Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ
Đồng hoá từ mưn
Đồng hoá t n
Một từ mượn, nếu không bị thay thế, thìn trải qua mt quá trình chịu những tác
động của người bản ngữ mới có vị trí vững vàng. Quá trình y là sự đồng hoá từ
mượn. Nói chung, nó biểu thị mặt tích cực, sáng tạo, của người bản ngữ đối vi từ
mượn để nhm tạo nên tính chất thuần nht trong bản ngữ. Cho nên, trong s
chuẩn mực hoá ngôn ngữ, đồng hoá từ mượn là một yêu cầu rất được chú ý. Nếu ta
nói đến sự Việt hoá từ mượn trong tiếng Việt thì chng hn, người Pháp cũng nói
đến sự Pháp hoá những từ mượn trong tiếng Pháp
Nhưng như thế nào là đồng hoá thì hình như không phi không có lúng túng trong
quan nim, và do đó, trong các quy định chun mực hoá, thí d, ở tiếng Pháp có từ
mượn pull-over quen thuộc, gốc tiếng Anh: về chính tả thì trong tiếng Pháp bắt viết
hoàn toàn như tiếng Anh; vngữ âm, li bảo phát âm theo tiếng Pháp (âm tiết cuối
phát âmve”, không phát âm phát âm “vơ”). Một sự Pháp hoá như vy là chưa rõ
l! Nếu dẫn những thí dvề sự Anh hoá từ mượn gốc Pháp, cũng có thể nhn thấy
tình hình như thế. Chẳng hn, trong tiếng Anh có từ debt (là n) vốn gốc Pháp là
dette, mà về phát âm chng khác gì nhau mấy, nhưng về chính tả, bên tiếng Anh
buộc phải có chữ b, chng qua là mun Anh hoá, nhưng lại Anh hoá bằng các truy
tới gốc Latinh là debitum!
Tình hình đó ở các ngôn ngữ không cho phép ta, trong sự Vit h từ n, viện
dẫn một cái mẫu nào để theo. Vả lại, đồng hoá có ý nghĩa dân tộc hoá, cho nên
thường bao hàm, trong các quy định chuẩn mực hoá theo hướng đồng hoá, một
quan điểm n tộc nào đó, một nước nào đó, vào một thời đim nào đó, mà ta
không thể nghĩ là chân rồi!
Cho nên, yêu cu nghiêm chỉnh là xem xét lại các tiêu chuẩn mà theo đó, từ mượn
có thể được coi là đồng hoá.
Thường có sự c ý nhiều đến tiêu chun ngữ âm. Quả nhiên, trong các ngôn ng
đều có thể nhn thy hin tượng một từ mượn khi đã được chấp nhận, thì cái chất
liu ngữ âm ngoại của nó chuyển dần theo chất liu ngữ âm bản ngữ. Trong tiếng
Việt, nhưng từ như săm, lốp, líp và cái txo nói trên kia, vn là tmượn gốc
Pháp, đều thuộc trường hợp đồng hoá về ngữ âm. Từ paquebot hin nay của tiếng
Pháp là kết quả đồng hoá về ngữ âm tự cái tin thân Anh của nó là packed boat.
Nếu phân tích kĩ thì có thể thy, nói chung, sự đồng hoá như vừa nói là có quy luật
ngữ âm. Tuy vy, cần chú ý rằng hiện tượng t vịy mà có khi, ở ta, một số
người đề lên thành cái mẫu mực lí tưởng của sự Việt hoá từ mượn, đã sinh ra qua
cái tai của người bản ngữ, tng người lao động, tức là qua trạng thái tiếp xúc
có tính chất tự nhiên. Bây giờ, trong sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Pháp,
hoặc giữa tiếng Pháp vi tiếng Anh, hin tượng đồng hvề ngữ âm như thế không
có điều kiện để phát triển, bởi vì sự tiếp xúc ngôn ngữ như vừa nói đã chuyển sang
trạng thái tiếp c có tính chất văn hoá, tức là chyếu qua ngôn ngữ viết…
Khi tiếng Anh là một sinh ngữ được học, được phổ biến đến như thế, bây giờ,
nước Pháp, thì cái quy định phát âm như trên đối vi từ pull-overnhững khác
như bulldozer một quy định mà trong thực tế được chấp hành rất tuỳ tin đã th
hiện một quan điểm Pháp hoá không thuận chiu vi xu hướng phát triển của hiện
tượng tiếp c ngôn ngữ trong xã hội Pháp hiện nay.
Ở ta cũng có tình hình đáng suy nghĩ như vậy. Trước nhữg thính giả ở nông thôn
thì đối với từ mượn hoặc từ ngoại – vì mặt này, tmượn và từ ngoại không khác
nhau – cách phát âm theo lối đồng hoá về ngữ âm, chẳng hạn: bô-b-lin hay b--
lin, G-ne- hay Giơ-neo… có thể được coi là bình thường. Nhưng một giảng
đường, vi sinh viên và trí thức là thính gi, cách phát âm này s bị chú ý, và đánh
giá theo cách nghĩ của những người có biết ngoại ngữ, những người song ngvăn
hoá. Tình hình đó rõ ràng là tế nhị và trong sự chuẩn mực hoá, cách x ắt phi
linh hoạt. Tuy vậy, thiết nghĩ trong hướng chuẩn mực hoá đối với hin tượng đó
phải coi trọng ng phát triển của sự tiếp c ngôn ngữ ở nước ta, và nó phi là,
đối vi những lớp người mi, hướng cố gắng.
Những t dụ vừa dẫn là về từ mượn và từ ngoại gốc Pháp, gốc Anh trong tiếng
Việt. Về từ mượn gốc Hán, tức từ Hán-Việt, cũng những vấn đề của nó về s
đồng hoá ngữ âm. Nđã nói, những từ như buồm đã đồng hoá về các mặt, tất
nhiên c mt ngữ âm. Thời điểm đi vào tiếng Việt của chúng là cxưa, và đường
vào ch yếu là con đường tự nhiên. Còn những từ ngữ gọi Hán-Vit đó, như
nguyệt, thì vào sau, cho là bắt đầu từ năm 939 lịch sử, và đặc biệt, và đặc biệt, theo
con đường văn hoá, sách vở, cho nên đã ổn định. Những từ này, về các mặt khác
thì chưa, nhưng về ngữ âm, cũng là đã đồng hoá. Quvậy, thơ chữ Hán đọc lên
nghe không hiu hết, hay chẳng hiu gì hết, nhưng về âm thanh, cảm thấy không
xa lạ như tiếng phương Tây.
Do tính chất không xa, lại có vgần ấy về ngữ âm của từ Hán-Việt mà sinh ra
trong tiếng Vit cái xu hướng quá trọng chất liệu ngữ âm n-Việt, so với chất liệu
ngữ âm tiếng Pháp, tiếng Anh. Xu hướng ấy thể hiện rất rõ hiện tượng tên riêng
của tiếng ớc ngoài nào, phương Tây hay phương Đông, cũng đến Hán-Việt hoá
đi cả, vì như vậy dễ nghe hơn. Xu hướng ấy sản sinh ra những cái kì quái như:
Mạnh đức tư cưu, Ái nhĩ lan”,… song vẫn được chấp nhn, hoan nghênh trong
cái tâm của thế hệ những người song ngữ văn h Việt-Hán ở đầu thế k này.
Nhưng đến những thế hệ sau, với lớp người song ngữ văn hoá không phải Việt-
Hán nữa, là sinh ra phản ứng chống đối. “Mông tét ki ơ, “Iếclăng” hoặc “Ai len,
dù thế nào, cũng thể hin một tâm lí mi, ở mt thời đại mi.m y đòi hỏi mt
giải pháp khác, theo nguyên tắc khác; chính vì đến nay chưa chưa định nên gii
pháp chưa rõ. Nếu nguyên tắc về “từ ngoại” nói trên được chấp nhận, và cái thói
quen “dễ nghe” được coi là mt tiêu chun không thể quyết định tất cả thì gii
pháp “Montesquieu”,Ireland”, thiết tưởng mi rõ lẽ; cũng là cái l cố gắng n
hoá, và là cái lẽ thuận theo sự phát triển của con người, của ngôn ngữ, của thời đại.
Xu hướng nói trênn thhinhin tượng coi từ vựng Hán-Vit như một nguồn
cung ng tự nhiên của từ vựng tiếng Việt, đặc biệt ở phm vi thut ngữ. Chất liệu
nội dung mới, tự phương Tây đến với ta, đặc bit trong phm vi tư tưởng, chính tr,
văn hoá, kinh tế… đều phi thông qua, thực vậy, cái cửa Hán-Việt h. Chính thế,
philosophie = triết lí, triết học; république = cộng hoà; culture = văn hoá
Những sự đối chiếu, những đẳng thức như vy chỉmặt tin lợi vhình thức,
trong đó mặt ngữ âm là quan trọng, chứ không phi là tất yếu về nguyên tắc, đặc
biệt khi xem xét mặt nội dung. Cho nên, nhng thuật ngữ như o-xy-gen thay dưỡng
khí, hi-dro-gen thay khinh khí, lô-gích thay luận lívà những câu hỏi như nên là
điều khiển học hay nxi-béc-nê-ltic hoc cyberneliqueđều có ý nghĩa là
những phn ứng, băn khoănlí do và đã xut phát tự góc độ khác, nguyên tắc
khác. Có lẽ cũng nên chú ý rng khi nói năng, các cán bộ khoa học ở ta vẫn dùng