Viện trưởng. Viện trưởng là người đứng đầu cơ quan, có thẩm quyền cao nhất, có quyền quyết định và bổ nhiệm các Trưởng, Phó các Phòng, Ban. Có nhiệm vụ tổ chức triển khai toàn bộ hoạt động của Viện, là người chịu trách nhiệm về hoạt động cua Viện với cơ quan quản lý cấp trên. Các Phó Viện trưởng, có nhiệm vụ tham mưu, quản lý giúp Viện trưởng trong phạm vi chuyên môn, nghiệp vụ mình phụ trách. Tiếp đến là các Phòng, Ban chuyên môn và nghiệp vụ. Mỗi một Phòng, Ban có chức năng và nhiệm vụ riêng, thực hiện các công việc của cấp trên giao xuống.
  8. 1.3.1. Ban Nghiên cứu Chiến lược phát triển thương mại A. Chức năng, nhiệm vụ của Ban - Nghiên cứu các luận cứ khoa học phục vụ cho việc xây dựng chiến lược và qui hoạch phát triển thương mại; - Nghiên cứu xây dựng chiến lược, qui hoạch phát triển thương mại các vùng lãnh thổ, địa phương và quốc gia theo đề tài, dự án khoa học do Bộ hoặc các cơ quan yêu cầu. B. Cơ cấu tổ chức của Ban Cơ cấu tổ chức của Ban gồm 1 trưởng ban, các phó trưởng ban, các nhóm nghiên cứu. Hiện nay, Ban có 11 cán bộ khoa học, trong đó có 2 Tiến sĩ, 7 cử nhân và 2 kỹ sư, tổ chức hoạt động nghiên cứu theo ban nhóm: - Thương mại và phát triển; - Phát triển thị trường và thương mại quốc tế; - Phát triển thị trường và thương mại trong nước. 1.3.2. Ban Nghiên cứu Chính sách và Cơ chế quản lý thương mại A. Chức năng Nghiên cứu về chính sách và cơ chế quản lý thương mại, tiến trình đổi mới và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý thương mại để thực hiện nhiệm vụ do Bộ Thương mại và Viện giao. B. Nhiệm vụ Ban Nghiên cứu Chính sách và Cơ chế quản lý thương mại có các nhiệm vụ chủ yếu sau: - Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về xây dựng và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại; - Nghiên cứu xác lập luận cứ khoa học trong tiến trình đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại; - Tư vấn và thực hiện các dịch vụ về hoạch định chính sách và cơ chế quản lý thương mại. - Nghiên cứu chính sách phát triển thương mại nội địa, thương mại quốc tế và hội nhập. C. Cơ cấu tổ chức
  9. Hiện nay Ban nghiên cứu chính sách và cơ chế quản lý thương mại có 9 cán bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có 1 tiến sĩ, 2 thạc sĩ và 6 cử nhân kinh tế và luật. - Lãnh đạo ban: Gồm trưởng Ban và các phó trưởng Ban - Các nhóm nghiên cứu: Nhóm 1: Chính sách phát triển ngành hàng tư liệu sản xuất, công nghiệp tiêu dùng, hàng nông sản. Nhóm 2: Chính sách hội nhập khu vực và thế giới. Nhóm 3: Cơ chế quản lý thương mại. Nhóm 4: Chính sách phát triển thương mại với thị trường ngoài nước (Mỹ, EU, ASEAN). Nhóm 5: Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về xây dựng và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại. 1.3.3. Ban Nghiên cứu Thị trường A. Chức năng và nhiệm vụ của Ban - Nghiên cứu các vấn đề về thị trường hàng hoá, dịch vụ, quan hệ cung - cầu, xu hướng phát triển thị trường trong nước và quốc tế; - Nghiên cứu và đánh giá các chính sách trong nước và quốc tế đối với từng mặt hàng, từng thị trường cụ thể; - Tư vấn về các vấn đề liên quan đến thị trường trong và ngoài nước; - Là đầu mối phối hợp với các cơ quan hữu quan ngoài Viện nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thương mại, thị trường trong nước và quốc tế; - Tư vấn thị trường cho các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoàinước. B. Cơ cấu tổ chức của Ban Ban nghiên cứu thị trường gồm 8 thành viên, trong đó có 1 nghiên cứu viên chính, 7 nghiên cứu viên. Trong 8 thành viên có 3 thạc sĩ và 5 cử nhân. Lãnh đạo Ban gồm: 1 trưởng ban và 2 phó trưởng ban. Ban Nghiên cứu thị trường hình thành các nhóm nghiên cứu theo đối tượng nghiên cứu là thị trường hàng hoá và dịch vụ, các phân nhóm hàng hoá, dịch vụ; theo khu vực địa lý là thị trường thế giới, thị trường khu vực, thị trường từng nước và thị trường nội địa.
  10. 1.3.4. Ban Nghiên cứu Thương mại môi trường A. Chức năng và nhiệm vụ - Nghiên cứu các vấn đề thương mại môi trường liên quan đến hoạt động thương mại trong nước và quốc tế của Việt Nam; - Tư vấn về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động thương mại trong nước và quốc tế; - Là đầu mối trong việc phối hợp với các cơ quan hữu quan ngoài Viện nghiên cứu các vấn đề thương mại môi trường. B. Cơ cấu tổ chức Ban Nghiên cứu Thương mại môi trường gồm có 7 thành viên, 1 trưởng ban và 1 phó trưởng ban. Trong đó có 3 thạc sĩ và 4 cử nhân kinh tế. 1.3.5. Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo A. Chức năng, nhiệm vụ Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo thuộc Viện Nghiên cứu Thương mại có chức năng thăm mưu, giúp Viện trưởng về công tác quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện. Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: - Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện; - Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các đề tài đúng tiến độ và các qui chế về quản lý khoa học do Nhà nước ban hành; - Quản lý các hoạt động đào tạo của Viện. Tổ chức và quản lý các khoá đào tạo sau đại học theo đúng quy chế của Nhà nước; - Thực hiện các quan hệ công tác với các cơ quan quản lý cấp trên, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến công tác quản lý khoa học và đào tạo của Viện; - Quản lý cán bộ, cơ sở vật chất - kỹ thuật của phòng theo sự phân cấp quản lý của Viện, lưu trữ hồ sơ liên quan đến công tác quản lý khoa học và đào tạo của Viện; - Được sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật của Viện phục vụ cho các hoạt động quản lý khoa học và đào tạo; được chủ động khai thác và sử dụng các nguồn
  11. kinh phí hỗ trợ khác ngoài nguồn kinh phí Nhà nước cấp theo hạn mức hàng năm. B. Tổ chức bộ máy của phòng - Lãnh đạo phòng gồm trưởng phòng và 1 phó trưởng phòng; - Các chuyên viên nghiệp vụ. 1.3.6. Phòng Hợp tác quốc tế A. Chức năng và nhiệm vụ của phòng Phòng Hợp tác quốc tế có chức năng tổ chức các hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, trao đổi thông tin khoa học, thương mại với các tổ chức nghiên cứu và các nhà khoa học ngoài nước. Nhiệm vụ chủ yếu của Phòng là: - Nghiên cứu phát triển quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế, các khu vực thị trường và các nước nhằm phát triển thương mại Việt Nam; - Tổ chức hoạt động hợp tác nghiên cứu với các tổ chức, các doanh nghiệp và các nhà khoa học để phát triển hợp tác quốc tế về kinh tế thương mại; - Tư vấn và thực hiện các dịch vụ nghiên cứu hợp tác quốc tế. B. Cơ cấu tổ chức - Lãnh đạo phòng: 1 Trưởng phòng - Các nhóm công tác: Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ nêu trên, Phòng Hợp tác quốc tế được chia thành các nhóm sau đây: Nhóm 1: Nghiên cứu phát triển quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế và các viện khoa học khu vực châu á - Thái Bình Dương bao gồm các nước và các tổ chức như ASEAN, diễn đàn APEC, ASEM... Nhóm 2: Nghiên cứu hợp tác quốc tế với các nước, khu vực thị trường châu úc, châu Phi. Nhóm 3: Nghiên cứu hợp tác quốc tế khu vực châu Âu và ITC. Nhóm 4: Nghiên cứu hợp tác quốc tế khu vực châu Mỹ, hoạt động cửa các tổ chức WTO, WB, ADB. 1.3.7. Phòng Thông tin tư liệu A. Chức năng
  12. Chức năng của Phòng là tổ chức hiện hoạt động thông tin thư viện và ngân hàng dữ liệu phục vụ hoạt động nghiên cứu của Bộ Thương mại, Viện Nghiên cứu Thương mại các tổ chức có liên quan; Hợp tác nghiên cứu trao đổi thông tin khoa học thương mại với các nhà khoa học, các tổ chức thông tin trong và ngoài nước. B. Phòng có các nhiệm vụ sau - Tổ chức bổ sung và khai thác có hiệu quả các tư liệu, tài liệu chuyên ngành thương mại trong và ngoài nước thông qua hệ thống thư viện; xây dựng thư viện điện tử nhằm đáp ứng nhiệm vụ thông tin thư viện trong bối cảnh mới; - Là đầu mối cập nhật trang tin về các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực thương mại của Bộ Thương mại; - Cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu. Phát hành kỷ yếu khoa học giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu Thương mại. Phát hành các ấn phẩm thông tin tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu của các cơ quan chức năng thuộc Bộ và Viện, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp; - Tổ chức ngân hàng dữ liệu, trao đổi thông tin với các tổ chức nghiên cứu và các nhà khoa học trong nước và quốc tế; - Thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến hoạt động công nghệ thông tin, thương mại điện tử và tổ chức hoạt động thông tin phục vụ ngành thương mại. C. Cơ cấu tổ chức - Lãnh đạo Phòng: gồm trưởng phòng và các phó trưởng phòng - Các nhóm chuyên môn: Nhóm 1: Nhóm thư viện: Bổ sung, quản lý và khai thác các tài liệu trong và ngoài nước phục vụ cho công tác nghiên cứu của Lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Viện và các nghiên cứu viên trong Viện; Tổ chức giới thiệu sách mới, tóm tắt nội dung tài liệu theo yêu cầu; Cung cấp các bản sao tài liệu gốc. Nhóm 2: Nhóm tư liệu: Cung cấp những tài liệu, tư liệu cần thiết theo yêu cầu của Lãnh đạo; Lập hệ thống hồ sơ tư liệu về tình hình kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề về phát triển kinh tế, thương mại trong nước và các khu vực trong thị trường ngoài nước và trên thế giới. Nhóm 3: Nhóm ấn phẩm: Tập hợp các công trình nghiên cứu khoa học về thương mại, tổ chức kỷ yếu giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học ngành thương mại.
  13. Huy động thông tin từ mọi nguồn trong và ngoài Viện, chịu trách nhiệm về việc tổ chức và biên soạn các ấn phẩm định kỳ, các chuyên đề về thị trường, các chính sách phát triển thương mại trong và ngoài nước. Nhóm 4: Nhóm công nghệ thông tin: tổ chức cơ sở dữ liệu và cập nhật các thông tin cần thiết theo yêu cầu của lãnh đạo; Quản lý hệ thống mạng LAN của Viện Nghiên cứu Thương mại; Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý và khai thác nguồn thông tin; Quản lý và cập nhật trang tin về kết quả nghiên cứu khoa học các đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Thương mại: http://www.mot.gov.Việt Nam 1.3.8. Phòng Nghiên cứu và Phát triển dự án A. Chức năng và nhiệm vụ của Phòng Chức năng của phòng: - Thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Viện trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch xúc tiến các dự án hợp tác và liên kết thuộc chức năng và nhiệm vụ của Viện với các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; - Nghiên cứu và phát triển các dự án hợp tác và liên kết của Viện với các đối tác trong và ngoài nước; - Tư vấn, tham mưu cho Lãnh đạo Viện về công tác quản lý các dự án hợp tác và liên kết của Viện; - Thực hiện các dự án của Viên khi được lãnh đạo Viện phân công. Nhiệm vụ của Phòng: - Xây dựng chương trình, kế hoạch hàng năm về xúc tiến các dự án hợp tác và liên kết với các đối tác trong và ngoài nước theo định hướng phát triển các hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của Viện trình Lãnh đạo Viện phê duyệt; - Nghiên cứu và đề xuất phát triển các dự án hợp tác và liên kết của Viện cho lãnh đạo Viện; - Tổ chức phát triển các dự án của Viện đã được lãnh đạo Viện phê duyệt; - Tư vấn và giúp lãnh đạo Viện trong việc quản lý các dự án hợp tác và liên kết của Viện đảm bảo chất lượng, thời gian và hiệu quả kinh tế; - Chủ trì thực hiện các dự án được Lãnh đạo Viện giao;
  14. - Tổ chức các mối quan hệ công tác giữa Phòng với các đơn vị, cá nhân thuộc Viện trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ xúc tiến, nghiên cứu phát triển và quản lý thực hiện các dự án của Viện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và năng lực của từng đơn vị, cá nhân. 1.3.9. Văn phòng Đây là bộ phận có trách nhiệm thực hiện chức năng tham mưu giúp Viện trưởng về các lĩnh vực: tổ chức cán bộ, đào tạo, lao động tiền lương, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng cơ bản, hành chính, quản trị, công tác đối nội và đối ngoại theo qui định về lề lối làm việc của Viện. Văn phòng còn phải tổng hợp và giúp Viện trưởng trong việc phối hợp các hoạt động của Viện đúng quy định về lề lối và quan hệ công tác trong Viện, giúp Viện trưởng tổ chức triển khai thực hiện và theo dõi, duy trì việc thực hiện các chế độ chính sách, luật lao động... trong Viện. 1.3.10. Phòng Tài chính kế toán A. Chức năng - Thực hiện sự chỉ đạo của Lãnh đạo Viện trong công tác xây dựng dự toán thu chi hàng năm đối với từng loại nguồn kinh phí; - Báo cáo thường xuyên, kịp thời cho Lãnh đạo tình hình sử dụng kinh phí tại Viện. Tư vấn, đề xuất với Lãnh đạo Viện trong việc tạo thêm nguồn kinh phí hoạt động cũng như việc sử dụng kinh phí đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. B. Nhiệm vụ - Thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về nguồn vốn, nguồn kinh phí được cấp, được tài trợ, được hình thành từ các nguồn khác nhau và tình hình sử dụng các khoản vốn, kinh phí và nguồn thu khác phát sinh ở Viện theo đúng đối tượng, tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành; - Phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác các hoạt động kinh tế phát sinh tại Viện vào sổ sách kế toán theo đúng nguồn kinh phí; - Kiểm tra giám sát tình hình chấp hành dự toán thu, chi, tình hình thực hiện các tiêu chuẩn định mức của Nhà nước, kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản của các đơn vị thuộc Viện, tình hình chấp hành kỷ luật thu, chi, nộp, kỷ luật thanh toán, tín dụng và các chế độ, chính sách tài chính của Nhà nước; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về kế toán;
  15. - Kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch kinh phí; - Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán, quyết toán của đơn vị cấp dưới; - Lập và nộp đúng thời hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan tài chính; tổ chức phân tích tình hình thực hiện dự toán để cung cấp thông tin kịp thời chính xác và trung thực, phục vụ cho việc quản lý điều hành của lãnh đạo Viện, công khai tài chính theo chế độ quy định. C. Quyền hạn - Phòng tài chính Kế toán được chủ động giải quyết các công việc trong phạm vi hoạt động nghiệp vụ của mình theo Luật Kế Toán hiện hành; - Được Viện tạo điều kiện sử dụng các phương tiện và điều kiện làm việc thuận lợi 1.3.11. Phân Viện Nghiên cứu Thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh - Phân Viện Nghiên cứu Thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Viện, là tổ chức sự nghiệp nghiên cứu khoa học và đào tạo giúp Viện trưởng thực hiện chức năng, nhiệm vụ như nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển, chính sách, cơ chế quản lý, xúc tiến thương mại, đào tạo và dịch vụ... của Viện tại các tỉnh phía Nam. - Tổ chức của Phân Viện gồm có Phân Viện trưởng, các Phó Phân Viện trưởng và các nghiên cứu viên có trình độ đại học và trên đại học. Ngoài ra, phân viện còn có đội ngũ cộng tác viên gồm các nhà khoa học kinh tế ở trong vàngoài ngành đang công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh. 1.3.12. Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại có các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu và tổ chức áp dụng kết quả nghiên cứu các vấn đề về kinh tế đối ngoại, thị trường, mặt hàng, chính sách và cơ chế quản lý, vận dụng kinh nghiệm của các nước, các tổ chức quốc tế vào việc ghép mối, cung cấp thông tin nhằm xúc tiến các quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; - Thực hiện công tác tư vấn về hoạt động kinh tế đối ngoại cho các cơ quan và các doanh nghiệp có nhu cầu;
  16. - Tổ chức báo cáo chuyên đề, hội thảo về những vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại; - Tổ chức các lớp bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc và các phòng nghiệp vụ: Phòng Tổng hợp, Phòng Nghiên cứu triển khai, Phòng Đào tạo, Phòng Tư vấn và Hợp tác phát triển. 1.4. Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì 1.4.1. Các rào cản phi thuế quan (NTBs) Rào cản phi thuế quan tthực chất là những biện pháp kỹ thuật hiện đã được rất nhiều nước phát triển đã áp dụng trong đó quốc gia sử dụng nhiều nhất phải kể đến là Mỹ, Mỹ đã sử dụng các rào cản phi thuế quan nhằm để thay thế cho các quy định cắt giảm thuế quan của WTO. Các rào cản thuế quan ngày nay rất đa dạng, các rào cản này bao gồm - Các biện pháp kỹ thuật - Các loại thuế và phí trong nước - Các quy định và thủ tục hải quan - Các hạn chế trong việc tiếp cận thị trường liên quan đến cạnh tranh - Các hạn chế về định lượng nhập khẩu - Các thủ tục và quy trình hành chính (nói chung) - Các thực tiễn về mua sắm của Chính phủ - Trợ cấp và các hỗ trợ của Chính phủ - Các hạn chế về đầu tư hoặc các yêu cầu - Quy định hoặc chi phí vận chuyển - Các hạn chế về cung cấp dịch vụ (nói chung) - Các hạn chế về sự dịch chuyển của các thương nhân hoặc người lao động - Các công cụ bảo hộ thương mại ( chống bán phá giá, thuế đối kháng, quyền tự vệ) - Các quy định của thị trường trong nước.
  17. Ngày nay, có rất nhiều “ vũ khí ” phục vụ cho mục tiêu bảo hộ thương mại. Ví dụ, các hàng rào phi thuế quan của Mỹ đã dập tắt cơ hội đối với các sản phẩm như đồ chơi trẻ em, bật lửa và thuốc đông y của Trung Quốc thâm nhập thị trường Hoa Kỳ. Điển hình như tiểu bang California của Mỹ đã quy định rõ trên 110 loại thuốc đông y của Trung Quốc có chứa hàm lượng kim loại nặng vượt quá mức cho phép theo tiêu chuẩn về nước uống ở California và yêu cầu tất cả các vị thuốc đông y này phải dán nhãn “độc dược” Các hàng rào phi thuế quan khác có thể thấy là Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002 có quy định áp dụng các quy định nghiêm ngặt đối với công ty xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ, theo đó họ phải đăng ký với cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Tất cả các công ty nước ngoài sản xuất, chế biến, đóng gói các thực phẩm phục vụ cho người và vật nuôi ở Mỹ phải đăng ký với cơ quan này trước ngày 12/12/2004. Các doanh nghiệp nào không tuân thủ quy định này thì hàng hoá của họ sẽ không được phép nhập vào các cảng của Mỹ và các nhà xuất khẩu này sẽ phải chịu các chế tài nhất định. 1.4.2. Các rào cản kỹ thuật trong thương mại Mỹ ( TBTs) Tiếp theo việc cắt giảm thuế quan trên quy mô toàn cầu, trọng tâm của WTO và các hiệp ước quốc tế khác đã chuyển thành việc loại trừ các rào cản phi thuế quan trong thương mại. Trong số các rào cản phi thuế quan, các rào cản kỹ thuật trong thương mại hiện chưa được xác định một cách rõ ràng. Các hàng rào kỹ thuật đề cập tới các tiêu chuẩn của hàng hoá mà mỗi quốc gia quy định một cách khác nhau. Những tiêu chuẩn này cũng có thể tác động đến việc hạn chế thương mại. Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các thông số, đặc điểm cho mỗi loại hàng hoá có thể do cơ quan chính quyền hoặc các tổ chức 2 tư nhân đặt ra. Mặc dù tuân thủ theo các thông số kỹ thuật này có thể không phải là bắt buộc nhưng những ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay. Các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể đòi hỏi các sản phẩm phải đạt được những yêu cầu nhất định trước khi được đưa ra thị trường. Các thông số kỹ thuật có thể đóng vai trò như các rào cản thương mại, đặc biệt khi nó quy định khác nhau giữa các nước. Để phù hợp với các tiêu chuẩn này vừa khó khăn vừa tốn kém nên xét về mặt kinh tế không thể vừa thực hiện vừa duy trì được sức cạnh tranh trên thị trường nước ngoài
  18. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì 2.1.1 Về kim ngạch xuất khẩu Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì với khối lượng 70.930 tấn thủy sản các loại, trị giá 489.03 triệu USD. Năm 2002, khối lượng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang Hoa Kì tăng lên 98.664 tấn, đạt 654.98 triệu USD, chiếm khoảng32,4% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kì bắt đầu có hiệu lực, theo đó thuế nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vào Hoa Kì giảm 30-40 % tạo điều kiện thuận lợi nâng cao tính cạnh tranh về giá cả cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường Hoa Kì. Năm 2003, Việt Nam xuất khẩu đạt hơn 777 triệu USD, đây là giai đoạn Hoa Kì kiện Việt Nam về việc bán phá giá cá tra và cá basa khiến cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam chịu nhiều tổn thất. Tính từ cuối năm 2004, các vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) đối với cá tra, cá basa và tôm Việt Nam dẫn đến mức thuế thu nhập của mặt hàng tăng lên rất cao, khiến các nhà nhập khẩu Hoa Kì không thể chịu được và các nhà xuất khẩu Việt Nam thì không đủ khả năng để đóng ký quỹ thuế chống bán phá giá vì nó quá lớn và khả năng thanh khoản thấp. Điều này dẫn đến tình trạng kim ngạch thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì giảm mạnh, từ 20% xuống (-24%), Hoa Kì dần trở thành nhà nhập khẩu đứng thứ hai rồi thứ ba. Năm 2004, thủy sản xuất sang Hoa Kỳ có tổng kim ngạch 565 triệu USD. Năm 2005 tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ đã lấy lại đựơc sự ổn định và dần phát triển khả quan. Chúng ta đã đề ra một số biện pháp , trong đó quan trọng nhất là tạo nên những sản phẩm cá có chất lượng. Vì vậy, hàng loạt các hoạt động về ghi nhãn mác đối với các sản phẩm cá đông lạnh xuất khẩu đã được triển khai. Ngoài ra, những nỗ lực của Việt Nam trong việc kiểm soát dư lượng kháng sinh trong hàng thủy sản xuất khẩu là rất đáng ghi nhận. Hiện nay, với việc tăng cường kiểm tra hàng thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ và Canada
  19. (kiểm soát 100% các lô hàng thuộc 3 nhóm sản phẩm thịt cua ghẹ, tôm và cá da trơn với 4 chỉ tiêu kháng sinh, thời gian tối thiểu 4 tháng), Việt Nam đã củng cố vững chắc niềm tin về chất lượng hàng thủy sản cho tất cả các thị trường , nhất là thị trường mỹ Năm 2006, giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào Hoa Kỳ đạt 664,340 triệu USD, là thị trường xuất khẩu lớn thứ 03 sau Nhật & E.U. Năm 2005 và 2006 là những năm có diễn biến thuận lợi về vấn đề đánh giá hành chính cá tra và cá basa, nhiều doanh nghiệp đã được hưởng mức thuế chống bán phá giá giảm tương đối. Thuế chống bán phá giá và đóng ký quỹ cho Hải quan Hoa Kì ngày càng được ổn định, đơn giản hơn, mức thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam thấp hơn so với các nước cùng xuất khẩu mặt hàng này sang Hoa Kì, tạo điều kiện cải thiện kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kì. Sang đến năm 2007, thủy sản Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi đáng kể trên thị trường Hoa Kì. Mức tăng trưởng khá mạnh 18,4% từ quý II sang quý III rồi sang quý IV, dẫn đến tăng trưởng cả năm tăng lên 8,5% về giá trị. Kểtừ thời kì suy thoái 2004, 2005 và giai đoạn phục hồi 2006, 2007 thì năm 2007 được coi là năm có mức tăng trưởng cao nhất. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu gần 100 nghìn tấn thủy sản, trị giá hơn 720,5 triệu USD, tương đương về khối lượng nhưng tăng 8,5% giá trị so với năm2006, chiếm khoảng 20,4% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, sau EU là 25,7%, Nhật Bản là 21,1% và trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam lớn thứ 3.
  20. Bảng 2.1 Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kì 2001-2009 Khối lượng Tăng trưởng Tăng trưởng Năm Giá trị (USD) (tấn) (%) (%) 2001 70.931 489.034.963 2002 98.665 39 655.654.511 34 2003 123.472 25 782.238.334 19 2004 89.768 -27 592.824.065 -24 2005 91.674 2 633.984.549 7 2006 98.883 8 664.339.579 5 2007 99.769 1 720.524.455 8 2008 108.064 8.3 744.623.000 3.3 2009 103.206 -4,5 711.145.746 -4,5 Nguồn: Báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (http://www.fistenet.gov.vn) Sang năm 2008, thủy sản xuất khẩu cả nước tăng 20% về giá trị nhưng đây là một năm thủy sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu của Tổng cục Hải Quan, xuất khẩu thủy sản đạt trên 1,2 triệu tấn với trị giá trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7% về khối lượng và 19,8% về giá trị so với năm 2007. Do là trung tâm của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Hoa Kì tụt xuống vị trí thứ 3 về nhập khẩu thủy sản Việt Nam với trị giá khoảng 744 triệu USD, tỷ trọng giảm từ 20,4% xuống 16,5%. Có nhiều nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sự sụt giảm về sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì. Trước hết, đó là do từ giữa năm 2007, nền kinh tế Hoa Kì khủng hoảng, người tiêu dùng Hoa Kì đã giảm dần sức mua, đặc biệt là mặt hàng tôm vốn là mặt hàng cao cấp bị liệt vào danh sách tiết giảm. Báo cáo của Cục khí quyển và hải dương quốc gia Hoa Kì (NOAA) chỉ ra rằng năm 2007, người tiêu dùng Hoa Kì tiêu thụ 2,23 triệu tấn thủy sản, giảm 0,7% so với năm 2006 là 2.247 triệu tấn. Thứ hai, đó là do từ năm 2007, ngân hàng Hoa Kì thắt chặt tín dụng gây ra tình trạng các doanh nghiệp nhập khẩu Hoa Kì thiếu vốn mua hàng, phải nợ tiền hàng của các doanh nghiệp Việt Nam và thanh toán khi bán xong hàng. Nhiều thời
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2