Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đối với thị trường dệt may thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch

Chia sẻ: Lala Lala | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:124

0
118
lượt xem
36
download

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đối với thị trường dệt may thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn do Nguyễn Hồng Hà thực hiện trình bày các nội dung chính sau: Tổng quan về thương mại hàng dệt may Trung Quốc và thị trường dệt may thế giới giai đoạn từ 1-1-1995 đến nay, Tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đối với ngành dệt may Việt Nam, Các giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đối với thị trường dệt may thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CSBO NGUYỄN HỔNG HÀ TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG DỆT MAY THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HẬU HẠN N G Á C H Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quờc tế -Ị M ã sô 60.31.07 THư »£ « ị Ì MÙ)'.G ••• c:ị NGOAI ÌH >iÀ mí. Ơ04é^i LUẬN VÃN THẠC SỸ KINH TẼ Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Thị M ơ HÀ NỘI 5 2 0 -06
  2. M Ú C LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 C H Ư Ơ N G 1: TỔNG QUAN VỀ T H Ư Ơ N G MẠI HÀNG DỆT MAY TRUNG QUỐC VA THỊ TRƯỜNG DỆT MAY THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN TỪ 1-1-1995 ĐẾN 6 NAY ..... • L I . Thương mại hàng dệt may trong khuôn khỏ của WTO trước và sau khi dỡ bỏ hạn ngạch 6 1.1.1. Thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ WTO trước khi dỡ bỏ hạn ngạch 6 1.1.2. Thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ của W T O sau khi dỡ bỏ hạn ngạch 10 1.2. Thương mại hàng dệt may Trung Quốc thòi kỳ từ Ì - 1 - 2005 đến nay 16 1.2.1. Thực trạng năng lực sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may Trung Quốc 16 1.2.2. Thế mạnh và điểm yếu của ngành dệt may Trung Quốc 19 1.2.3. Nhứng lợi thế và bất lợi của thương mại hàng dệt may Trung Quốc sau khi Hiệp định A T C chấm dứt hiệu lực ngày 1-1- 2005 „ ' . ' . . ' 23 1.3. Thị trường dệt may thê giới thời kỳ hậu hạn ngạch 25 1.3.1. Nhận xét chung về thị trường dệt may phi hạn ngạch 25 Ì .3.2. M ộ t số m ô hình của bản đồ dệt may thế giới sau hiệp đinh dệt may A T C ' . .. 7 ". 33 .. CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY TRUNG QUỐC TRONG THỜI KỲ HẬU HẠN NGẠCH 38 2.1. Đánh giá nhứng tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc tói thị trường dệt may thê giói 38 2.1.1. Nhứng tác động tích cực 38 2.1.2. Các tác động tiêu cực 39 2.1.3. Hướng phát triển của ngành dệt may các nước trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của Trung Quốc 46 2.2. Nhứng tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đôi với ngành dệt may Việt Nam 58
  3. 2.2.1. Các tác động tích cực 58 2.2.2. Các tác động tiêu cực 59 C H Ư Ơ N G 3: C Á C GIẢI PHÁP CHO N G À N H DỆT MAY VIỆT NAM TRONG THÒI KỲ HẬU HẠN NGẠCH 62 3.1. Thực trạng ngành dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong thời gian qua 62 3.1.1. Đánh giá thực trạng ngành dệt may Việt Nam 62 3.1.2. Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 67 3.2. Dự báo sự phát triển triển của ngành dệt may Việt Nam thời kỳ hậu hạn ngạch 75 3.2.1. D ự báo về sự phát triển xuất khẩu dệt may 75 3.2.2. Những thuận lợi và khó khăn của ngành dệt may trong thời kỳ hậu hạn ngạch 77 3.3. Các giải pháp cụ thể 81 3.3.1. N h ó m giải pháp và kiến nghị về nguốn cung ứng 81 3.3.2. N h ó m giải pháp và kiến nghị về thị trường 85 3.3.3. N h ó m giải pháp và kiến nghị về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu hàng dệt may 91 3.3.4. N h ó m giải pháp và kiến nghị khác 94 KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 CÁC PHỤ LỤC 101
  4. i DANH MỰC CÁC CHỮVIẾT TẮT AGOA Đ ạ o luật về Tăng trưởng và C ơ hội Châu Phi (African Growth and Opportunity Act) ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đ ô n g Nam á (Association of South East Asia Nations) ATC Hiệp định Hàng dệt may (Agreement ôn Textiles and Clothing) CMT Phương thức gia công xuất khẩu uy thác EU Liên minh châu  u (European Union) FOB Phương thức xuất khẩu trực tiếp GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GSP H ệ thống Ư u đãi phổ cập chung ILO T ổ chức lao động thế giữi (International Labour Organization) LTA Hiệp định dài hạn về bông sợi MFA Hiệp định đa sợi STA Hiệp định ngắn hạn về bông sợi TMB C ơ quan giám sát hàng dệt (Textiles Monitoring Body) TRIPS Hiệp định về Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại TSB C ơ quan kiểm soát hàng dệt (Textiles Surveillance Body) VINATEX Tổng công ty Dệt may Việt Nam WTO T ổ chức Thương mại T h ế giữi
  5. ri DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Lịch trình sát nhập vào GATT 1994 13 Bảng 1.2: Lịch trình tự do hoa hạn ngạch 14 Bảng 1.3: Xuất khẩu và thị phần của Trung Quốc, Hồng Rông và Macao trong năm 2002, triệu đô-la (thứ hạng) 28 Bảng 1.4: Thương mại dệt may thế giới năm 2007 (tính theo giá trị năm 1997) 31 Bảng 2.1: Thiệt hại giá trị xuất khẩu dệt may của các quốc gia 41 Bảng 2.2: Số lượng thất nghiệp tại Hoa Kỳ dự kiến giai đoạn 2004-2006 45 Bảng 2.3: Thoa thuận dệt may Hoa Kỳ - Trung Quốc 48 Bảng 2.4: Mức tăng trư ng qua các năm theo thoa thuận 52 Bảng 3.1: Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam đến năm 2004 64 Bảng 3.2: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam 65 Bảng 3.3: Thị trường xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam 69 Bảng 3.4: Lợi thế so sánh tương đối của ngành dệt may của các quốc gia 70
  6. iii DANH MỤC C Á C BIÊU Đ ổ Biểu đồ Ì. Ì: Xuất khẩu dệt may thế giới qua các năm (từ năm 1997 đến 2004) l i Biểu đồ Ì .2: Giá xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc so vói phần còn lại của thế 21 Biểu đồ 1 3: Thi phần EU hàng đét trước và sau khi xoa bỏ quota A T C 26 Biểu đồ 1 4: Thi phần EU hàng may mác trước và sau k h i xóa bỏ quota ATC .. .. 26 Biểu đồ 1 5: Thi phần hàng đét vào Mỹ trước và sau khi loai bỏ quota ATC 27 Biểu đồ 1 6 Thị phần hàng may mặc vào Mỹ trước và sau k h i xoa bỏ quota ATC. 27 Biểu đồ 1 7 30 Biểu đồ 1 . M ư ờ i nước xuất khẩu hàng đầu vào thi trường E U 8 30 Biểu đồ 2.1: Thị phần xuất khẩu hàng dệt may Trang Quốc vào Hoa K giai đoạn 2002-2006 46 Biểu đồ 3.1: Sơ đồ phát triển chung của các doanh nghiệp may 72
  7. iv LỜI CẢM Ơ N Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS. TS. Nguyễn Thị M ơ , nguôi đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu cho em trong quá trình hoàn thành luận văn. Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thày cô giáo giảng dạy tại Trường Đ ạ i học Ngoại Thương, đặc biốt là các thày cô giáo giảng dạy và làm viốc tại Khoa Sau Đ ạ i học, những người đã dìu dắt và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại trường. Xin chân thành cảm ơn tất cả người thân trong gia đình, đồng nghiốp và bạn bè đã giúp đỡ và tạo điều kiốn để em hoàn thành luận văn này. Hà Nội, tháng 5 năm 2006 Học viên Nguyễn Hồng H à
  8. Ì LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Kết thúc vòng đàm phán Urugoay, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã ra đời và cùng vói nó là Hiệp định hàng Dệt may (ATC). Theo hiệp định này, hạn ngạch hàng dệt may được bãi bỏ dần từ năm 1995 và chấm dứt hoàn toàn vào ngày 1-1-2005. Kể từ sau ngày 1-1-2005, hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực, mở ra một thời kẹ phi hạn ngạch trong khuôn khổ các quốc gia thành viên WTO/ ATC. Việc bãi bỏ hạn ngạch dệt may trong khuôn khổ các nước thành viên WTO được đánh giá là một bước ngoặt hứa hẹn vẽ lại bản đồ dệt may Thế giới. Thời kẹ hậu hạn ngạch đã khiến hơn 30 triệu người trong ngành dệt may ở các nước đang phát triển có nguy cơ bị mất việc, chỉ còn một số lượng nhỏ (khoảng 15, 20 nước) có khả năng tồn tại và phát triển. Trong số những nước có lợi thế cạnh tranh về lao động và nguồn nguyên liệu như Trung Quốc, Ân Độ, Pakistan... thì Trung Quốc nổi lên như một sự kiện và bước đầu thống trị thị trường dệt may thế giới. Không chỉ các nước phát triển có chi phí lao động cao bị đe doa m à ngay cả các nước đang phát triển như Indonesia, Philipines, Campuchia, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn và cạnh tranh gay gắt. Trong những năm gần đây, ngành Dệt may Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ cao và giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. N ă m 2004, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt khoảng 4,3 tỷ USD, chỉ đứng sau ngành dầu khí, năm 2005 đạt 4,85 tỷ USD. N ă m 2006, chúng ta đã đặt chỉ tiêu cho ngành là tổng k i m ngạch xuất khẩu đạt trên 5,5 tỷ USD, tăng 1 1 % so với năm 2005 [41] . Tại các thị trường chính như Mỹ, EU, sản phẩm dệt may Việt Nam gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc, nước được đánh giá là có l ọ i nhất từ việc bãi bỏ chế độ hạn ngạch. Việc gia nhập WTO của Việt Nam đang chỉ còn là tháng, ngày. Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tuân theo luật chơi chung trong việc bãi bỏ hạn ngạch dệt may theo ATC. Giải pháp nào cho ngành dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt Nam nói riêng. Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện vấn để hàng dệt may hậu hạn ngạch.
  9. 2 Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tác động của ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc tới thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch để từ đó tìm kiếm các giải pháp cải thiện và thúc đợy ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới là rất cần thiết. Chính vì vậy, vấn đề 'Tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đối với thị trường dệt may thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch"'đã được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của luận vãn thạc sỹ kinh tế này. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài ở trong và ngoài nước: ơ ngoài nước: Trong bối cảnh hậu hạn ngạch, hiện tượng thương mại dệt may Trung Quốc và tác động của nó tới thị trường dệt may thế giới đang nổi lên là một vấn đề nóng hổi và liên tục có sự biến động. Cho đến nay, trên thế giới đã có một số bài báo, công trình nghiên cứu về dệt may Trung Quốc và tác động của nó tới các quốc gia khác kể từ sau 1/1/2005. Cụ thể như: - "Mối đe doa Trung Quốc đối với thương mại dệt may thế g i ớ i " ('The China Threat to World Textile and Apparel Trade") của Tổ chức các nhà sản xuất dệt may Hoa Kỳ xuất bản năm 2005. - "Dệt may - Những thử thách trong giai đoạn mới" ỰTextiles and Clothìng: Challenges in the New Phase') của tác giả Munir Ahmad, do ITCB xuất bản 9/2005 - "Sự phát triển của thương mại dệt may thời kỳ hậu hạn ngạch" {"Developments in Textiỉes and Clothing Trade, Post the ATC) của tác giả Munir Ahmad, do ITCB xuất bản 12/2005. - "Các vấn đề về lao động trong ngành dệt may thời kỳ hậu hạn ngạch" ("Labour Implications of the textiles and clothing quota phase-out"), của tác giả Hildegunn Kyvik Nordas, do I L O xuất bản 1/2005. - "Hàng triệu người sẽ mất việc làm" ("Millions to lose textile jobs'), bài báo của BBC, tháng 6/2005. Ở trong nước:
  10. 3 ở trong nước cũng đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học về thương mại hàng dệt may Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO, cụ thể như những bài báo: - "Thị trường dệt may phi hạn ngạch và những tác động" của tác giử Cao Thúy Nga, báo Thương mại số 29/2005. - "Ngành dệt may sau 2004: viễn tượng và thử thách" của tác giử Đ ỗ Tuyết Khanh, báo Thời đại mới số tháng 7/2004. - "Cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may thế g i ớ i " của tác giử Hoàng Xuân Hoa, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 5(109)/2005. - " A i được lợi khi xóa bỏ chế độ hạn ngạch dệt may" của tác giử Việt Nga, báo Ngoại thương số 18 ngày 21-30/06/2005 Hay như các luận văn thạc sỹ: - "Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam" của tác giử Nguyễn Thị Thanh Cúc, năm 2005. - "Tác động của việc hết hiệu lực hiệp định hàng Dệt may đến các nước và các giửi pháp đối với Việt Nam" của tác giử Lê Thị Thu Hương, năm 2005. Tuy nhiên, các đề tài, bài báo, bài nghiên cứu này chỉ nghiên cứu về tác động của Trung Quốc tới dệt may Việt Nam kể từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO hay tác động của Hiệp định ATC tới các quốc gia kể từ k h i A T C chấm dứt hiệu lực. Chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc tới dệt may thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hậu hạn ngạch. Đây là luận văn thạc sỹ kinh tế đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và cụ thể về vấn đề này. 3. Mục đích nghiên cứu: - Phân tích thế mạnh của thương mại dệt may Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO, đặc biệt kể từ khi hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực. - Đánh giá những tác động của thương mại dệt may Trung Quốc tới thị trường dệt may thế giới và tới Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch. - Đ ề xuất giửi pháp phát triển công nghiệp dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam nói riêng trong thời gian tới.
  11. 4 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Đ ể đạt được các mục đích nêu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau: - Nêu được nội dung cơ bản của hiệp định dệt may ATC, tìm hiểu cơ chế tự do hoa thương mại trong ngành dệt may thế giới kể từ sau 1-1-2005. - Phân tích sự phát triển của thương mại dệt may Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO và sau khi hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực. L à m rõ nhỹng thế mạnh của Trung Quốc với ý nghĩa là nhỹng yếu tố cạnh tranh đáng lưu ý. - Nêu bật được các tác động (tích cực và tiêu cực) của thương mại dệt may Trung quốc tới thị trường dệt may thế giới trong bối cảnh hậu hạn ngạch. - Đánh giá tác động (tích cực và tiêu cực) của thương mại dệt may Trung Quốc tới ngành dệt may Việt Nam, tới khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. - Đ ề xuất các kiến nghị, giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong bối cảnh hậu hạn ngạch và gia nhập WTO. 5. Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu: Đôi tượng nghiên cứu: Đ ố i tượng nghiên cứu của Luận văn thạc sỹ này là nhỹng vấn đề liên quan đến sự phát triển của thương mại dệt may Trung Quốc; các tác động của nó tới ngành dệt may thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hậu hạn ngạch. Đ ố i tượng nghiên cứu của luận văn còn bao gồm các quy định của hiệp định dệt may ATC và các quy định liên quan đến ngành dệt may Việt Nam và xuất khẩu hàn dệt may Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Thương mại hàng dệt may thế giới nói chung và Trang Quốc nói riêng trong bối cảnh hậu ngạch là một vấn đề rộng lớn và phức tạp. Do tính chất chuyên sâu, luận văn thạc sỹ này không phân tích mọi khía cạnh pháp lý, ưu nhược điểm của việc chấm dứt hiệp định ATC cũng như tác động của môi trường tự do thương mại sau ATC tới ngành dệt may Trung Quốc và thế giới. Luận văn này cũng không phân
  12. 5 tích cấu trúc ngành dệt may Trung Quốc. Luận văn thạc sỹ này chỉ đi sâu phân tích sự phát triển của thương mại dệt may Trung Quốc và các tác động của nó tới thị trường dệt may thế giới và Việt Nam trong bối cảnh hậu hạn ngạch. 6. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn áp dụng các biện pháp nghiên cằu tổng hợp như phân tích, luận giải, thống kê, phân tích so sánh, kinh tế lượng và m ô hình hoa để nghiên cằu bản chất các đối tượng nghiên cằu. Luận văn cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia kinh tế cũng như các giáo sư tiến sỹ kinh tế trong ngành nhằm đạt được kết quả nghiên cằu tốt nhất. 7. Kết cấu của Luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận vãn được cấu thành 3 chương: Chương Ì: Tổng quan về thương mại hàng dệt may Trung Quốc và thị trường dệt may thế giới giai đoạn từ 1-1-1995 đến nay. Chương 2: Tác động của thương mại hàng dệt may Trang Quốc trong thời kỳ hậu hạn ngạch Chương 3: Các giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch
  13. 6 C H Ư Ơ N G 1: TỔNG QUAN VỀ T H Ư Ơ N G MẠI H À N G DỆT MAY TRUNG QUỐC V À THỊ T R Ư Ờ N G DỆT MAY T H Ế GIỚI GIAI Đ O Ạ N TỪ 1-1-1995 Đ Ế N NAY 1.1. T H Ư Ơ N G M Ạ I H À N G D Ệ T M A Y TRONG K H U Ô N K H Ổ C Ủ A WTO T R Ư Ớ C V À SAU K H I D Ỡ B ỏ H Ạ N N G Ạ C H Đ ố i với nhiều quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, ngành dệt và may mặc với những đặc thù như sử dụng nhiều lao động, vốn đợu tư không quá lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, được coi là một trong những ngành công nghiệp quan trọng trong giai đoạn đợu của quá trình công nghiệp hoa. Đặc biệt, trong suốt 2 thập kỷ qua, dệt may là ngành năng động thứ nhì trong hệ thống thương mại thế giới sau hàng điện và điện tử. Các nước đang phát triển đã đóng góp phợn đáng kể trong quá trình phát triển này, và dệt may tiếp tục đóng vai trò sống còn trong nền kinh tế trong nước. Đây là ngành đem lại triển vọng sáng sủa cho quá trình đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu truyền thống, tạo thêm nhiều công ân việc làm, thu hẹp dợn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, tạo nguồn thu ngoại hối. Hoạt động kinh tế của ngành cũng tạo ra những ý nghĩa quan trọng đối với các vấn đề kinh tế xã hội như phân phối thu nhập bình đẳng hơn, tạo công ăn việc làm cho phụ nữ, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy phát triển các khu vực kinh tế khác, đưa các vùng sâu và xa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tăng cường phát triển kinh tế nông thôn, xoa đói giảm nghèo. 1 1 1 Thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ WTO trước khi dỡ bỏ ... hạn ngạch. Ngay từ những năm đẩu của hệ thống thương mại đa phương, đánh dấu bằng sự ra đời của tổ chức GATT, tiền thân của WTO, năm 1947, ngành dệt may đã là một vấn đề khúc mắc trong các vòng thương thuyết nhằm tự do hoa các luồng thương mại. Trong hơn 30 năm, ngành này không được điều tiết bởi các qui tắc chung áp dụng cho mậu dịch hàng hoa m à bởi các chế độ riêng thông qua các hiệp định lẻ tẻ như Hiệp định ngắn hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi năm 1961 (Short
  14. 7 Term Arrangement regarding International Trade in Cotton textiles - SĨA), Hiệp định dài hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi năm 1962-1973 (Long Term Arrangement regarding ỉnternational Trade in Cotton textiles - LTA), và Hiệp định đa sợi năm 1974-1994 {Arrangement regarding ỉnternational Trade in Textiles, thường gọi tắt là Multi/ibre Arrangement - MFA). Từ năm 1995, ngành dệt may và thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ WTO được điều tiết bởi Hiệp định dệt may {Agreement ôn Textiles and Clothing - ATC), một trong những hiệp định được ký kết sau vòng đàm phán Uruguay. ATC ra đời đã thay thế hiệp định M F A và đưa ra những qui định về biện pháp chuyển tiếp nhằm đưa toàn bộ hàng dệt may vào khung pháp lý chung cỳa WTO. Đ ể phân tích diễn tiến cỳa khung pháp lý từ hiệp định STA đến Hiệp định ATC, phải điểm sơ qua bối cảnh chung cỳa thời kỳ ấy. Trong những năm ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đa số các luồng thương mại quốc tế bị chi phối bởi nhiều chế độ quốc gia khác nhau. Một số nước phát triển viện lý do cán cân thanh toán gặp khó khăn sau chiến tranh để áp dụng thuế suất cao, thỳ tục thuế quan nặng nề, và rất nhiều biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu. Từ những năm 1950 trở đi, các hàng rào mậu dịch dần dần được hạ xuống để tiến đến tự do hoa thương mại qua các vòng đàm phán trong khuôn khổ cỳa Hiệp định GATT. Song song với xu hướng này và sự phục hồi cỳa cán cân thanh toán trong các nước phát triển, Nhật Bản cũng tham gia trở lại vào thương mại dệt may thế giới. Cùng lúc,một số nước nghèo bắt đầu xuất khẩu hàng dệt và, trong chừng mực í hơn, các hàng may mặc. Nhờ nhân t công và nguyên liệu rẻ, các nước này nhanh chóng xuất khẩu ngày càng nhiều các hàng dệt may bằng bông sợi sang các nước phát triển, cạnh tranh ồ ạt với ngành sản xuất nội địa cỳa họ. Trước nguy cơ lỗ, phá sản đe dọa việc làm cỳa cả một ngành sản xuất, gây ra căng thẳng trong xã hội, một số nước phát triển đã tiến hành đàm phán song phương với 4 nưóc xuất khẩu chính lúc ấy - Nhật, Hồng Kông, ấn Đ ộ và Pakistan - để ép họ phải tự giới hạn lại. Những thoa thuận "hạn chế xuất khẩu tự nguyện" (voluntary export restraint) này trở thành biện pháp phổ biến để ngăn chặn nhập khẩu, không chỉ đối với hàng dệt may m à còn trong nhiều ngành khác.
  15. 8 N ă m 1959, theo yêu cầu của Bộ trưởng tài chính M ỹ Douglas Dillon, tổ chức GATT bắt đầu họp bàn về vấn đề "nhập khẩu tăng vọt trong thời gian ngắn cho vài mặt hàng và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, chính trợ và xã hội trong nước nhập khẩu". N ă m 1960, các thành viên G A T T công nhận hiện tượng "xáo trộn thợ trường" (market disruption), và đã cho phép nước nhập dùng biện pháp phòng chống (sa/eguard) để bảo vệ ngành sản xuất nội đợa. N ă m 1961, để vận động cho đạo luật Thương mại năm 1962 (Trade Act 1962), chính phủ M ỹ đề xướng một hội nghợ các nước xuất khẩu hàng dệt trong khuôn khổ của GATT. Kết quả của hội nghợ oái oăm này là Hiệp đợnh STA, thực ra là pháp lý hoa việc v i phạm các nguyên tắc của GATT, dẫu là ngắn hạn như nói rõ trong tên gọi và chỉ có hiệu lực một năm. STA cho phép các nước xuất khẩu, đơn phương hoặc qua thoa thuận song phương, ấn đợnh hạn ngạch (quota) để giói hạn nhập khẩu khi có nguy cơ "xáo trộn thợ trường". Các cuộc thương thuyết vẫn tiếp tục và năm 1962, STA được thay thế bởi LTA. L T A có hiệu lực 5 năm và để bù lại, các hạn ngạch bắt buộc phải được nâng cao và tăng 5 % m ỗ i năm. Hiệp đợnh này được gia hạn vào năm 1967 và vào năm 1970. Tháng 12/1972, G A T T hoàn tất một cuộc điều tra nghiên cứu tình hình dệt may. Trên cơ sở bản báo cáo này và các thương thuyết sau đó, L T A được thay thế bởi Hiệp đợnh M F A áp dụng từ tháng 1/1974. Hai hiệp đợnh STA và L T A chỉ nhắm hàng bông sợi vì thời ấy các nước đang phát triển chỉ xuất khẩu loại hàng đó. Một trong những lý do sản xuất sợi hoa học tâng nhanh trong các nước phát triển cũng vì các nước này muốn tránh bợ lệ thuộc vào một nguyên liệu tập trung ở thế giới thứ ba, không kể là sợi hoa học ngày càng được dùng cho đủ mọi ứng dụng tiên tiến và dựa vào một nguyên liệu rẻ và dồi dào, tưởng như có thể khai thác vô tận, cho đến cuộc khủng hoảng của dầu hoa năm 1973. Cho đến lúc ấy, nhiều người nghĩ rằng sợi hoa học sẽ rốt cuộc loại hẳn các sợi tự nhiên khỏi thợ trường. Nhưng chính khuynh hướng này cũng tác động lên các nước đang phát triển, họ cũng muốn gia tăng giá trợ xuất khẩu của mình và bắt đầu tham gia vào ngành vải sợi hoa học. Do đó Hiệp đợnh M F A không chỉ chi phối sợi
  16. 9 bông m à còn áp dụng cho cả len và sợi hoa học, vì thế mới gọi là Hiệp định đa sợi (multifibre). Hiệp định M F A có mục tiêu mở cửa có trật tự các thị trường bị giới hạn nhằm tránh sự "xáo trôn thị trường". Giống như hai hiệp định trưóc, M F A cho phép áp đặt hoặc duy trì hạn ngạch, với điều kiện phải gia tăng 6 % mỡt năm. Ngoài ra, trước khi có thể viện lý do là thị trường bị xáo trỡn hay có sự "đổ vỡ thị trường", các nước nhập khẩu phải hỡi ý với nước xuất khẩu và tuân theo mỡt số điều kiện và tiêu chuẩn ghi trong MFA. M ỡ t Cơ quan Kiểm soát Hàng dệt (Textiles Surveillance Body - TSB) được thành lập để quản lý hiệp định và giám sát sự thi hành. Các nước áp đặt hạn ngạch phải thông báo mỗi biện pháp mới lên TSB và hàng năm báo cáo tình hình. Cơ quan TSB cũng có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp và hàng năm báo cáo hoạt đỡng của mình lên Uy ban Hàng dệt (Textiles Committeè) của GATT. Tuy nhiên, khoa học phân tích chính sách thương mại định lượng đã phát triển rất hạn chế trong những năm 1970. Do vậy m à hàng loạt các bằng chứng xây dựng nên khái niệm "đổ vỡ thị trường" không có sức thuyết phục và hiệp định này đã trở thành mỡt hiệp định điều tiết việc xuất khẩu của hầu hết các quốc gia đang phát triển vào Hoa Kỳ và Châu Âu. Vào cuối thời kỳ của Hiệp định M F A lần thứ 2 (năm 1981), 8 0 % nhập khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ được điều tiết bởi các thoa thuận hạn ngạch song phương với 20 quốc gia và vùng lãnh thổ và bởi cơ chế tư vấn với 11 quốc gia khác. Hiệp định M F A do vậy đã vi phạm cơ chế đa phương trên nhiều phương diện: V i phạm quy tắc đãi ngỡ quốc gia; nó cho phép áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng thay vì sử dụng các biện pháp thuế quan; phân biệt đối xử giữa các quốc gia đang phát triển; là cơ chế không minh bạch. Vì M F A đi ngược lại hai quy tắc căn bản của G A T T là minh bạch và không phân biệt đối xử, và nằm ngoài khung pháp lý chung nên tuy được quản lý bởi GATT, chỉ áp dụng cho các nước liên can chứ không cho tất cả các thành viên. Cũng vì yếu tố biệt lệ này m à Trung Quốc, tuy không là thành viên, cũng tham gia từ đầu thập niên 1980. Hiệp định M F A đã được thương lượng lại tổng cỡng 4 lần vào các năm 1977, 1981, 1986 và 1991, sau mỗi lần đều kèm theo nhiều điều lệ mới và nó hết hiệu lực vào năm 1994. Trong những năm cuối, tham gia M F A có 8 nước phát
  17. 10 triển ("nước nhập khẩu") bao gồm áo, Canada, Cộng đồng kinh tế Châu  u EEC, Mỹ, Phần Lan, Nhật, Thúy Sĩ và Na Uy, và 36 nước đang phát triển ("nước xuất khẩu"). Trên tổng số 8 nước nhập khẩu này, chỉ có Nhật và Thúy Sĩ là không hề áp dụng hạn ngạch. Thực tế là trong suốt 21 năm thi hành, từ 1974 đến 1994, M F A đã là công cụ cợa các nước giàu để ngăn chặn nhập khẩu từ các nước nghèo hơn là "mở rộng thương mại, giảm các hàng rào mậu dịch và dần dần tự do hoa mậu dịch quốc tế về hàng dệt, cùng lúc điều tiết sự phát triển của luồng thương mại này và tránh các hậu quả gây xáo trộn thị trường và ngành sản xuất trong các nước nhập kh u cũng như xuất kh u", như mục tiêu chính thức m à nó đã đề ra. Các hạn ngạch được thương lượng trên cơ sở song phương, thường xuyên xem xét lại, và tỷ lệ gia tăng thường thấp hơn con số 6 % quy định trong MFA. 1.1.2. Thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ cợa WTO sau khi dỡ bỏ hạn ngạch 1.1.2.1. Bối cảnh ra đời của Hiệp định hàng dệt may (ATC) Các nước xuất khẩu không ngừng đòi hỏi phải bãi bỏ chế độ hạn ngạch này và cơ sở pháp lý cợa nó. Vấn đề dệt may là một trong những đề tài khúc mắc cợa vòng đàm phán Uruguay, và các nước nghèo cũng chỉ đồng ý với một số nhượng bộ cho hai Hiệp định GATS và Hiệp định TRIPs với điều kiện các nước giàu cũng phải nhượng bộ về mặt nông nghiệp và dệt may. M ộ t trong những thoa thuận này là tuy không chấm dứt ngay năm 1994, chế độ M F A phải được thay thế bởi một cơ chế ràng buộc cho tất cả các thành viên như các quy chế khác cợa WTO và chuẩn bị cho việc sát nhập thương mại hàng dệt may vào khung pháp lý chung cợa WTO. Hiệp định hàng dệt may (Agreement ôn Textiles and Clothing - ATC) ra đời cùng với sự ra đời cợa WTO năm 1995. ATC không phải là sự gia hạn kéo dài cợa hiệp định đa sợi MFA m à nó quy định các biện pháp chuyển tiếp nhằm đưa thương mại hàng dệt và may mặc vào khung pháp lý chung cợa WTO. A T C chỉ là một công cụ cho một giai đoạn chuyển tiếp và không thể dùng để kéo dài một tình trạng ngoại lệ đã quá lâu. Do đó, điều 9 cợa A T C đã khẳng định là Hiệp định này sẽ chấm dứt vào "ngày đầu
  18. li tiên của tháng thứ 121 sau khi Hiệp định mo cố hiệu lực, khi ấy thương mại hàng dệt may sẽ hoàn toàn sáp nhập vào Hiệp định GATT1994", tức là ngày 1-1-2005. Điểm qua tình hình xuất khẩu hàng dệt may trên thế giói cho đến trước k h i Hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực 1/1/2005 như sau: Dệt và may chiếm 7 % tổng k i m ngạch xuất khẩu của thế giới và là một trong số những ngành năng động nhất. Trong đó, ngành may với tính chất sử dụng nhiều lao động chiếm 5 7 % tổng thương mại dệt may. Xuất khẩu hàng may tăng truỷng trung bình 5,9%/ năm trong giai đoạn 1997-2004, trong khi hàng dệt tăng trưởng trung bình 3 % / năm trong cùng giai đoạn đó (xem biểu đỷ 1.1). Các quốc gia đang phát triển chiếm tới hơn một nửa xuất khẩu dệt của thế giới và 3/4 xuất khẩu may của thế giới. Biểu đồ 1.1: Xuất khẩu dệt may thế giới qua các n ă m (từ n ă m 1997 đến 2004) Đơn vị: Triệu USD 200 000 150 000- 100 000 50 000 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 ị" Textiles a ClothingỊ Nguồn: Thống kê của ILO dựa trên dữ liệu của Global Trade Atlas Chẳng hạn, theo thống kê của WTO, k i m ngạch hàng dệt trao đổi trên thế giới trong năm 2002 là 152 tỷ USD, tức 2,4% mậu dịch hàng hoa và 3,2% mậu dịch hàng công nghiệp (xem biểu đỷ 1.1). Cho hàng may mặc, các con số tương đương là 170 tỷ USD, 3,2% mậu dịch hàng hoa và 4,3% mậu dịch hàng công nghiệp. Những tỷ số này khiêm tốn vì hàng dệt may, tuy là phổ biến và cơ bản và cần thiết cho m ọ i mặt của đòi sống con người, nhưng vì đã trở thành phổ biến, thậm chí tầm thường, do đó í giá trị, trừ một số sản phẩm cao cấp dành cho các ứng dụng chuyên môn. t Một lý do khác là sự cạnh tranh từ các nước nghèo có nhân công rẻ đã kéo giá thành xuống, khiến mức tăng trưởng đo bằng giá trị của thương mại dệt may thấp hơn mức tâng trưởng về lượng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản