Nguồn gốc bệnh tả - Phần 1
Tên gọi
Bệnh tả xuất hiện từ xa xưa tại nhiều i trên thế giới, nhất là tại vùng châu th
sông Hằng (Ấn độ ). Bệnh tả đã gây nhiều nỗi sợ hãi cho người n với những vụ
dịch thuờng xuyên xảy ra làm nhiều người chết đến mức độ tại thành ph Kolkata,
có một ngôi đền Ola Beebe được xây để thờ vị nữ thần tiêu chảy nhằm xin phù h
cho nhân dân trong vùng khỏi mắc bệnh.
Theo c văn Sanskrit, thì tnhững m 500 đến m 400 trước Công nguyên,
đã có những mô tả vmột bệnh giống như bệnh tả xảy ra tại Sushruta Samshita (
Ấn độ). Các tài liệu lịch sử trước đây 2000 m viết bằng chữ Hi lạp và Sanskrit
đều nhắc tới những bệnh tương tự như bệnh tả. Như vậy, ràng bệnh tả đã
xảy ra rất lâu trước năm 1817, m có báo cáo vđại dịch. Tuy nhiên, như đã nêu,
bệnh tả đã tồn tại tại tiểu lục địa Ấn độ nhiều năm trước khi người Âu mặt.
Theo lời Gaspar Correa, quan của Vasco da Gama tham gia đổ bộ lên vùng
Malabar thuộc bbiển tây nam của Ấn độ, cho biết vào m 1503 đến 20.000
người tại Calicut chết vì 1 chứng bệnh xảy ra đột ngột trong bụng, có người chết
nhanh sau khi khi mắc được 8 giờ ".
Tthế kỷ 18 đến nay, nhân loại đã trải qua 8 đại dịch với qui số người mắc,
svùng, snước mắc nhiều n, tốc độ lây lan cũng nhanh hơn. Trận dịch th
7 - do typ sinh học El Tor - bắt đầu tại Indonesia vào m 1961 sau đó lan ra
khắp châu Á, thay thế cho typ cổ điển là chủng lưu hành tại vùng này. Tm đầu
của thập niên 1970, dịch tả do El Tor đã bùng phát tại châu Phi, gây nên một số
vụ dịch lớn trước khi trở thành bệnh lưu hành tại châu lục này.
Hiện nay, >90% các trường hợp tả hàng m báo cáo cho WHO đều phát xuất
t châu Phi. Trong giai đoạn 2000-2004, s ca tả báo o hàng m xấp xỉ
100.000. Dĩ nhiên con s này thấp n nhiều so với thực tế, vì nhiều nước
không tham gia báo cáo.
Tuy Việt nam nằm trong vùng lưu hành nhưng qua nhiều m bệnh tả không
xuất hiện. m 2007, nhiều trường hợp tiêu chảy đã được báo cáo tại các tỉnh
miền bắc, nhất là khu vực quanh thành phHà nội. Do tính chất lây lan nhanh và
nguy hiểm cho nên một khi đã xác định được ít nhất có một trường hợp bệnh nhân
btiêu chảy cấp do tả, thì đợt dịch đó cần phải định danh là dịch tả và tất cả mọi
bệnh nhân triệu chứng tiêu chảy cấp nằm trong vùng địa dịch phải được
xử trí như tả.Tuy nhiên, thay vì gọi thẳng là dch tả, thì ngành y tế Việt nam đã s
dụng cụm từ "dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm (TCCNH) trong đó nguyên nhân t
phẩy khuẩn tả trong nhiu tuần đã ồn ào kết tội mắm m chính là thphạm
gây ra dịch tả .
Năm nay 2009, dịch tlại xuất hiện tại các tỉnh phía bắc. Lần này, tuy trên báo
chí dịch tả được gọi đúng tên ngắn gọn, nhưng lại 1 phát hiện mới là thịt c
tham gia vào quá trình lây lan dịch tả, vì trong ruột của chó bị giết tại các quán
thịt cầy tìm thấy Vibrio cholerae.
T những thực tế này tưởng cũng nêu lại vài kiến thức liên quan đến 1 bệnh
truyền nhiễm đã đồng hành với nếp ăn của con người từ hồi " xưa như quả đất ".
Trước hết về tên gọi. Không biết vì phi chịu ảnh hưởng của cách định danh
bệnh tả của Việt nam hay không mà txa xưa, từ nguyên của bệnh tả cũng có
phần rối rắm. Bệnh tả theo tiếng Anh là cholera, tiếng Pháp choléra. Tnguyên
của tiếng Anh, và tiếng Pháp đều bắt nguồn từ tiếng latin là cholera, đi từ gốc Hy
lạp kholera Tkholera gốc là kholē. Kholē 2 nghĩa, " mật ", trạng thái
buồn chán, hoặc " máng xối.
P. Raufman, trong một bài viết đăng trên tạp chí Am J Med, cho rằng cholera đi
từ nghĩa là cái máng xối khi so sánh với tình trạng tiêu chy xối xả của người b
t cũng giống lượng nước chảy ạt qua máng xối khi trời a ( Am J Med.
1997;104). D. Barua chẳng hạn cho rằng trong tiếng Hi lạp, từ cholera nghĩa là
dòng chảy của mật phát xuất t2 tgốc : chole ( nghĩa là mật ) và rein ( dòng
chảy ). chính Thomas Sydenham người đầu tiên phân biệt giữa cholera
bệnh với cholera 1 trạng thái giận dữ và đưa ra từ cholera morbus tức là tiêu
chảy nặng ( trích lại trong Mandell, Douglas, and Bennett’s Principles and
Practice of Infectious Diseases, 5th Edition, ).
Vi khuẩn học
Tác nhân gây bệnh tả Vibrio cholerae, thuộc chi Vibrio, là vi khuẩn gram âm,
1 tua dài phần đuôi để di chuyển trong môi trường, vốn sống tại các vùng
cửa sông, đầm lầy và vùng ven biển nước lợ.
Do đặc điểm Vibro cholera cần môi trường mặn đ phát triển, cho nên c
nhà vi trùng học nghĩ rằng chúng nguồn gốc t dưới đáy đại dương. Các
nghiên cu về cấu trúc bộ gene cũng bổ sung ý kiến này. Năm 1999, 2 tàu ngầm
nghiên cứu khoa học Alvin Nautile đã lấy mẫu nước t miệng núi lửa thuộc
dãy ngầm Đông Thái bình dương, chứng minh những loài Vibrio lấy được từ
đây rất giống với Vibrio cholerae, cho rằng loài này vốn trú tại vùng
biển sâu.
Vibrio cholerae, 1 vi khuẩn gram âm, không xâm nhập, được phân loại căn cứ
trên KN O phần thân thành các serovars hoặc serogroup đến nay người ta
biết có ít nhất 200 serogroups.
Trước năm 1992, nhóm O 1 là serogroup duy nhất gây ra dịch. Các chủng
thuộc serogroup O 1 được chia ra làm 2 biotyp, typ cđiển và typ El Tor dựa
theo sphân biệt các kiểu hình và gần đây bằng các marker di truyền. đến 7