intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu khả năng tách chiết dầu từ bã cà phê và sử dụng bã cà phê làm cơ chất trồng nấm linh chi (Ganoderma lucidum)

Chia sẻ: Trinhthamhodang Trinhthamhodang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

91
lượt xem
6
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bã cà phê pha phin trên thị trường và bã cà phê công nghiệp tại công ty cổ phần Vinacafe Biên Hòa được sử dụng làm nguyên liệu tách dầu và thử nghiệm làm cơ chất trồng nấm linh chi. Kết quả tách chiết cho thấy, bã cà phê có hàm lượng dầu trung bình từ 19,1-21,1%. Kết quả phân tích thành phần dầu béo bằng kỹ thuật sắc ký GC cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể về thành phần acid béo giữa hai loại dầu. Trong dầu bã cà phê có chứa nhiều acid béo có chiều dài mạch C khác nhau (từ C6 đến C24), trong đó, các acid béo palmitic (C16:0), acid oleic (C18:1) và acid linoleic (C18:2) chiếm hàm lượng cao. Nấm linh chi có khả năng lan tơ mạnh trên cơ chất bã cà phê (thể hiện ở màu sắc, chiều dài và bề dày sợi nấm). Tốc độ hình thành và phát triển quả thể của nấm linh chi trên cơ chất bã cà phê tốt hơn so với môi trường đối chứng trong điều kiện thí nghiệm. Quả thể nấm linh chi trồng trên cơ chất bã cà phê không chứa caffeine nên không có sự khác biệt so với nấm linh chi trồng trên môi trường cơ chất đối chứng thông thường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu khả năng tách chiết dầu từ bã cà phê và sử dụng bã cà phê làm cơ chất trồng nấm linh chi (Ganoderma lucidum)

TẠP CHÍ SINH HỌC, 2012, 34(3SE): 69-77<br /> <br /> NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁCH CHIếT DẦU TỪ BÃ CÀ PHÊ VÀ SỬ DỤNG<br /> BÃ CÀ PHÊ LÀM CƠ CHẤT TRỒNG NẤM LINH CHI (Ganoderma lucidum)<br /> <br /> Chu Thị Bích Phượng1*, Nguyễn Thị Trùng Uyển1, Huỳnh Phương Thanh1,<br /> Phạm Văn Lộc2, Bùi Văn Thế Vinh1, Nguyễn Công Hào1<br /> (1)<br /> Đại học Kỹ Thuật công nghệ tp. Hồ Chí Minh, (*)ctbphuong@hcmhutech.edu.vn<br /> 2)<br /> Đại học Công nghiệp thực phẩm tp. Hồ Chí Minh<br /> <br /> TÓM TẮT: Bã cà phê pha phin trên thị trường và bã cà phê công nghiệp tại công ty cổ phần Vinacafe<br /> Biên Hòa được sử dụng làm nguyên liệu tách dầu và thử nghiệm làm cơ chất trồng nấm linh chi. Kết quả<br /> tách chiết cho thấy, bã cà phê có hàm lượng dầu trung bình từ 19,1-21,1%. Kết quả phân tích thành phần<br /> dầu béo bằng kỹ thuật sắc ký GC cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể về thành phần acid béo giữa hai<br /> loại dầu. Trong dầu bã cà phê có chứa nhiều acid béo có chiều dài mạch C khác nhau (từ C6 đến C24),<br /> trong đó, các acid béo palmitic (C16:0), acid oleic (C18:1) và acid linoleic (C18:2) chiếm hàm lượng cao.<br /> Nấm linh chi có khả năng lan tơ mạnh trên cơ chất bã cà phê (thể hiện ở màu sắc, chiều dài và bề dày sợi<br /> nấm). Tốc độ hình thành và phát triển quả thể của nấm linh chi trên cơ chất bã cà phê tốt hơn so với môi<br /> trường đối chứng trong điều kiện thí nghiệm. Quả thể nấm linh chi trồng trên cơ chất bã cà phê không<br /> chứa caffeine nên không có sự khác biệt so với nấm linh chi trồng trên môi trường cơ chất đối chứng<br /> thông thường.<br /> Từ khóa: Bã cà phê, tách dầu, caffeine, cơ chất, nấm linh chi.<br /> <br /> MỞ ĐẦU hình hóa hệ thống chưng cất phân đoạn dầu từ<br /> bã cà phê và nghiên cứu ứng dụng trong nhiều<br /> Việt Nam là nước nông nghiệp có sản lượng<br /> lĩnh vực khác nhau như thực phẩm, mỹ phẩm và<br /> cà phê xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới (sau<br /> dược phẩm. Ngoài ra, dầu từ bã cà phê còn<br /> Brazil). Theo Giang Hoàng (2011) [8], tổng nhu<br /> được Kondamudi et al. (2008) [12] sử dụng làm<br /> cầu tiêu thụ cà phê trong nước là 60.000<br /> nguyên liệu sản xuất biodiesel.<br /> tấn/năm, trong đó cà phê hòa tan chiếm khoảng<br /> 19.000 tấn, cà phê rang xay có thương hiệu Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt Nam vẫn<br /> chiếm 35.000 tấn, còn lại là cà phê rang xay chưa có công trình nào nghiên cứu về tận dụng<br /> không có thương hiệu. bã cà phê phế thải thành các sản phẩm khác<br /> nhau. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu<br /> Từ các số liệu trên, có thể nhận thấy, lượng<br /> về khả năng tách chiết dầu từ bã cà phê và sử<br /> bã cà phê thải hàng năm của nước ta rất lớn, hầu<br /> dụng bã cà phê làm cơ chất trồng nấm linh chi<br /> hết lượng bã này bị bỏ đi gây lãng phí một<br /> (Ganoderma lucidum).<br /> nguồn nguyên liệu tiềm năng để tách chiết dầu<br /> và các hợp chất có giá trị trong bã. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Theo Oliveira et al. (2005) [15] thì trong bã Vật liệu<br /> cà phê có chứa khoảng 20-25% dầu (tính theo<br /> Bã cà phê trong các thí nghiệm được thu<br /> trọng lượng khô của bã đã tách nước). Dầu từ bã<br /> gom từ hai nguồn khác nhau: bã cà phê chế phin<br /> cà phê là đề tài được nhiều nhà khoa học trên<br /> trên thị trường được thu gom từ 10 quán cà phê<br /> thế giới quan tâm nghiên cứu. Gần đây, Oliveira<br /> khác nhau trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;<br /> et al. (2006) [16] đã tiến hành phân tích thành<br /> bã cà phê từ công nghiệp chế biến cà phê hòa<br /> phần dầu thu được từ hạt cà phê rang bằng<br /> tan được thu gom từ Công ty cổ phần Vinacafe<br /> phương pháp GC-MS. Thành phần chất béo<br /> Biên Hòa (KCN Biên Hòa 1, Đồng Nai).<br /> trong hạt cà phê cũng được Speer et al. (2006)<br /> [17] nghiên cứu. Dầu từ hạt cà phê chưa qua chế Phương pháp<br /> biến đã được Azevedo et al. (2007) [2] tách Nghiên cứu khả năng tách chiết dầu từ bã cà<br /> chiết bằng cách sử dụng carbon dioxide siêu tới phê<br /> hạn. Durán et al. (2010) [6] đã có báo cáo về mô<br /> Thực hiện tách dầu từ bã cà phê bằng 3<br /> <br /> <br /> 69<br /> Chu Thi Bich Phuong et al.<br /> <br /> loại dung môi khác nhau: diethylether, chất nuôi trồng nấm linh chi<br /> petroleum ether và dung môi cao su trên bộ Bã cà phê thu gom từ công ty cổ phần<br /> dụng cụ chiết Soxhlet. Qua đó đánh giá được Vinacafe Biên Hòa được phơi khô để loại ẩm<br /> hàm lượng dầu thực tế có trong bã cà phê công độ, sau đó đem hấp tiệt trùng ở 121ºC trước khi<br /> nghiệp và bã cà phê chế phin trên thị trường. được sử dụng để thay thế thành phần mùn cưa<br /> Phân tích các chỉ tiêu hóa lý của dầu thu trong các môi trường cơ chất với tỉ lệ thay đổi<br /> được như độ nhớt, tỷ trọng, chỉ số axit, phần từ 0, 25, 50, 75 và 100%. Qua đó đánh giá khả<br /> trăm axit béo tự do, chỉ số xà phòng hóa, chỉ số năng sử dụng bã cà phê làm cơ chất trồng nấm<br /> iod, chỉ số ester và hàm lượng glycerol theo cũng như tỷ lệ phối trộn bã cà phê tối ưu cho sự<br /> phương pháp của Nguyễn Văn Mùi (2007) [14]. phát triển của nấm ở cả hai giai đoạn phát triển<br /> Thành phần axit béo của dầu được xác định tại trong ống nghiệm và phát triển trong bịch cơ<br /> Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm tp. Hồ chất ra quả thể.<br /> Chí Minh. Tính toán hiệu suất sinh học của nấm Linh<br /> Khảo sát khả năng sử dụng bã cà phê làm cơ chi trồng trên cơ chất bã cà phê bằng công thức:<br /> <br /> Khối lượng quả thể thu được<br /> Hiệu suất sinh học = × 100%<br /> Khối lượng cơ chất khô<br /> <br /> Phân tích xác định hàm lượng caffeine trong dung môi khác nhau: diethylether, petroleum<br /> quả thể nấm Linh chi trồng trên cơ chất bã cà ether và dung môi cao su trên bộ dụng cụ chiết<br /> phê được thực hiện tại Công ty cổ phần dịch vụ Soxhlet được trình bày trong bảng 1.<br /> khoa học công nghệ sắc ký Hải Đăng (79 Theo Nguyễn Hồng Hương và nnk. (2010)<br /> Trương Định, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh). [9], các loại hạt cà phê khác nhau có hàm lượng<br /> Xử lý số liệu dầu khác nhau đáng kể (7,46 - 18,04%), trong<br /> Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, kết quả đó, hạt cà phê Arabica có chứa lượng dầu cao<br /> được ghi nhận và xử lý thống kê bằng phần hơn nhiều so với Robusta. Từ kết quả ở bảng 1<br /> mềm Statgraphic Centurion XV. có thể nhận thấy, hàm lượng dầu trong bã cà<br /> phê nằm trong khoảng 19,12 - 21,11%, cao hơn<br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN nhiều so với hàm lượng dầu béo trong hạt. Điều<br /> này có thể là do trong quá trình chế biến, các<br /> Tách chiết dầu từ bã cà phê nhà sản xuất đã bổ sung các thành phần chất<br /> Kết quả tách dầu từ bã cà phê bằng 3 loại béo (bơ, mỡ gà...) để tăng thêm hương vị.<br /> <br /> Bảng l. Ảnh hưởng của các loại dung môi khác nhau lên hàm lượng dầu thu được từ bã cà phê<br /> Hàm lượng dầu (%)<br /> Dung môi<br /> Bã cà phê chế phin Bã cà phê công nghiệp<br /> Diethyl ether 21.106a(*) 20.685a<br /> Petroleum ether 19.598b 19.441b<br /> b<br /> Dung môi cao su 19.139 19.117b<br /> a, b, c... thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa ở mức α = 0,05 trong phép thử Duncan.<br /> <br /> Hàm lượng dầu béo trung bình trong bã cà các loại bã cà phê khác nhau tương đối ổn định,<br /> phê chế phin trên thị trường cao hơn trong bã cà đây có thể là nguồn nguyên liệu tiềm năng<br /> phê công nghiệp (bảng 1). Kết quả này cũng được sử dụng để khai thác dầu bên cạnh các<br /> phù hợp với kết quả về hàm lượng dầu từ bã cà nguồn nguyên liệu truyền thống khác như đậu<br /> phê Trung Nguyên chế phin 1 (21,05%) do nành (chứa 20% dầu) hay cọ (chứa 20% dầu)<br /> Nguyễn Hồng Hương và nnk. (2010) [9] công theo nhận định của Kondamudi et al. (2008)<br /> bố. Điều này cho thấy, hàm lượng dầu có trong [12].<br /> <br /> 70<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC, 2012, 34(3SE): 69-77<br /> <br /> Ba loại dung môi (diethyl ether, petroleum hydrocacbon không phân cực (hằng số điện môi<br /> ether và dung môi cao su) cho hiệu quả tách 1,8420) chỉ hòa tan các phân tử không phân cực<br /> chiết dầu thô từ bã cà phê khác nhau. Hàm trong nguyên liệu (glyceride, diglyceride,<br /> lượng dầu thô thu được khi sử dụng dung môi triglyceride,…), do đó, thành phần dầu thô thu<br /> diethyl ether (20,896%) cao hơn so với hai loại được từ bã cà phê khi tách chiết bằng các loại<br /> dung môi còn lại (tương ứng 19,520% và dung môi có độ phân cực khác nhau có thể<br /> 19,128%). Điều này có thể giải thích dựa vào độ không giống nhau. Chính điều này làm thông số<br /> phân cực của các loại dung môi, trong đó, hóa lý của các loại dầu thu được khi tách chiết<br /> diethyl ether là dung môi phân cực trung bình với dung môi khác nhau cũng khác nhau (bảng<br /> (hằng số điện môi 4,2720), vì vậy có thể hòa tan 2). Trong đó, dầu thu được khi tách chiết bằng<br /> thêm một số thành phần phân cực trung bình dung môi diethyl ether có màu đậm hơn so với<br /> trong nguyên liệu như các axit béo tự do, các dầu được tách chiết bằng hai loại dung môi còn<br /> sắc tố,… Petroleum ether và dung môi cao su là lại (vàng nâu - vàng đậm - vàng) (hình 1). Kết<br /> hỗn hợp của nhiều hydrocacbon khác nhau, quả này phù hợp với nghiên cứu của<br /> trong đó thành phần chủ yếu pentane là một Kondamudi et al. (2008) [12].<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1. Dầu béo thu được từ bã cà phê<br /> a1, a2, a3: dầu cà phê chế phin; b1, b2, b3: dầu cà phê công nghiệp<br /> (1, 2, 3 lần lượt là ký hiệu của dầu tách trong dung môi DE, PE, DMCD)<br /> <br /> So sánh màu sắc của dầu tách chiết từ bã cà thêm các thành phần khác để tăng lợi nhuận (chất<br /> phê chế phin trên thị trường và bã cà phê công tạo mùi, chất tạo màu, chất độn...).<br /> nghiệp có thể nhận thấy dầu bã cà phê chế phin Dầu từ bã cà phê (bã cà phê chế phin và bã<br /> có màu đậm hơn so với dầu bã cà phê công cà phê công nghiệp) thu được khi tách chiết bởi<br /> nghiệp, kết quả này được ghi nhận khi tách chiết các dung môi diethyl ether, petroleum ether và<br /> hai loại bã trên với cả ba loại dung môi khác dung môi cao su có các thông số hóa lý không<br /> nhau (diethyl ether, petroleum ether và dung môi giống nhau (bảng 2). Có thể kết luận petroleum<br /> cao su). Điều này có thể giải thích là do trong ether và dung môi cao su thích hợp hơn diethyl<br /> quá trình pha chế cà phê phin, các thành phần ether để tách dầu béo từ bã cà phê, bởi vì quá<br /> hòa tan trong nước nóng (caffeine, sắc tố...) chưa trình tách chiết bằng diethyl ether cho hàm lượng<br /> được tách chiết một cách triệt để. Bên cạnh đó, dầu thô cao hơn nhưng chất lượng dầu thu được<br /> trong quá trình chế biến (rang xay), cà phê bột thấp hơn (chỉ số axit cao, hàm lượng axit béo tự<br /> chế phin trên thị trường có thể được phối trộn do cao, chỉ số xà phòng hóa cao, pH thấp).<br /> <br /> 71<br /> Chu Thi Bich Phuong et al.<br /> <br /> Bảng 2. Chỉ số hóa lý của dầu thu được khi tách chiết bởi các dung môi khác nhau<br /> DE PE DMCS<br /> Các chỉ số<br /> CPP CPCN CPP CPCN CPP CPCN<br /> Màu sắc Đen Đỏ nâu Đen Vàng nâu Nâu đỏ Vàng<br /> Độ nhớt 19,01 18,20 19,99 18,22 17,47 16,80<br /> pH 4,23 4,0 5,47 4,95 5,41 4,73<br /> Tỷ trọng 0,92 0,90 0,9 0,89 0,89 0,89<br /> Chỉ số axit (AV) 23,29 22.17 20,49 20,00 17,46 18,56<br /> % axit béo tự do (% FFA) 11,2 10,92 9,86 9,11 8,4 8,20<br /> Chỉ số xà phòng hóa (SV) 213,2 200,11 207,9 198,23 198,1 196.88<br /> Chỉ số ester (EV) 189,9 164,61 184,61 163,20 180,64 161,61<br /> Chỉ số peroxyt (PoV) 35,01 33,12 35,08 33,57 35,3 34,02<br /> Hàm lượng glycerol 10,84 10,13 10,535 10,10 10,3 10,06<br /> DE, PE, DMCS lần lượt là dầu tách chiết trong diethyl ether, petroleum ether và dung môi cao su; CPP: bã cà<br /> phê chế phin, CPCN: bã cà phê công nghiệp.<br /> <br /> Kết quả thành phần axit béo của dầu từ bã cà trường và bã cà phê công nghiệp. Trong dầu bã cà<br /> phê chế phin trên thị trường và bã cà phê công phê có chứa nhiều axit béo có chiều dài mạch C<br /> nghiệp được trình bày trong bảng 3. Kết quả cho khác nhau (từ C6 đến C24), trong đó các axit béo<br /> thấy không có sự khác biệt đáng kể về thành phần palmitic (C16:0), axit oleic (C18:1) và axit linoleic<br /> axit béo trong dầu từ bã cà phê chế phin trên thị (C18:2) chiếm hàm lượng cao (bảng 3).<br /> <br /> Bảng 3. Thành phần axit béo trong dầu từ bã cà phê<br /> Hàm lượng dầu (%)<br /> STT Axit béo<br /> Cà phê phin Cà phê công nghiệp<br /> 1 Axit caproic (C6:0) 0,007 0<br /> 2 Axit caprilic (C8:0) 0,087 0,03<br /> 3 Axit capric (C10:0) 0,117 0,02<br /> 4 Axit lauric (C12:0) 1,981 0,27<br /> 5 Axit meristic (C14:0) 1,198 0,18<br /> 6 Axit pentadecylic (C15:0) 0,035 0,03<br /> 7 Axit palmitic (C16:0) 27,969 31,42<br /> 8 Axit palmitooleic (C16:1) 0,085 0,02<br /> 9 Axit margaric (C17:0) 0,096 0,1<br /> 10 Axit stearic (C18:0) 5,337 7,35<br /> 11 Axit oleic (C18:1) 26,513 11,04<br /> 12 Axit linoleic (C18:2) 31,214 41,57<br /> 13 Axit linolenic (C18:3) 2,009 0,83<br /> 14 Axit arachidic (C20:0) 1,271 3,25<br /> 15 Axit gadoleic (C20:1) 0,297 0,44<br /> 16 Axit arachinonic (C20:4) 0,045 0,1<br /> 17 Axit behenic (C22:0) 0,361 0,57<br /> 18 Axit eruxic (C22:1) 0,052 0,07<br /> 19 Axit lignoseric (C24:0) 0,209 0,29<br /> Tổng cộng 98,883 97,58<br /> <br /> <br /> 72<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC, 2012, 34(3SE): 69-77<br /> <br /> Thành phần các loại axit béo trong dầu từ bã sự thay đổi rõ rệt, trong đó có thể nhận thấy tốc<br /> cà phê phù hợp với thành phần axit béo trong độ lan tơ của nấm Linh chi mạnh nhất trên môi<br /> dầu từ hạt cà phê trong các tài liệu công bố trường đối chứng, tốc độ lan tơ giảm dần khi gia<br /> trước đây. Bengis & Anderson (1934) [3] lần tăng tỷ lệ bã cà phê và sự lan tơ diễn ra yếu nhất<br /> đầu tiên nghiên cứu về thành phần glyceride của trên môi trường cơ chất chứa bã cà phê thay<br /> dầu hạt cà phê đã kết luận có chứa 40% axit béo thế hoàn toàn 100% thành phần mùn cưa<br /> bão hòa (capric, palmitic, daturic và carnaubic (hình 3).<br /> axit) trong khi axit béo không bão hòa gồm axit<br /> oleic (2%) và linoleic axit (50%). Nghiên cứu<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Chiều dài tơ nấm (mm)<br /> của Khan & Brown (1953) [10] cho thấy, C18:2<br /> và C16 là hai loại axit béo chính ở hầu hết các<br /> loại cà phê. Ngoài ra, còn có một lượng lớn<br /> C18, C18:1, C20 và C22 và một lượng nhỏ C14,<br /> C18:3 và C24. Nguyễn Hồng Hương và nnk.<br /> (2010) [9] kết luận thành phần axit béo trong<br /> hạt cà phê gồm hai axit béo no chủ yếu là axit<br /> palmitic và axit stearic (lần lượt 32,34% và<br /> 7,58%), hai axit béo không no chủ yếu là oleic<br /> và linoleic (lần lượt 12,22% và 42,13%). Công thức<br /> <br /> Kết quả được trình bày trong bảng 3 cho Hình 2. Tốc độ lan tơ của sợi nấm linh chi sau<br /> thấy thành phần và hàm lượng axit béo của dầu các khoảng thời gian khác nhau<br /> tách chiết từ hai loại bã cà phê có sự khác nhau. DC, M1, M2, M3, M4: tỉ lệ bã cà phê tương ứng là<br /> Sự khác biệt không đáng kể về thành phần và 0, 25, 50, 75 và 100%<br /> hàm lượng axit béo của các loại dầu bã cà phê<br /> khác nhau có thể được giải thích là do sự biến<br /> đổi trong quá trình chế biến, đặc biệt là quá<br /> trình rang cà phê. Vitzthum (1976) [18] thống<br /> kê rằng các loại axit béo có sự biến đổi nhỏ<br /> trong quá trình rang ở nhiệt độ cao. Casal et al.<br /> (1997) [4], Alves et al. (2003) [1] kết luận hạt<br /> cà phê Arabica và Robusta sau quá trình rang có<br /> sự gia tăng hàm lượng axit béo dạng trans, đặc<br /> biệt là thành phần C18:2ct và C18:2tc.<br /> Sử dụng bã cà phê làm cơ chất nuôi trồng<br /> nấm linh chi<br /> Trong thí nghiệm này, môi trường cơ chất<br /> gồm mùn cưa (75%), cám gạo (25%) và nước<br /> (đủ ẩm 60%) được sử dụng làm đối chứng khảo<br /> sát tốc độ phát triển của nấm Linh chi. Việc<br /> thay thế mùn cưa bằng bã cà phê công nghiệp Hình 3. Tốc độ lan tơ của sợi nấm linh chi sau<br /> sau khi đã tách chiết dầu với các tỷ lệ khác nhau các khoảng thời gian khác nhau: a. 3 ngày; b. 6<br /> (0% - 25% - 50% - 75% - 100%) nhằm tìm ngày; c. 9 ngày; d. 12 ngày<br /> được tỷ lệ phối trộn bã cà phê thích hợp trong Trong cả 5 công thức, sợi nấm linh chi sinh<br /> môi trường cơ chất trồng nấm. trưởng và phát triển tốt, điều này thể hiện ở bề<br /> Nhìn chung, tơ nấm Linh chi phát triển dày và màu sắc của sợi nấm (sợi nấm dày, màu<br /> mạnh trong tất cả các công thức thí nghiệm. Tại trắng đều chứng tỏ nấm đang phát triển tốt). Kết<br /> thời điểm khảo sát (ngày 3, ngày 6, ngày 9, quả được trình bày trong hình 2 cho thấy, tốc độ<br /> ngày 12) chiều dài lan tơ của nấm Linh chi có phát triển của nấm linh chi trong môi trường cơ<br /> <br /> <br /> 73<br /> Chu Thi Bich Phuong et al.<br /> <br /> chất có bổ sung bã cà phê với các tỷ lệ khác 28 ngày cấy giống, tơ nấm linh chi đã lan đều<br /> nhau kém hơn so với môi trường đối chứng. khắp bịch cơ chất. 7 ngày sau khi rạch bịch cơ<br /> Tuy nhiên, chưa thể kết luận môi trường cơ chất chất, quả thể của nấm linh chi bắt đầu xuất hiện<br /> có bổ sung bã cà phê là không thích hợp cho và phát triển trên các bịch cơ chất ở cả 5 công<br /> nấm linh chi, bởi vì, bã cà phê là loại cơ chất thức (hình 4). Sau 14 ngày rạch bịch, quả thể<br /> mới, trong giai đoạn đầu của quá trình phát nấm linh chi bắt đầu thích nghi với môi trường<br /> triển, nấm linh chi phải trải qua một khoảng thời và phát triển nhanh. Sự phát triển quả thể nấm<br /> gian để thích nghi. Theo Nguyễn Lân Dũng linh chi diễn ra mạnh hơn trong các bịch cơ chất<br /> (2010) [5], tác động của các yếu tố ngoại cảnh có chứa bã cà phê với tỷ lệ khác nhau; có thể<br /> như môi trường dinh dưỡng, độ ẩm, pH, nhiệt nhận thấy quả thể nấm linh chi trên môi trường<br /> độ... đối với sự sinh trưởng, phát triển của nấm chứa 100% bã cà phê phát triển tốt hơn so với<br /> thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau. các môi trường còn lại và tốt hơn nhiều so với<br /> Khi tiến hành nuôi cấy nấm linh chi trong môi trường đối chứng chứa 100% mùn cưa<br /> các bịch cơ chất có tỷ lệ bã cà phê khác nhau (thể hiện ở chiều cao và đường kính của cụm<br /> (0% - 25% - 50% - 75% - 100%) cho thấy, sau quả thể nấm).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 4. Quả thể nấm linh chi sau khi rạch bịch cơ chất 7 ngày<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 5. Quả thể nấm linh chi trên các môi trường chứa bã cà phê với các tỷ lệ khác nhau<br /> a. quả thể phát triển sau 30 ngày rạch bịch; b. quả thể phát triển sau 37 ngày rạch bịch 1, 2, 3, 4, 5: lần lượt là<br /> ký hiệu của môi trường cơ chất có bổ sung 0, 25, 50, 75 và 100% bã cà phê.<br /> <br /> Tại thời điểm 30 ngày sau khi rạch bịch, đến đỏ tươi, càng về già thì màu càng sẫm lại,<br /> nấm Linh chi bắt đầu phát triển tai nấm. Khi phần đính cuống gồ lên hoặc hơi lõm xuống so<br /> còn non, tai nấm có màu trắng - vàng cam cho với tai nấm, cuống nấm to, vỏ cuống có màu đỏ<br /> <br /> 74<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC, 2012, 34(3SE): 69-77<br /> <br /> nâu, bóng láng (hình 5). Tai nấm linh chi có thành, mặt dưới thể quả thường màu trắng kem -<br /> nhiều hình dạng khác nhau, trong đó tai nấm hơi vàng, có nhiều lỗ nhỏ. Dương Nguyên<br /> dạng hình sừng hươu chiếm đa số trong các Khang (2008) [11] cho rằng, đây là lớp bào tầng<br /> công thức. Điều này có thể giải thích là do sự sinh sản của nấm, chính những lỗ này là nơi giải<br /> biến động về nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm phóng bào tử khi quả thể trưởng thành.<br /> khi nấm chuyển từ giai đoạn phát triển hệ sợi tơ Nấm linh chi trưởng thành sau 37 ngày rạch<br /> sang giai đoạn ra quả thể. Theo Trịnh Tam Kiệt bịch được thu hoạch, cân trọng lượng tươi, sau<br /> (1983) [13], nhiệt độ tối ưu trong từng giai đoạn đó đem sấy khô ở 50°C đến khối lượng không<br /> phát triển của nấm linh chi có sự thay đổi lớn đổi. Kết quả được trình bày trong bảng 4 cho<br /> (20-35ºC trong giai đoạn nuôi tơ 25-30ºC trong thấy, trọng lượng tươi nấm linh chi thu được<br /> giai đoạn ra quả thể). Tuy nhiên, nếu nhiệt độ thấp nhất khi trồng trên môi trường đối chứng<br /> thay đổi quá lớn thì nấm linh chi khó phát triển (7,00 g), trọng lượng tươi gia tăng khi bổ sung<br /> thành tán mà ở dạng sừng hươu, đuôi gà. Bên bã cà phê vào môi trường cơ chất. Trong đó,<br /> cạnh đó, sự thiếu kinh nghiệm trong quá trình môi trường cơ chất sử dụng bã cà phê thay thế<br /> chăm sóc thu đón quả thể cũng có thể dẫn tới hoàn toàn mùn cưa là thích hợp nhất cho sự<br /> tình trạng tai nấm dạng sừng hươu. phát triển quả thể của nấm linh chi, điều này thể<br /> Quan sát trên bề mặt tai nấm linh chi hiện ở giá trị trọng lượng tươi cao nhất (37,1 g).<br /> trưởng thành sau 37 ngày rạch bịch có thể nhận Trọng lượng tươi của nấm thu được trên các<br /> thấy các vân gợn đồng tâm (hình 5). Vân gợn môi trường bổ sung bã cà phê với các tỷ lệ 25,<br /> đồng tâm ban đầu có màu vàng chanh - vàng 50 và 75% cũng cao hơn so với môi trường<br /> cam và hóa nâu sẫm khi quả thể nấm trưởng đối chứng.<br /> <br /> Bảng 4. Trọng lượng nấm linh chi trồng trên các môi trường cơ chất khác nhau<br /> Tỷ lệ bã cà phê Trọng lượng tươi Trọng lượng khô Hiệu suất sinh học<br /> (%) (g) (g) (%)<br /> 0 7,00a(*) 3,78a 3,5%<br /> 25 14,28b 7,71b 4,14%<br /> 50 21,89c 8,05b 10,95%<br /> 75 24,55c 11,29c 12,28%<br /> 100 31,70d 13,77d 15,85%<br /> a, b, c... thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa ở mức α = 0,05 trong phép thử Duncan.<br /> <br /> Nấm linh chi nuôi trồng trên cơ chất bã cà chi trồng trên cơ chất 100% bã cà phê nhằm<br /> phê có tốc độ phát triển tốt, khả năng tạo quả đánh giá sự khác biệt so với mẫu đối chứng<br /> thể và hiệu suất sinh học thu được cao hơn so (trồng trên cơ chất 100% mùn cưa). Tuy nhiên,<br /> với trồng trên môi trường đối chứng trong điều kết quả phân tích cho thấy quả thể nấm Linh chi<br /> kiện thí nghiệm. Điều cần quan tâm khi sử dụng trồng trên môi trường cơ chất bã cà phê và đối<br /> bã cà phê làm cơ chất trồng nấm là có hay chứng đều không chứa caffeine, điều này có thể<br /> không sự tích lũy caffeine từ bã cà phê vào là do nấm linh chi không có khả năng hấp thu<br /> nấm. Fan et al. (2000) [7] đã kết luận có chứa và tích lũy caffeine trong cơ chất.<br /> 0,157% caffeine trong quả thể nấm ăn Pleurotus<br /> (tên gọi chung chỉ các loại nấm ăn sẫm màu) KẾT LUẬN<br /> khi nuôi trồng trên cơ chất vỏ quả và thịt quả cà Bã cà phê chế phin và bã cà phê công nghiệp<br /> phê chứng tỏ loại nấm này có khả năng sử dụng chứa lần lượt 19,95% và 19,75% dầu. Trong dầu<br /> và hấp thu caffeine từ cơ chất và qua đó làm bã cà phê có chứa nhiều axit béo có chiều dài<br /> giảm hàm lượng caffeine trong cơ chất. Trong mạch C khác nhau (từ C6 đến C24), trong đó,<br /> nghiên cứu này, chúng tôi chỉ quan tâm đến sự các axit béo palmitic (C16:0), axit oleic (C18:1)<br /> hiện diện của caffeine trong quả thể nấm linh và axit linoleic (C18:2) chiếm hàm lượng cao.<br /> <br /> 75<br /> Chu Thi Bich Phuong et al.<br /> <br /> Dầu từ bã cà phê có hàm lượng axit béo không 2000. Use of various industry residues for<br /> bão hòa (axit palmitooleic, axit oleic, axit the cultivation of Pleurotus ostreatus in<br /> linoleic, axit linolenic, axit gadoleic, axit solid state fermentation. Acta. Biotechnol.,<br /> arachinonic và axit eruxic) khá cao (60,2% và 20: 41-52.<br /> 54,07%); trong đó, hàm lượng axit béo phức hợp 8. Giang Hoàng, 2011. Cơ hội từ thị trường cà<br /> không bão hòa (axit linoleic, axit linolenic và phê. Viet capital securities, 1-3<br /> axit arachinonic) lần lượt là 33,26% và 42,5%. http://cms.vcsc.com.vn/FileReport/2012062<br /> Bã cà phê là cơ chất thích hợp để nuôi trồng 8/VCF-20110121-KKN.pdf. 10/10/2011.<br /> nấm Linh chi. Khối lượng tươi quả thể nấm 9. Nguyễn Hồng Hương, Nguyễn Công Hào,<br /> Linh chi thu được trên cơ chất chứa 100% bã cà Đặng Chí Hiền, 2010. Nghiên cứu thành<br /> phê là 31,7 g, cao hơn nhiều so với nấm Linh phần dầu béo trong hạt và bã cà phê sử dụng<br /> chi trồng trên môi trường đối chứng trong điều làm nguồn diesel sinh học. Tạp chí Hóa học,<br /> kiện thí nghiệm. 48(4A): 683-688.<br /> 10. Khan N. A., Brown J. B., 1953. The<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> composition of coffee oil and its component<br /> 1. Alves R. M., Casal S., Oliveira M. B. P. P., fatty acids. J. Am. Oil Chem. Soc., 606-609.<br /> Ferreira M. A., 2003. Contribution of FA 11. Dương Nguyên Khang, 2008. Công nghệ<br /> profile obtained by high-resolution nuôi trồng nấm. Tủ sách đại học Bình<br /> GC/Chemometric techniques to the Dương, 299.<br /> authenticity of green and roasted coffee<br /> 12. Kondamudi N., Mohapatra S. K., Misra M.,<br /> varieties. JAOCS, 80: 511-517.<br /> 2008. Spent coffee grounds as a versatile<br /> 2. Azevedo A. B. A., Kieckbush T. G., sourse of green energy. J. Agr. & Food<br /> Tashima A. K., Mohamed R. S., Mazzafera Chem., 56: 11757-11760.<br /> P. and Vieira de Melo S. A. B., 2007.<br /> 13. Trịnh Tam Kiệt, Đoàn Văn Vệ, Vũ Mai<br /> Extraction of green coffee oil using<br /> Liên, 1983. Sinh học và kỹ thuật nuôi trồng<br /> supercritical carbon dioxide. J. Supercrit<br /> nấm ăn. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà<br /> Fluid, 44(2): 186-192.<br /> Nội, 431.<br /> 3. Bengis R. O., Anderson R. J., 1934. The<br /> 14. Nguyễn Văn Mùi, 2007. Thực hành hóa<br /> chemistry of the coffee bean. J. Bio. Chem.,<br /> sinh học. Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội,<br /> 17(1): 99-113.<br /> 63-72.<br /> 4. Casal S., Oliveira M. B., Ferreira M. A.,<br /> 15. Oliveira A. L., Cruz P. M., Eberlin M. N.,<br /> 1997. Discrimination of Coffea arabica and<br /> Cabral F. A., 2005. Brazilian roasted coffee<br /> Coffea canephora var. robusta beans by<br /> oil obtained by mechanical expelling:<br /> their fatty acid composition. In: Amado<br /> compositional analysis by GC - MS. Ciênc<br /> R. and Battaglia R. (eds) Proceedings of<br /> Tecnol Aliment, Campinas, 25(4): 677-682.<br /> Euro Food Chem IX, Interlaken,<br /> Switzerland, 3: 685. 16. Oliveira L. S., Franca A. S., Mendonc J. C.<br /> F., Barros-Júnior M. C., 2006. Proximate<br /> 5. Nguyễn Lân Dũng, 2010. Công nghệ nuôi<br /> composition and fatty acids profile of green<br /> trồng nấm (tập 2). Nxb. Nông nghiệp, Hà<br /> and roasted defective coffee beans.<br /> Nội, 278.<br /> Lebensm Wiss Technol, 39: 235-239.<br /> 6. Durán M. A., Filho R. M., Maria R. W. M., 17. Speer K., Speer I. K., 2006. The lipid<br /> 2010. Rate-Based modeling approach and fraction of the coffee bean. Braz J. Plant<br /> simulation for molecular distillation of Physiol., 18(1): 201-216.<br /> green coffee oil. 20th European Symposium<br /> on Computer Aided Process Engineering - 18. Vitzthum O. G. 1976. Chemie und<br /> ESCAPE20, 2010. Elsevier. Bearbeitung des Kaffees. In: Eichler O. (ed)<br /> Kaffee und Coffein. Springer Verlag,<br /> 7. Fan L. A., Pandey R. M., Soccol C. R., Berlin-Heidelberg-New York, pp. 3-64.<br /> <br /> 76<br /> TẠP CHÍ SINH HỌC, 2012, 34(3SE): 69-77<br /> <br /> A STUDY ON USING COFFEE GROUNDS AS THE MATERIAL FOR OIL<br /> EXTRACTION AND LINGZHI MUSHROOM GROWING<br /> <br /> Chu Thi Bich Phuong1, Nguyen Thi Trung Uyen1, Huynh Phuong Thanh1,<br /> Pham Van Loc2, Bui Van The Vinh1, Nguyen Cong Hao1<br /> 1<br /> Ho Chi Minh city University of Technology<br /> 2<br /> Ho Chi Minh city University of Food Industry<br /> <br /> <br /> SUMMARY<br /> <br /> The coffee grounds from consumers and industrial productions at Vinacafe Bien Hoa Joint Stock<br /> Company were used as the material for oil extraction and lingzhi mushroom growing. The results showed that<br /> the coffee grounds had average oil content approximately19.1- 21.1%. Coffee oil contains many kinds of fatty<br /> acids with different carbon chain length from C6 to C24. Of those fatty acids, palmitic acid (C16:0), oleic<br /> acid (C18:1) and linoleic acid (C18:2) were present in large content. Lingzhi mushrooms showed the<br /> capability of firmly spreading their fine threads on the substrate of spent coffee grounds, which was illustrated<br /> by color, length and depth of the threads. The speed of shaping and growing of lingzhi mushroom spores on<br /> the substrate of spent coffee grounds was faster than on the control substrate in laboratory conditions.<br /> Moreover, no sample of lingzhi mushroom spore contained caffeine.<br /> Key words: Coffee grounds, oil, lingzhi mushrooms, oil extraction, substract.<br /> <br /> Ngày nhận bài: 21-6-2012<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 77<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2