intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu xây dựng định mức năng lượng cho công trình khách sạn ở Đà Nẵng

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

6
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Nghiên cứu xây dựng định mức năng lượng cho công trình khách sạn ở Đà Nẵng đề xuất một phương pháp xây dựng định mức năng lượng thông qua khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế của 55 khách sạn trên địa bàn Đà Nẵng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu xây dựng định mức năng lượng cho công trình khách sạn ở Đà Nẵng

  1. 112 Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Trung, Phan Tiến Vinh NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC NĂNG LƯỢNG CHO CÔNG TRÌNH KHÁCH SẠN Ở ĐÀ NẴNG A STUDY ON ENERGY BENCHMARK FOR HOTEL BUILDINGS IN DANANG Nguyễn Anh Tuấn1, Nguyễn Xuân Trung1, Phan Tiến Vinh2 1 Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng; natuan1@dut.udn.vn 2 Trường Cao đẳng Công nghệ - Đại học Đà Nẵng; ptvinh@dct.udn.vn Tóm tắt - Loại hình khách sạn đang phát triển rất nóng tại các đô thị Abstract - Hotel buildings have been developing very rapidly in du lịch, đặc biệt là thành phố Đà Nẵng. Để quản lý hiệu quả việc tiêu tourism cities, especially in Danang city. To effectively manage energy dùng năng lượng trong nhóm công trình này cần phải xây dựng định consumption of this type of buildings, it is necessary to establish an mức tiêu hao năng lượng, tiến tới việc dán nhãn năng lượng theo energy benchmark, moving towards energy labeling corresponding to mức độ hiệu quả. Nghiên cứu này đề xuất một phương pháp xây buildings’ energy efficiency. This study proposes a method to establish dựng định mức năng lượng thông qua khảo sát và phân tích dữ liệu an energy benchmark by conducting a survey and analysis of thực tế của 55 khách sạn trên địa bàn Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu real-world data of 55 hotels in Danang. The results show that the higher cho thấy, khách sạn có hạng (cấp sao) càng cao thì suất tiêu hao the rating (star-rating) of a hotel is the more energy it consumes, with năng lượng càng lớn, với mức trung bình chung là 87,4 kWh/m2/năm an average of 87.4 kWh/m2/year or 8,628.6 kWh/bedroom/year. This hay 8.628,6 kWh/phòng ngủ/năm. Nghiên cứu cũng đã đề xuất một study also proposes an energy-efficiency-based rating scale for hotel thang phân loại công trình khách sạn theo mức độ hiệu quả năng buildings, including 7 grades from A to G. The results of the study lượng gồm 7 hạng từ A đến G. Kết quả nghiên cứu có nhiều ý nghĩa demonstrate potential applications in hotel building management, trong quản lý, thiết kế xây dựng và cải tạo loại hình công trình này. design, construction and renovation of this building type. Từ khóa - định mức năng lượng; khách sạn; suất tiêu hao; dán Key words - energy benchmarking; hotel; energy use intensity; nhãn năng lượng; thang phân loại energy labeling; energy rating scale 1. Đặt vấn đề lịch, một loại hình công trình đang có tốc độ phát triển Tiết kiệm năng lượng hiện nay là vấn đề thời sự đang được nhanh chóng tại các thành phố du lịch, đặc biệt là Đà Nẵng. quan tâm từ nhiều phía. Đứng trên góc độ môi trường và phát 2. Phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và các triển bền vững, tiết kiệm năng lượng là một hành động thiết kết quả đạt được thực hàng đầu nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Đi kèm với đó, vấn đề xây dựng định mức 2.1. Phương pháp nghiên cứu tiêu thụ năng lượng (energy benchmarking) cho các công trình Hiệu suất sử dụng năng lượng của một công trình xây dựng đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm rất sớm, thường được đo lường bằng cách so sánh hiệu suất năng từ những năm 1990. Đi kèm với việc xây dựng định mức năng lượng của nó với một tập hợp mẫu các công trình tương tự, lượng là việc xây dựng thang phân loại công trình theo hiệu thông thường là một định mức (benchmark) được tính toán quả năng lượng (building energy rating tool). từ tập hợp mẫu. Nói cách khác, một công trình làm mẫu Lĩnh vực khách sạn ở Đà Nẵng nói riêng và nhiều địa điển hình (prototype building) có thể được dùng như là một phương trong cả nước nói chung đang phát triển nhanh chóng định mức. Hiện nay có khá nhiều cách xây dựng định mức do sự bùng nổ du lịch trong những năm gần đây. Riêng tại Đà năng lượng cơ bản, trong đó những cách phổ biến nhất có Nẵng đã có trên 575 cơ sở lưu trú (trong đó khách sạn chiếm thể kể đến gồm có [1]: khoảng 95%) và con số này vẫn liên tục tăng nhanh khoảng a. Hệ thống xếp hạng; 10% - 14%/năm. Đi kèm sự phát triển đó là điện năng tiêu thụ b. Mô hình phân phối, sử dụng giá trị ở giữa và các bởi khu vực khách sạn du lịch cũng tăng và chiếm tỷ trọng khoảng xác suất phần trăm; đáng kể trong tổng tiêu thụ điện năng, do khách sạn thường trang bị các hệ thống sử dụng điện công suất cao. c. Mô hình hồi quy; Giảm thiểu điện năng tiêu thụ của lĩnh vực khách sạn đang d. Mô hình hồi quy sử dụng sai số chuẩn của một phép hồi quy, hoặc suất tiêu hao trung bình, của một tập hợp mẫu; rất được quan tâm, do đó, cần xây dựng định mức tiêu thụ năng lượng cũng như biện pháp phân loại mức độ hiệu quả về e. Các mô hình điển hình. sử dụng năng lượng là rất cần thiết. Đây là cơ sở để các cơ Những mô hình này thường xây dựng định mức dưới quan quản lý nhà nước quản lý, khuyến khích, chế tài đối với dạng một chỉ số suất tiêu hao năng lượng - EUI (energy use lĩnh vực khách sạn nhằm giảm thiểu lãng phí điện năng. intensity), thường là kWh/m2/năm hay MJ/m2/năm, hay Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xây dựng định tương tự. Việc dùng các loại đơn vị đo này giúp cho các nhà mức năng lượng và thang phân loại khách sạn du lịch trên quản lý dễ hiểu được hệ thống định mức. Ngoài ra, một loại địa bàn Đà Nẵng theo mức độ hiệu quả năng lượng, nhằm đơn vị đo khác cũng có thể được sử dụng với độ chính xác đưa ra các kết quả có thể hỗ trợ công tác thiết kế, xây dựng cao hơn, nhưng việc thu thập dữ liệu phức tạp hơn, đó là đơn và quản lý có hiệu quả các công trình khách sạn du lịch trên vị có dạng kg CO2/m2/năm. Một vài định mức có thể có thêm địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung. chỉ dẫn cụ thể về tỷ lệ phần trăm năng lượng được sử dụng Đối tượng nghiên cứu là loại hình công trình khách sạn du bởi các mục đích sử dụng khác nhau trong công trình.
  2. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(120).2017, QUYỂN 3 113 Trong nghiên cứu của chúng tôi, các phương pháp b., c., 2.3. Các kết quả của nghiên cứu d. nói trên được áp dụng. Việc xây dựng định mức năng lượng 2.3.1. Định mức tiêu hao năng lượng của từng hạng khách theo phương pháp này nói chung cần một tập hợp mẫu khảo sạn và định mức chung sát đủ lớn để đảm bảo tính đại diện của mẫu và độ tin cậy của Việc xây dựng định mức thường dựa trên cơ sở tính toán kết quả khảo sát. Chúng tôi quyết định chọn khảo sát khoảng giá trị trung bình của một tập hợp mẫu. Tuy nhiên, trong 10% tổng số khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng – tức trường hợp của chúng tôi, các nhóm khách sạn có hạng khác khoảng từ 50 đến 55 công trình khách sạn để có được các nhau thì có suất tiêu hao năng lượng khác nhau, đồng thời số thông tin cơ bản và lượng năng lượng tiêu thụ tương ứng trong mẫu khảo sát trong mỗi nhóm cũng khác nhau. Do đó, việc 12 tháng liên tục. Các thông tin khảo sát gồm: tính toán mức tiêu hao năng lượng trung bình được chúng tôi - Năng lượng tiêu thụ của từng tháng, trong 12 tháng tính toán theo phương pháp đặc biệt như sau: liên tục của 1 năm; 5 - Thông số quy mô công trình: diện tích sàn, khối tích,  EUI i sao EUI  i 1 số phòng ngủ, số tầng; (0.1) 5 - Năm xây dựng, năm vận hành; Trong đó: - Hệ thống dùng năng lượng như điều hòa, máy nước EUI là suất tiêu hao năng lượng trung bình của loại nóng, đèn chiếu sáng... hình công trình khách sạn; Việc khảo sát được thực hiện bằng cách gửi thư hoặc là suất tiêu hao năng lượng của khách sạn hạng EUI i sao đến trực tiếp tại cơ sở. i sao (được tính bằng trung bình suất tiêu hao của nhóm Để đảm bảo chất lượng và tính đại diện mẫu khảo sát, khách sạn hạng i sao). chúng tôi lựa chọn khách sạn mẫu theo những tiêu chí ưu tiên từ cao đến thấp như sau: 160.0 144.4 Suất tiêu thụ điện năng trung - Hạng khách sạn: phải có đủ các hạng từ 1 sao đến 5 bình (KWh/m2/năm) 140.0 sao, số lượng giữa các hạng càng đồng đều càng tốt; 120.0 100.3 100.0 87.4 - Vị trí công trình: cố gắng có các đại diện khách sạn ở 80.9 80.0 các quận nội thành; 54.4 57.0 60.0 - Quy mô công trình: có công trình nhỏ (dưới 2.500 40.0 m2), vừa và lớn; có thấp tầng, có cao tầng. 20.0 Trên cơ sở dữ liệu thu được, nghiên cứu đã sử dụng các 0.0 công cụ phân tích thống kê như phương pháp đồng hóa dữ 1 sao 2 sao 3 sao Trung 4 sao 5 sao bình liệu và phương pháp tính trung bình, phương pháp hồi quy, Hạng khách sạn phương pháp phân bố xác suất… để đưa ra định mức tiêu hao năng lượng trung bình. 30000.0 Suất tiêu thụ điện năng trung bình 25290.0 Bằng biện pháp phân tích phân bố xác xuất, từ dữ liệu 25000.0 điều tra có thể xây dựng được thang phân loại công trình (KWh/phòng ngủ/năm) theo mức độ hiệu quả năng lượng. Thang phân loại có thể 20000.0 dùng để phân loại và dán nhãn năng lượng công trình. 15000.0 2.2. Nội dung nghiên cứu 8628.6 8256.2 10000.0 Kết thúc gần 1 năm thực hiện khảo sát, chúng tôi đã có 4657.1 được kết quả của 55 công trình khách sạn trên địa bàn thành 5000.0 2277.4 2662.0 phố. Qua quá trình sàng lọc, dữ liệu của 5 công trình khách sạn 0.0 không đạt yêu cầu chất lượng hoặc không phù hợp (số liệu điện 1 sao 2 sao 3 saoTrung 4 sao 5 sao năng bất thường, thông tin không rõ ràng, chủng loại công trình bình không phù hợp…) được chúng tôi loại bỏ. Dữ liệu còn lại là Hạng khách sạn của 50 khách sạn được phân nhóm từ 1 sao đến 5 sao. Số lượng khách sạn của từng nhóm được trình bày trong Bảng 1. Hình 1. Suất tiêu hao năng lượng trung bình tính theo tổng diện tích sàn sử dụng và tính theo số phòng ngủ Bảng 1. Số lượng khách sạn khảo sát ở từng hạng Kết quả định mức tiêu hao năng lượng EUI được chúng Số 1 sao 2 sao 3 sao 4 sao 5 sao tôi trình bày trong Hình 1. Kết quả cho thấy suất tiêu hao lượng 10 6 21 8 5 năng lượng trung bình là 87,4 kWh/m2/năm hay 8.628,6 Các kết quả khảo sát nói trên được sàng lọc, xử lý, quy kWh/phòng ngủ/năm. Kết quả cũng chỉ ra rằng, khách sạn đổi, nội suy một số giá trị còn thiếu. Một số khách sạn lớn có hạng càng cao (càng nhiều sao) thì suất tiêu hao năng có sử dụng dầu diezen để vận hành được quy đổi từ thể tích lượng càng lớn. Khách sạn 5 sao có suất tiêu hao trung bình dầu sử dụng sang đơn vị năng lượng kWh. Kết quả cuối gần gấp 3 lần khách sạn 1 đến 2 sao. So sánh với suất tiêu cùng được phân tích trên phần mềm thống kê Stata v.10. hao năng lượng khách sạn ở Seatle (Hoa Kỳ) [2], Hồng Kông Kết quả phân tích được đối chiếu, kiểm tra cẩn thận với các [3] cho thấy, suất tiêu hao năng lượng khách sạn ở Đà Nẵng dữ liệu khoa học khác trước khi công bố. thấp hơn rất nhiều (87,4 so với 271 và 564 kWh/m2/năm).
  3. 114 Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Trung, Phan Tiến Vinh 2.3.2. Thang phân hạng khách sạn theo mức độ hiệu quả 2.3.3. Các mối quan hệ giữa suất tiêu hao năng lượng và sử dụng năng lượng các yếu tố khác Có nhiều cách phân hạng công trình theo mức độ hiệu Một vấn đề mà nghiên cứu quan tâm đó là tỷ lệ phần quả về năng lượng, ví dụ như: trăm năng lượng tiêu thụ theo các tháng của khối khách - Phân hạng theo từng quãng suất tiêu hao năng lượng sạn. Nghiên cứu cho kết quả như trình bày ở Hình 3. Kết bằng nhau; quả cho thấy, trong các tháng hè, điện năng tiêu thụ tăng cao, gấp khoảng 2 lần so với những tháng khác. Phân tích - Phân hạng theo từng quãng phân bố xác suất đều nhau; cũng cho thấy điện năng tiêu thụ tương quan chặt chẽ với - Phân hạng bằng kỹ thuật phân nhóm dựa trên lý nhiệt độ trung bình tháng của địa phương. Điều này phản thuyết mờ (fuzzy) [4]. ánh rằng, năng lượng dùng cho việc làm mát trong công Nghiên cứu này sử dụng cách phân hạng dựa trên hướng trình khách sạn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng năng dẫn trong tiêu chuẩn châu Âu prEN15217:2005 [5], là lượng tiêu thụ. phương pháp phân hạng dựa trên phân bố xác suất. Cách 14 31 phân hạng này cho phép áp dụng mà hầu như ít chịu sự chi % điện năng Nhiệt độ trung bình % trung bình điện năng tiêu thụ 1 29 phối của đặc trưng tiêu thụ năng lượng ở các vùng miền khác 12 Nhiệt độ trung bình tháng nhau. Cách phân hạng này đã được áp dụng ở một số nghiên 10 27 cứu quốc tế, ví dụ [6]. Hình 2 giới thiệu phân bố xác suất của 25 suất tiêu hao năng lượng của 50 khách sạn được khảo sát. 8 năm 23 6 21 4 19 2 17 0 15 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng trong năm Hình 3. Trung bình điện năng tiêu thụ theo từng tháng của công trình khách sạn ở Đà Nẵng 90 80 Công suất phòng (%) 70 60 Hình 2. Xác suất phân bố của suất tiêu hao năng lượng trung 50 y = -0.0111x + 66.765 bình tính theo tổng diện tích sàn sử dụng 40 R² = 0.0035 Kết quả chính thu được từ Hình 2 là: 30 - Suất tiêu hao năng lượng EUI nằm ở giữa (median) của 20 tập hợp mẫu là 72 kWh/m2/năm. Giá trị này được sử dụng 10 như là một mốc chuẩn (benchmark) của nhóm mẫu - Rks; 0 0 50 100 150 200 250 - Giá trị giới hạn của 25% suất tiêu hao năng lượng thấp Suất tiêu hao năng lượng (kWh/m2.năm) nhất là 50 kWh/m2/năm. Giá trị này được nghiên cứu xem như là suất tiêu hao năng lượng của các công trình tốt, tuân Hình 4. Tương quan giữa công suất phòng và suất tiêu hao thủ Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) về công trình sử dụng năng lượng của công trình khách sạn ở Đà Nẵng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (QCVN 09: 2013) - RQCVN. Một vấn đề cần quan tâm là công suất phòng liệu có ảnh Bảng 2. Chi tiết cách phân hạng công trình khách sạn hưởng đến suất tiêu hao năng lượng EUI của khách sạn hay theo mức độ hiệu quả năng lượng không? Chúng tôi thực hiện một phân tích tương quan, được trình bày trong Hình 4. Phân tích này cho thấy, hầu Hạng A EUI < 0.5*RQCVN EUI < 25 như không có mối liên quan nào trong các trường hợp khảo Hạng B 0,5*RQCVN ≤ EUI < RQCVN 25 ≤ EUI < 50 sát. Để kiểm chứng nhận định trên, chúng tôi khảo sát một Hạng C RQCVN ≤ EUI < 0,5*(RQCVN + Rks) 50 ≤ EUI < 61 trường hợp cụ thể là khách sạn X (có dữ liệu công suất Hạng D 0,5*(RQCVN + Rks) ≤ EUI < Rks 61 ≤ EUI < 72 phòng từng tháng). Mối quan hệ giữa điện năng tiêu thụ và công suất phòng qua từng tháng được thể hiện trong Hình Hạng E Rks ≤ EUI < 1,25*Rks 72 ≤ EUI < 90 5. Kết quả cho thấy năm 2014, mặc dù công suất phòng tụt Hạng F 1,25*Rks ≤ EUI < 1,5*Rks 90 ≤ EUI < 108 giảm nghiêm trọng (do sự kiện giàn khoan 981 ngày Hạng G 1,5*Rks ≤ EUI 108 ≤ EUI 02/5/2014) nhưng điện năng tiêu thụ của khách sạn X Với kết quả đó, thang phân hạng công trình gồm 7 hạng không giảm so với cùng kỳ, thậm chí còn cao hơn một ít. được chúng tôi xây dựng trên cơ sở tham chiếu tiêu chuẩn Phát hiện này củng cố nhận định là công suất phòng dường prEN15217:2005 như trong Bảng 2. Kết quả này có thể như ít ảnh hưởng đến suất tiêu hao năng lượng của khách được sử dụng để thông báo, khuyến khích, chế tài hay dán sạn ở Đà Nẵng. Kết quả này hoàn toàn giống như kết quả nhãn năng lượng công trình trên địa bàn thành phố. một nghiên cứu về cùng chủ đề ở Hồng Kông [3].
  4. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(120).2017, QUYỂN 3 115 Điện năng 2013 Điện năng 2014 Công suất phòng 2013 Công suất phòng 2014 2500000 90 80 Năng lượng tiêu thụ (kWh) 2000000 70 Công suất phòng (%) 60 1500000 50 40 1000000 30 500000 20 10 0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Sự kiện giàn khoan 981 ngày 2/5/2014 Tháng Hình 6. Mặt đứng hướng Đông và Tây nhiều kính của Hình 5. Tương quan giữa công suất phòng và suất tiêu hao khách sạn Y ở Đà Nẵng (Nguồn: Tác giả) năng lượng của khách sạn X năm 2013 và 2014 Không giống như những công trình thương mại khác, (thiếu số liệu tháng 11, 12 năm 2014) khách sạn là một loại hình đặc biệt do nhiều dịch vụ và Chúng tôi cũng phân tích mối tương quan giữa suất tiêu chức năng mà nó cung cấp. Ngoài phòng ngủ, khách sạn hao năng lượng công trình khách sạn với số tầng của công còn có nhà hàng, hồ bơi, bếp, cửa hàng bán lẻ, khu đỗ xe, trình, tổng diện tích sàn, năm xây dựng, nhưng không tìm thấy massage và spa… Khách sạn thường vận hành 24/24 và mối tương quan đáng kể nào. Do đó có thể nhận định số tầng, quanh năm, mặc dù một số chức năng như phòng hội nghị hay tổng diện tích sàn, khách sạn cũ hay mới không ảnh hưởng chỉ được sử dụng vài lần trong một năm. Công suất phòng đáng kể đến suất tiêu hao năng lượng công trình khách sạn. cũng có thể thay đổi lớn trong suốt 1 năm. Trong rất nhiều khách sạn, mặc dù phòng không có khách, nhưng hệ thống 3. Bàn luận điều hòa vẫn phải hoạt động để tránh tích tụ khí bẩn và Ban đầu, chúng tôi đặt giả thiết rằng công trình khách tránh nấm mốc. Điều này cũng lý giải một phần việc suất sạn có thể có một định mức năng lượng chung. Tuy nhiên, tiêu hao năng lượng hầu như ít liên quan đến công suất kết quả nghiên cứu cho thấy các khách sạn khác hạng thì phòng. suất tiêu hao năng lượng của chúng cũng khác nhau. Do đó, nghiên cứu này khuyến nghị rằng, đối với loại hình 4. Kết luận công trình khách sạn, định mức năng lượng cần được xây Đây cũng là lần đầu tiên một nghiên cứu hoàn chỉnh về dựng cho từng hạng (ở Việt Nam phân hạng thể hiện bằng định mức năng lượng công trình dân dụng được công bố ở cấp sao) như đã trình bày trong Hình 1. Các khách sạn 1 và Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây (nếu có) thì chỉ rời 2 sao có suất tiêu thụ năng lượng rất thấp, nên không được rạc, không đủ số lượng mẫu cần thiết. Nghiên cứu này có xem là đối tượng trọng tâm trong chiến lược tiết kiệm năng tính tiên phong do hiện nay Bộ Xây dựng mới bắt đầu quá lượng. Ngược lại, cần chú trọng các giải pháp tiết kiệm trình xây dựng định mức năng lượng tiêu thụ và phân loại năng lượng trong loại Hình 4 và 5 sao, là các khách sạn vốn hiệu quả năng lượng cho các công trình khác nhau và Bộ có nhiều tiềm năng lớn. Công thương cũng vừa ban hành định mức tiêu hao năng Trong khi nghiên cứu, chúng tôi phát hiện ra một số lượng cho các ngành công nghiệp nặng. khách sạn 5 sao ở Đà Nẵng có suất tiêu hao năng lượng rất Qua thống kê và khảo sát 55 khách sạn trên địa bàn Đà lớn, có công trình lên đến 200 kWh/m2/năm. Con số này Nẵng, nghiên cứu đã rút ra và đề xuất định mức năng lượng cũng tương đương với các trường hợp ở TP. Hồ Chí Minh cho loại hình công trình khách sạn, với mức tiêu hao trung hay Hà Nội (ở Hà Nội là 218 kWh/m2/năm và TP. Hồ Chí bình là 87,4 kWh/m2/năm và 8.628,6 kWh/phòng_ngủ/năm. Minh là 221 kWh/m2/năm) [7]. Trong khi chưa có nghiên Tuy nhiên, nghiên cứu này khuyến nghị nên áp dụng định mức cứu đầy đủ, chúng tôi giả thiết rằng khách sạn 5 sao có tiêu cho từng hạng khách sạn (theo cấp sao) một cách riêng rẽ. chuẩn phục vụ cao, hệ thống dịch vụ khép kín, tiêu tốn Nghiên cứu cũng đã đề xuất được một hệ thống phân nhiều năng lượng và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến mức loại khách sạn theo mức độ hiệu quả năng lượng làm cơ sở EUI trung bình cao. để dán nhãn năng lượng công trình khách sạn trên địa bàn Một điểm đáng chú ý là các công trình không có giải thành phố. Hệ thống phân loại được đề xuất gồm 7 hạng từ pháp thiết kế phù hợp khí hậu thì hệ quả tất yếu là tiêu thụ A đến B, C, D, E, F và G. nhiều năng lượng hơn mức bình thường. Ví dụ: khách sạn Những kết quả khác của nghiên cứu gồm có: i) Mức Y (4 sao) ở Đà Nẵng (Hình 6) tiêu thụ năng lượng nhiều tiêu thụ năng lượng trong một năm của loại hình công trình hơn bình thường do mặt đứng công trình được bao phủ toàn khách sạn biến thiên theo nhiệt độ không khí trung bình ở bộ kính ở hướng Đông và Tây mà không có kết cấu che Đà Nẵng; ii) Suất tiêu hao năng lượng trung bình của công nắng. Kết quả, trong khi trung bình EUI của tập hợp mẫu trình khách sạn không phụ thuộc nhiều vào công suất khai là 87,4 kWh/m2/năm thì của khách sạn Y là 144 thác; iii) Các yếu tố khác ít có mối quan hệ với suất tiêu kWh/m2/năm – tương đương một khách sạn 5 sao sử dụng hao năng lượng của khách sạn. ở mức trung bình. Kết quả của nghiên cứu này có nhiều ứng dụng trong
  5. 116 Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Trung, Phan Tiến Vinh quản lý nhà nước, trong thiết kế công trình khách sạn theo [2] Seatle Office of Sustainability & Environment, Seatle Building Energy Benchmarking Analysis Report 2013 Data, Seatle, 2015. tiêu chí xanh và hiệu quả năng lượng, và trong cải tạo công [3] Deng, S.M. và Burnett, J., “A study of energy performance of hotel trình hiện hữu theo hướng hiệu quả năng lượng hơn. buildings in Hong Kong”, Energy and Buildings, 31(1), Elsevier, 2000, pp. 7-12. 5. Lời cảm ơn [4] M. Santamouris et al., “Using intelligent clustering techniques to Tác giả xin cảm ơn Trường Đại học Bách khoa – Đại classify the energy performance of school buildings”, Energy and học Đà Nẵng đã tài trợ cho nghiên cứu này (mã số đề tài: Buildings, 39 (1), Elsevier, 2007, pp. 45–51. T2017-02-75). Tác giả cũng xin cảm ơn các sở ngành, [5] CEN, prEN 15217:2005, Energy performance of buildings - Methods for expressing energy performance and for energy doanh nghiệp, các khách sạn và đồng nghiệp, bè bạn đã hỗ certification of buildings, 2005. trợ thông tin trong quá trình khảo sát. [6] Hernandez, P., Burke, K. và Lewis, J.O., “Development of energy performance benchmarks and building energy ratings for non- TÀI LIỆU THAM KHẢO domestic buildings: An example for Irish primary schools”, Energy and buildings, 40(3), Elsevier, 2008, pp. 249-254. [1] Liddiard, R., Wright, A. và Marjanovic-Halburd, L., A review of [7] USAID Vietnam Clean Energy Program, Yêu cầu chi tiết: Đánh giá non-domestic energy benchmarks and benchmarking định mức hiệu quả năng lượng công trình xây dựng (building energy methodologies, Proceedings of the 5th International Conference on performance baselines), Hà Nội, 2016. Improving Energy Efficiency in Commercial Buildings - IEECB Focus 2008, 2008, pp. 10-11. (BBT nhận bài: 23/08/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 19/09/2017)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2