intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chia sẻ: Trí Mẫn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:145

58
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định trong pháp luật TTDS Việt Nam; tìm hiểu các quy định về hòa giải và thực tế áp dụng các quy định này trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân (TAND). Mặt khác, chỉ ra những điểm còn thiếu đồng bộ, mâu thuẫn hoặc chưa hợp lý về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THÚY HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 1
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THÚY HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật dân sự Mã số : 60 38 30 luận văn thạc sĩ luật học Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền Hà nội - 2014 2
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Thúy 3
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI 7 VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, quá trình hình thành và phát 7 triển, ý nghĩa chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự 1.1.1. Khái niệm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự 7 Việt Nam 1.1.2. Đặc điểm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự 9 1.1.3. Cơ sở của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự 15 1.1.4. Quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong 20 pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 1.1.5. Ý nghĩa của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự 29 1.2. Khái niệm và các tiêu chí hoàn thiện chế định hòa giải trong 33 pháp luật tố tụng dân sự 1.2.1. Khái niệm hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố 33 tụng dân sự 1.2.2. Các tiêu chí hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố 36 tụng dân sự 4
  5. Chương 2: CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG 44 DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Nguyên tắc tiến hành hòa giải 44 2.1.1 Hòa giải phải trên cơ sở sự tự nguyện thỏa thuận của các 44 đƣơng sự 2.1.2. Nội dung thỏa thuận giữa các đƣơng sự không trái pháp luật 46 và đạo đức xã hội 2.2. Phạm vi hòa giải 48 2.2.1. Những vụ án dân sự không đƣợc hòa giải 48 2.2.2. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải đƣợc 53 2.3. Thành phần phiên hòa giải và nội dung hòa giải 58 2.3.1. Thành phần phiên hòa giải 58 2.3.2. Nội dung hòa giải 66 2.4. Trình tự tiến hành phiên hòa giải 68 2.5. Xử lý kết quả hòa giải 71 Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN 85 THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 3.1. Thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự 85 3.1.1. Về phạm vi hòa giải 86 3.1.2. Về thành phần tham hòa giải không đúng quy định của pháp luật 87 3.1.3. Nội dung hòa giải và quyết định công nhận sự thỏa thuận 90 3.1.4. Thủ tục, trình tự hòa giải 97 3.1.5. Kỹ năng tiến hành hòa giải của ngƣời tiến hành tố tụng còn 99 hạn chế 3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố 101 tụng dân sự 5
  6. 3.2.1 Bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự 101 và các nguyên tắc khác của giao lƣu dân sự, kinh tế trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa 3.2.2. Xác định rõ trách nhiệm của Nhà nƣớc phải bảo đảm cho 102 đƣơng sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong việc hòa giải các vụ việc dân sự 3.2.3 Chế định hòa giải phải đảm bảo các tiêu chí về hoàn thiện chế 102 định hòa giải, góp phần phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, khơi dậy tình tƣơng thân tƣơng ái của dân tộc Việt Nam 3.2.4. Chế định hòa giải phải giản đơn, thuận lợi bảo đảm tiến hành 103 hòa giải nhanh chóng, hiệu quả 3.3. Các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải và nâng cao hiệu 104 quả của áp dụng chế định hòa giải 3.3.1. Kiến nghị về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố 104 tụng dân sự Việt Nam hiện hành 3.3.2. Kiến nghị về thực hiện chế định hòa giải trong tố tụng dân sự 111 KẾT LUẬN 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC 6
  7. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX : Hội đồng xét xử PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự QĐCNTT : Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TTDS : Tố tụng dân sự XHCN : Xã hội chủ nghĩa 7
  8. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng 2.1 Kết quả giải quyết các vụ việc dân sự của TAND các cấp 85 từ năm 2007 - 2013 8
  9. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong lịch sử phát triển của nhân loại, xã hội loài ngƣời là tổng thể các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp, đa chiều, đa lợi ích. Các mâu thuẫn, tranh chấp là một hiện tƣợng xã hội phổ biến, khách quan trong đời sống xã hội hàng ngày. Vấn đề ở đây không phải là phủ nhận, né tránh các mâu thuẫn, tranh chấp mà phải tìm giải pháp tích cực, hữu hiệu giải quyết tranh chấp đó. Trong nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp, hòa giải là một biện pháp quan trọng để giải quyết kịp thời các tranh chấp, hƣớng tới mục đích bình đẳng và hòa hợp trong các mối quan hệ xã hội. Hòa giải đã trở thành một nét đẹp truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam, giúp giải quyết những mẫu thuẫn, tranh chấp góp phần giữ gìn sự hòa thuận cho từng gia đình, bình yên cho từng làng xóm, giữ trật tự, kỷ cƣơng, an toàn xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng. Truyền thống này là sức mạnh tiềm tàng, là nội lực vô tận cho công cuộc xây dựng đất nƣớc Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đã dẫn đến sự ra đời của Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhà nƣớc ta đã chú trọng, phát huy vai trò của hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp. Hòa giải đã trở thành một nguyên tắc, thủ tục tố tụng, một chế định trong pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong giải quyết tranh chấp và thể hiện trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Hiện nay, chế định hòa giải đã đƣợc quy định khá đầy đủ và chi tiết trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 và đã trở thành phƣơng thức hữu hiệu khi giải quyết các vụ việc dân sự. Trong đó, chế định hòa giải là cơ sở để các cơ quan Tòa án tiến hành hòa giải góp phần bảo vệ quyền và 9
  10. lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của các đƣơng sự. Hòa giải đã trở thành một chế định quan trọng trong hoạt động TTDS. Thông qua hòa giải, Tòa án có thể giúp các đƣơng sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự mà không cần phải kéo dài phiên tòa xét xử, đỡ tốn kém thời gian, tiền của Nhà nƣớc, của các đƣơng sự; hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ giữa các đƣơng sự góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân. Bên cạnh đó, qua việc hòa giải Tòa án còn có thể giải thích, nâng cao nhận thức pháp luật cho các đƣơng sự giúp cho việc tổ chức thi hành án đƣợc thuận lợi. Đặc biệt, khi hòa giải thành các đƣơng sự sẽ tự nguyện thi hành án, đa số các trƣờng hợp không phải áp dụng các biện pháp cƣỡng chế thi hành án. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nƣớc đang diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã thúc đẩy sự phát triển, đan xen giữa các giao lƣu dân sự, kinh tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật... Trong bối cảnh nhƣ vậy, BLTTDS nói chung và chế định hòa giải nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chƣa phù hợp, chƣa đầy đủ, thiếu rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau… và áp dụng chƣa thống nhất, hạn chế hiệu quả của hoạt động hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật TTDS. Vì vậy, BLTTDS đã đƣợc Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 và đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2011. So với BLTTDS, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS năm 2011 có nhiều sửa đổi, bổ sung, quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự trong giai đoạn hiện nay. 10
  11. Với nhận thức nhƣ vậy, tôi đã chọn đề tài "Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Hòa giải là một chế định quan trọng trong thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, chế định hòa giải đã và đang đƣợc nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn quan tâm. Nhiều công trình, bài viết khoa học nghiên cứu về hòa giải trong TTDS nhƣ: Luận án tiến sĩ Luật học: "Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam - Cơ sở lý luận và thực tiễn", của Trần Văn Quảng, Hà Nội, 2004; Luận văn thạc sĩ Luật học "Hòa giải trong tố tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện", của Bùi Đăng Huy, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, 1996; Khóa luận tốt nghiệp: "Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", của Nguyễn Kiều Oanh, Hà Nội, 2010; Khóa luận tốt nghiệp: "Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", của La Phƣơng Na, Hà Nội, 2011; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hòa giải vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", của Lê Bích Ngọc, 2013… Tuy nhiên, kể từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 có hiệu lực đến nay thì chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có sự nghiên cứu về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS ở Việt Nam một cách toàn diện, đầy đủ, hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả của việc hòa giải trong việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án. 3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định trong pháp luật TTDS Việt Nam; tìm hiểu các quy định về hòa giải và thực tế áp dụng các quy định này trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân (TAND). Mặt khác, chỉ ra những điểm còn thiếu đồng bộ, mâu thuẫn hoặc chƣa hợp lý về chế định hòa 11
  12. giải trong pháp luật TTDS Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này. Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây: - Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam chế định hòa giải; - Hiện nay, việc áp dụng chế định hòa giải còn rất nhiều bất cập và hạn chế, nên đã làm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể gặp nhiều khó khăn, nhiều trƣờng hợp quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thực hiện đƣợc. Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định hòa giải và thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong TTDS chỉ ra những nội dung, những vấn đề còn thiếu sót, chƣa phù hợp, những hạn chế từ việc áp dụng chế định hòa giải. Từ đó, luận giải về yêu cầu hoàn thiện chế định hòa giải trong TTDS Việt Nam, đồng thời đề ra các kiến nghị hoàn thiện chế định này. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: - Những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam. - Thực trạng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành. - Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS ở Việt Nam. Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS có phạm vi nghiên cứu rộng nên có thể đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều phƣơng diện khác nhau và với nhiều nội dung khác nhau. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chế định hòa giải theo quy định của BLTTDS Việt Nam hiện hành. Luận văn có đề cập nghiên cứu một số quy định của pháp luật tố tụng về hòa giải trƣớc thời điểm BLTTDS đƣợc ban 12
  13. hành. Tuy nhiên, cách tiếp cận về các vấn đề này chỉ là cơ sở để so sánh, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về hòa giải theo quy định của BLTTDS Việt Nam. Luận văn cũng có đề cập việc hòa giải theo thủ tục tƣ pháp ở một số nƣớc trên thế giới, nhƣng chỉ là để đối chiếu, so sánh khi cần thiết, chứ không đi sâu vào lĩnh vực này. Vì định hƣớng nghiên cứu là tập trung nghiên cứu dƣới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS, nên các kiến nghị mà tác giả đƣa ra trong luận văn là tổng thể các kiến nghị khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS. 1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phƣơng pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền, về cải cách tƣ pháp. Đồng thời, tác giả cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể, nhƣ: phân tích, chứng minh, tổng hợp, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu, sử dụng các kết quả thống kê thực tiễn xét xử của ngành Tòa án. 6. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn là công trình khoa học pháp lý ở cấp độ thạc sĩ ở nƣớc ta nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS. Những đóng góp mới của luận văn là: - Luận giải những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS. - Luận văn đã đi sâu nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về hòa giải. Làm sáng tỏ nguyên tắc, phạm vi, thành phần, nội dung, trình tự, thủ tục hòa giải và hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự (QĐCNTT) tại Tòa án. Từ những nghiên cứu này, luận văn đã chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện 13
  14. hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án, ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng giải quyết vụ việc dân sự, là nguyên nhân quan trọng đƣa việc giải quyết vụ việc dân sự rơi vào tình trạng xét xử lòng vòng qua nhiều cấp, kéo dài nhiều năm, gây bức xúc và mất niềm tin trong nhân dân. - Góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện nay. Luận văn này có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định hòa giải trong TTDS cũng nhƣ trong việc giảng dạy, nghiên cứu về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Chương 2: Chế định hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. 14
  15. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, Ý NGHĨA CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1.1. Khái niệm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì phát sinh các quan hệ giữa Tòa án với đƣơng sự và những ngƣời tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này xuất hiện khi đơn kiện đƣợc Tòa án thụ lý để giải quyết và tồn tại cho đến khi giải quyết vụ việc dân sự kết thúc. Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác tạo thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đó là ngành luật TTDS. Nhà nƣớc bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể. Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì theo thủ tục do pháp luật quy định chủ thể đó đƣợc khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ (Điều 4 BLTTDS 2004). Trong phạm vi chức năng của mình Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ pháp chế XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của tập thể, cá nhân; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Do vậy, khi có chủ thể khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý vụ án và giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. 15
  16. Pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng khác ở mỗi giai đoạn tố tụng. Pháp luật TTDS xác định vai trò, trách nhiệm chủ động, tích cực của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời bảo đảm cho các đƣơng sự trong vụ án có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó tôn trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự đƣợc xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS. Khi các bên yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, pháp luật luôn bảo đảm cho các đƣơng sự có quyền tự quyết định các hành vi của mình phù hợp với quy định của pháp luật nhƣ: tự rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung khởi kiện, hòa giải, kháng cáo bản án và quyết định chƣa có hiệu lực pháp luật… Các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự trở thành chế định quan trọng của pháp luật TTDS. Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2008): "Chế định là định ra, lập ra một phép tắc có hệ thống để ban hành" [67, tr. 153]. Theo Từ điển Luật học thì: Chế định pháp luật đƣợc hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội trong phạm vi một ngành luật. Dƣới góc độ pháp luật, hòa giải đƣợc coi là chế định pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự [65, tr. 76]. Theo giáo trình Lý luận Nhà nƣớc và pháp luật của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì: "Chế định pháp luật là một tập hợp đƣợc cấu trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau thuộc cùng một loại" [55]. Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ học trực thuộc Viện Khoa học xã hội biên soạn (1992), "Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thỏa" [53, tr. 350]. 16
  17. Hòa giải là một biện pháp để giải quyết các tranh chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp cho phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Hòa giải trong TTDS là hoạt động do Tòa án tiến hành giúp các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Để cho hoạt động hòa giải của Tòa án đƣợc khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự thì Tòa án phải tuân theo các quy định về hòa giải trong TTDS Việt Nam. Từ những phân tích trên, chế định hòa giải là một trong những chế định của pháp luật TTDS, bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự. Cụ thể hơn chế định hòa giải là tổng hợp các quy định pháp luật tố tụng về nguyên tắc, phạm vi,thành phần, nội dung, trình tự thủ tục do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. 1.1.2. Đặc điểm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, sự vật, hiện tƣợng không chỉ là sự biểu hiện của những mặt, những mối quan hệ bên ngoài, mà còn hàm chứa bản chất của sự vật, hiện tƣợng đó. Hay nói cách khác, bản chất là những mặt, những mối liên hệ bên trong, quy định sự vận động của sự vật, hiện tƣợng. Theo đó, chế định hòa giải trong pháp luật TTDS không chỉ đơn thuần là tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, mà còn phản ánh bản chất của các quan hệ xã hội đó. Bản chất của chế định này thể hiện ở những điểm sau đây. 1.1.2.1 Chế định hòa giải điều chỉnh hoạt động hòa giải do Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Chế định hòa giải với vị trí cấu thành của hệ thống pháp luật TTDS quy định về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, trình tự, thủ tục hòa giải của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự. Chế định hòa giải quy định về quyền và nghĩa 17
  18. vụ cho các chủ thể khi tham gia trong quá trình hòa giải. Khi các tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu hòa giải không thành, Tòa án phải củng cố, hoàn hiện hồ sơ vụ việc để đƣa ra xét xử tại phiên tòa. Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn rất quan trọng, nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các quyết định của Tòa án đƣợc khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoạt động hòa giải các vụ việc dân sự có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hòa giải là một thủ tục bắt buộc đối với hầu hết vụ việc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Hòa giải đã đƣợc pháp luật TTDS Việt Nam xác định là một nguyên tắc, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đƣơng sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, thể hiện trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình tƣơng thân, tƣơng ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng. Các quy định về hòa giải cũng nhƣ các hoạt động tố tụng khác trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự luôn luôn đƣợc hoàn thiện đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội. Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một giai đoạn bắt buộc đối với vụ án mà theo quy định phải tiến hành hòa giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chỉ đƣa ra xử tại phiên tòa sơ thẩm khi đã hòa giải không thành. Hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc tại phiên tòa sơ thẩm và các giai đoạn tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự. Điều 10 BLTTDS quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này" [31]. Theo Điều 186 BLTTDS quy định: "Khi các đƣơng sự thỏa thuận đƣợc với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này đƣợc gửi ngay cho các đƣơng sự tham gia hòa giải" [31]. 18
  19. Nhƣ vậy, hòa giải là một thủ tục bắt buộc trƣớc khi xét xử sơ thẩm đối với những vụ việc dân sự mà pháp luật quy định phải hòa giải; nếu hòa giải thành sau thời gian bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đƣơng sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán đƣợc Chánh án Tòa án phân công ra QĐCNTT. Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đƣa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Hòa giải là thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nếu thấy có khả năng hòa giải thành thì Tòa án cũng tiến hành hòa giải. Quy định này là cơ sở để các đƣơng sự có thể hòa giải với sự giúp đỡ của Tòa án trong bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án. Thứ hai, Tòa án là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, Tòa án đƣợc pháp luật quy định có vai trò trung gian tổ chức hòa giải giúp đỡ các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án. Trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự là một nguyên tắc, thủ tục tố tụng không chỉ bảo đảm quyền tự định đoạt của đƣơng sự, mà còn bảo đảm tính pháp lý của hòa giải. Sau khi hoàn tất hồ sơ vụ án, Tòa án giải thích pháp luật liên quan đến những quan hệ đang tranh chấp, giải quyết vƣớng mắc giúp các đƣơng sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án. Kết quả của hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính chất pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc không thành), là cơ sở để tiếp tục các hành vi tố tụng nhƣ quyết định công nhận hòa giải thành hoặc đƣa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Mặt khác, ở phiên tòa sơ thẩm và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, pháp luật quy định nếu thấy có khả năng hòa giải thì chỉ có Tòa án có thẩm quyền tiến hành hòa giải và giải quyết các hậu quả pháp lý của vụ việc dân sự. Sự có mặt của Tòa án trong hòa giải khẳng định vị trí trung gian của Tòa án trong hòa giải các vụ việc dân sự. Đây là sự khác biệt giữa hòa giải do Tòa án tiến hành với hòa giải do Tổ hòa giải ở cơ sở tiến hành, hay việc tự hòa giải của đƣơng sự về giải quyết tranh chấp. Trong trƣờng hợp các đƣơng sự tự hòa giải thì 19
  20. Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, còn việc hòa giải ở Tổ hòa giải cơ sở thì không phải là thủ tục bắt buộc. Thứ ba, kết quả hòa giải thành là sự thỏa thuận của các đương sự. Trong các vụ việc dân sự, các đƣơng sự là chủ thể của các quan hệ có nội dung tranh chấp nên họ mới có quyền thƣơng lƣợng và điều đình với nhau về giải quyết các tranh chấp. Việc thỏa thuận giữa các đƣơng sự chỉ đạt đƣợc trên cơ sở thƣơng lƣợng một cách tự nguyện, trung thực, hợp lý, hợp tình, không một ai với bất kỳ một hình thức nào cƣỡng ép, can thiệp vào thỏa thuận của các đƣơng sự. Sự thỏa thuận của chính các đƣơng sự là đặc trƣng cơ bản của hòa giải, thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự. Chỉ có đƣơng sự mới có quyền quyết định về việc giải quyết quyền và lợi ích của họ trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự. Đây cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải với xét xử. Khi xét xử, đƣơng sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật, không có sự thƣơng lƣợng giữa Tòa án và các đƣơng sự, còn khi hòa giải, Tòa án chỉ có vai trò trung gian giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau mà không đƣợc can thiệp vào thỏa thuận đó. Thứ tư, hòa giải vụ việc dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục do chế định hòa giải quy định. Hòa giải vụ việc dân sự, cũng nhƣ các thủ tục tố tụng khác do Tòa án tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc quy định trình tự và thủ tục hòa giải các vụ việc dân sự bảo đảm tính khách quan, công bằng trong hoạt động hòa giải của Tòa án, bảo đảm sự bình đẳng của các đƣơng sự trong quá trình giải quyết vụ án. Với ý nghĩa là một nguyên tắc, thủ tục TTDS, mọi quan hệ phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự đƣợc pháp luật điều chỉnh. Các quy định của pháp luật TTDS về trình tự, thủ tục hòa giải là cơ sở để tiến hành hòa giải các vụ việc dân sự và bắt buộc Tòa án và những ngƣời khác tham gia hòa giải các vụ việc dân sự phải tuân thủ các quy định đó. Từ những phân tích về hoạt động hòa giải, chế định hòa giải điều chỉnh mọi hoạt động hòa giải phát sinh trong quá trình Tòa án tiến hành giải 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2