Nhà qun lí không cần bằng MBA
Đây đó trên báo chí trong và ngoài nước, hay qua các buổi gii thiu tuyển
sinh ca các trường đại học dạy về kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam và
nước ngoài, chương trình MBA (Thạc sĩ quản trị kinh doanh) thường được
quảng bá dưới hình nh là khóa học dạy cho người ta cách trở thành các nhà
quản tr, hay vi thuật ngữ bình dân hơn, trở thành những ông, bà giám
đốc.
Và không ít sinh viên, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nước ngoài, sau khi
tốt nghiệp với tấm bằng MBA, tin rằng nh đang ở đẳng cấpcủa một nhà
quản tr. Đây là một li suy nghĩ phổ biến, không chỉ các chương trình MBA
này mà c xã hội đã áp đặt vào những ngưi đã đang học MBA.
Tuy nhiên, vi tư cách là một nhà giáo dục có nhiu năm kinh nghiệm ging
dạy về kinh doanh, Giáo sư Mintzberg, qua việc bình lun về các chương
trình MBA của những trường danh tiếng như Wharton, Harvard và Stanford,
từ chương 3 tới chương 6 trong quyển sách này, đã chỉ ra nhiu vấn đề.
Người dch thật sự có ấn tượng sâu sắc với các ý tưởng về "một tầng lớp quí
tộc mới", "bằng MBA có thể quản mi lĩnh vực", vì dường như nó phn
ánh rất đúng những gì đang diễn tiếnViệt Nam, như cách mà phần ln
người trong xã hội đangn vinh những người có bằng MBA (đin hình là
những mức lương cao ngất mà nhiu thạc sĩ quản tr kinh doanh được
hưởng, hay nhiu người đã khẳng định rằng bằng MBA là một điều kiện để
thăng tiến).
Không dng lại ở đó, với phân tích về khái niệm "khai thác" và "khám phá",
tác giả Mintzberg đã chỉ ra rằng, một nhà qun trị áp dụng các phương thức
quản tr kiểu MBA là mang tính khai thác, và dễ thích ứng vi các ngành có
công nghệ ổn định và thay đổi chậm như hàng tiêu dùng nhanh, nhưng họ sẽ
tạo ra thm họa nếu nhy vào qunmột lĩnh vực có công nghệ thay đổi
nhanh như ngành máy tính và công nghệ thông tin.
Câu chuyện sinh động về Apple qua lăng kính của tác giả cho ta thấy những
nhà qun tr MBA đã làm những công tyng nghệ tàn lụi ra sao, vì h
nhm đến "khai thác" chứ không "khám phá" cái mới, một điều quyết định
sức mạnh công ty trong những lĩnh vực mà công nghệ thay đổi hằng ngày.
Nói một cách đơn giản, như tác giả đã trích một quan điểm rất t của
Rumelt là "...có thể dạy các chuyên gia xe máy hiểu về chiến lược nhưng
không thể dạy các chuyên gia chiến lược hiểu về xe máy".
Không ch chỉ trích những vn đề trong đào tạo ca các trường kinh doanh,
rằng dường như chúng dạy người ta về những khía cạnh khác nhau của "kinh
doanh" chứ không phải dạy cách "quản lý" như tuyên bố thường xuyên của
các trường, tác gicòn đi vào chỉ trích những gì mà sinh viên được dạy
trong các trường kinh doanh đã đẩy cả xã hội đi vào tình trng "vô đạo đức
trong kinh tế" và "thoái hóa các giá trị nhân văn". Những điều này trnên
ngày càng rõ ràng trong những năm gn đây, bất chấp các khóa học MBA đã
nỗ lực giới thiệu các học phn về "đạo đức".
Theo cm nhn riêng của người dch, chương 6 là một cơng khá đặc biệt,
đưa ra những lập luận và nhn định rất lý thú, đi ngược li nhiu triết
lý hiện đại trong qun tr, ví dụ như triết lý tối đa hóa giá tr cổ đông trong
tài chính hay triết lý về chiến lược và luật pháp.
Giáo sư Mintzberg cũng đề cập đến những vn đề của các phương pháp
giảng dạy khác nhau, phê phán những vn đề của nhiều loại trường khác
nhau, bao gồm những trường nặng về giảng dạy phương pháp nghiên cứu,
phân tích ln những trường thiên về sử dụng tình huống như Harvard.
Không mang tính học thuật, tác giả đi từ những dẫn chứng sinh động và
những đoạn trích về cảm nghĩ của các sinh viên đã học những trường nổi
tiếng để cho người đọc thy mt bức tranh không hoàn toàn màu hồng về
những phương pháp giảng dạy tưởng là hiệu quả nhất.
Qua đó, chúng ta thấy được một số vấn đề ở các trường đại học ở Việt Nam
khi giảng dạy về kinh doanh. Những cải tiến của một số trường theo phương
pháp ging dạy nước ngoài đôi khi sẽ không mang lại kết quả nào nếu người
học thật sự không phù hợp vi phương pháp đó. Mặt khác, các phương pháp
giảng dạy tưởng như tuyt vời đôi khi lại đơn gin hóa vai trò của việc qun
lý về thành ra quyết định rồi từ ra quyết định về phân tích, ri phân tích li
thành một kỹ năng nhỏ n nữa. Hóa ra, các sinh viên MBA không chạm
được tới mức độ thật sự của "thực tiễn cứng rắn của qun lý" và thiếu những
kỹ năng mm, dù nhiu trường tuyên blà có dạy điều đó.
Một điểm đáng chú ý khác của quyển sách này là cách mà Minztberg hình
dung vnhững cấp độ khác nhau của sự ưa thích quản và ưa tch kinh
doanh trong một người, từ đó xác định người đó nên givai trò nào trong xã
hội. Ngoài ra, những đề cập của ông về những trường dạy quản thật s
(chứ không phi là dy về các chức năng của kinh doanh) cũng rất đáng suy
ngm, đặc biệt là cho những người làm công tác đào tạo về qun và tuyn
dụng nhà quản lý tương lai, cũng như cho những người đang học về quản .
Ngay cvi những ai không liên quan nhiu đến lĩnh vực quản lý, quyển
sách này cũng cung cấp một ngun tư liệu tốt về "một sự thật khác" của giáo
dục quản các trường đại học, dù là trong hay ngoài nước, để từ đó có thể
một cái nhìn toàn din hơn về vấn đề giáo dục quản . Những thông tin
trong quyn sách này sẽ hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách giáo
dục, những người có ý định cho con em đi học về qun , những nhà quản
lý định cho nhân viên hay chính bn thân học về quản lý, và cuối cùng là
cho chính những người đang dạy về qun lý ở các trường chuyên dy MBA.