
ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
NHỮNG RẠN NỨT TRONG QUAN HỆ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI NỬA
CUỐI THẾ KỶ 19
ĐOÀN LÊ GIANG (*)
Đầu thế kỷ 20, văn học nước ta bước vào giai đoạn bùng phát mạnh mẽ. Từ
phía các chí sĩ duy tân, và từ phía các trí thức Tây học, văn học đều nhất loạt chuyển
mình theo hướng cận đại hoá. Trong vòng khoảng chưa đầy ba chục năm, nền văn học
mới của dân tộc đã phát triển đến mức thành thục. Tại sao văn học nước ta có sự phát
triển nhanh chóng như thế? Sự phát triển ấy phải chăng chỉ là sự thay thế của văn học
phương Tây đối với văn học cũ, hay là từ bản thân văn học cũ cũng đã có những tín
hiệu và nhu cầu đổi mới? Sự đổi mới, nếu có chỉ là những đổi mới một cách vô ý thức
thể hiện trong sáng tác hay là cũng có ý thức thể hiện cả trong lý luận, tức là quan
niệm văn học?
Trong bài viết này chúng tôi thử khảo sát lại văn học cuối thế kỷ 19, đặc biệt là
những tác phẩm có tính chất lý luận để thử tìm lời giải đáp cho vấn đề trên.
Quan niệm văn học trung đại (trung đại hiểu theo nghĩa thời phong kiến) đã
được hình thành cùng với quá trình hình thành nền văn học viết dân tộc. Quan niệm có
tính chất trung đại điển hình được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn văn học Trung kỳ
trung đại (từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 17) với quan niệm văn học là phương tiện thể

hiện Chí, Tâm , Đạo của kẻ sĩ quân tử, nhân vật lý tưởng của loại văn học này là kẻ sĩ
quân tử. Cùng vớI nói, vẻ đẹp nghệ thuật được đề cao là Cao, Cổ, Hùng, Đạm, Nhã,
Hậu.
Sang đến Hậu kỳ trung đại (thế kỷ 18 – 19), những quan niệm trên đã bị rạn nứt
cùng với sự xuất hiện của dòng văn chương tài tử. Đến giũa thế kỷ 19, trước sự xâm
lăng của phương Tây, văn học nước ta đã có hai phản ứng trái ngược nhau. Một mặt
văn học lui về cố thủ một cách cứng rắn hơn trong những quan niệm Nho giáo chính
thống, đồng hoá bảo vệ dân tộc với bảo vệ “Đạo Thánh”. Mặt khác nó cũng lại cố
gắng gấp rút thoát ra khỏi những quan niệm có tính chất quy phạm phong kiến. Tính
chất lưỡng phân ấy thể hiện khá rõ trong nhiều tác gia văn học giai đoạn này: Nguyễn
Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,
Nguyễn Khuyến, Tú Xương…
Từ thơ văn và cả những tác phẩm có tính lý luận phê bình văn học của các tác
giả này, chúng ta thấy nổi lên rất rõ một thái độ không bằng lòng với những quy phạm
của văn chương trung đại: họ muốn văn học phải khác đi, phải đổi mới, theo khuynh
hướng có tính chất cận đại một khuynh hướng sẽ được khẳng định rõ ràng ở thế kỷ
sau.
1. Nguyễn Đình Chiểu và văn chương viết về những người “dân ấp dân lân”
Quan sát quá trình phát triển của văn học trung đại, chúng ta thấy có hiện tượng
nhân vật trung tâm của văn học ngày càng có xu hướng chuyển dần xuống những nấc
thang cuối của xã hội. Thời Lý - Trần, nhân vật lý tưởng của văn học là vua chúa, quý
tộc và các cao tăng. Giai đoạn cuối đời Trần, đầu đời Lê, nhân vật lý tưởng của văn
học xuống một bậc nữa, đó là nhà Nho - kẻ sĩ quân tử. Từ thế kỷ 18 trở đi, nhân vật

chính của văn chương là tài tử giai nhân. Đến nửa cuối thế kỷ 19 bắt đầu là người bình
dân – nông dân. Thời phong kiến, người bình dân dẫu có là lực lượng chính tham gia
sản xuất và chống ngoại xâm, nhưng trong quan niệm của kẻ sĩ quân tử, họ cũng chưa
thoát khỏi thân phận “được chăn dắt”. Ngay cả với Nguyễn Trãi, thi sĩ được coi là
đỉnh cao của tư tưởng thân dân (thương dân) thời phong kiến, cũng vẫn nhìn như vậy:
Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách
Đem dân (chăn dắt dân) mựa nữa (chớ để) mất lòng dân
(Bảo kính cảnh giới, bài số 57)
Đến giữa thế kỷ 19, người nông dân đã đứng lên trở thành nhân vật trung tâm
của thời đại. Nước mất, nhà vua thì bạc nhược, các quan thì chia năm xẻ bảy bàn thủ
bàn hoà. Người nông dân chẳng có gì phải suy nghĩ đắn đo nhiều, đạo lý ông bà
truyền lại mách bảo họ một sự lựa chọn giản đơn: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.
Thế là họ cầm vũ khí đứng lên, họ làm ra lịch sử theo ý muốn của mình: lịch sử của
những người nông dân chống Pháp. Thời đại đã đưa người nông dân chống Pháp.
Thời đại đã đưa người nông dân lên sân khấu chính trị trở thành nhân vật chính, người
nghệ sĩ chỉ có nhiêm vụ nhìn ra hiện thực mới này và phản ánh nó. Trong khi đại đa số
các nhà thơ khác vẫn còn say sưa với loại nghệ thuật cao quý trong tháp ngà với
những người quân tử kiểu cũ, thì người nghệ sĩ mù Nguyễn Đình Chiểu là người đầu
tiên đã sáng suốt phát hiện ra hiện thực mới này và đưa nó vào thơ văn.
Trong Văn tế Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rõ vai trò của đám
đông thầm lặng như là nhân tố quyết định của cuộc kháng chiến. Chính họ chứ không
phải ai khác, đã tạo ra Trương Định như là Trương Định mà lịch sử đã biết. Học đã

ngăn cản không cho ông trở thành lãnh binh, một võ quan phong kiến mà đưa ông lên
làm Bình Tây đại nguyên soái, một anh hùng kháng chiến:
Bởi lòng chúng chẳng nghe Thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền;
Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại.
Nếu như trong cuộc cách mạng Pháp hoạ sĩ Delacroix đã tạo ra hình tượng
tuyệt đẹp về con người đấu tranh cho tự do trong bức hoạ nổi tiếng Thần Tự do trên
chiến luỹ, tượng trưng cho tinh thần của cuộc cách mạng, thì nhà thơ Nguyễn Đình
Chiểu cũng tạo ra hình tượng bất hủ về người nông dân đứng lên chống thực dân Pháp
vì nền độc lập trong bài văn bi hùng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Chưa bao giờ trong
văn học nước nhà, người nông dân lại được thể hiện với sức mạnh và vẻ đẹp như thế.
Họ không còn là một đám đông đói rách “yết can trảm mộc”, giơ sào làm cờ, chặt cây
làm giáo trong cái cuộc nổi dậy vì áo cơm của bản thân mình nữa, mà lần này họ xuất
hiện với vẻ đẹp tinh thần của những con người vì nghĩa lớn: vì nền độc lập của dân
tộc. Họ không chỉ đơn giản là nhân vật hành động, mà là nhân vật tư tưởng. Năm thế
kỷ trước, Nguyễn Trãi khắc hoạ nên hình tượng Lê Lợi, người anh hùng cứu nước
trong áng “thiên cổ hùng văn” Đại cáo bình Ngô. Đến bây giờ, người anh hùng cứu
nước ấy là những nghĩ sĩ Cần Giuộc trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu. Tấm
lòng đau đáu yêu nước lo đời là một, chỉ có một điều khác: ngày xưa là một vị thiên
tử, còn bây giờ là những người nông dân:
Tiếng phong hạc phậm phồng hơn mươi tháng, trông tinh quanh như trời hạn
trông mưa;
Mùi tinh chiến vấy vá đã ba năm, ghét thói mạt như nhà nông ghét cỏ.

Ngày xưa ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ…
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Tất cả thực tế văn học như trên cho thấy quan niệm văn học cũng đã bắt đầu
thay đổi. Rõ ràng quan niệm văn chương thể hiện chí, tâm, đạo của kẻ sĩ quân tử; kể
cả quan niệm văn chương tài tử cũng không thể nào tương hợp với thực tế mới này về
văn học. Chúng ta phải tìm đến một quan niệm văn chương khác mới có thể lý giải
được nó. Có thể thấy ở quan niệm “tải tạo” và “đâm gian” của Nguyễn Đình Chiểu đã
nói ở trên, nhưng chưa thật rõ vì quan niệm ấy chỉ thể hiện được tính chiến đấu chứ
chưa thể hiện được tính chất đại chúng, tính chất “bình dân” của văn học. Người phát
ngôn về thực tế mới này của văn học là Nguyễn Thông với chủ trương đề cao một loại
nghệ thuật giản dị, bình dân bằng khái niệm “văn chương sông chằm lau lách”.
2. Nguyễn Thông và “văn chương sông chằm lau lách”
Khái niệm này được Nguyễn Thông đưa ra trong một lá thư quan trọng: Thư trả
lời ông Đại tư nông Phạm Trúc Đường (Dữ Trúc Đường Đại tư nông Phạm công thư).
Trong bức thư đó, ông đã trình bày và bảo vệ cho loại “văn chương sông chằm lau
lách” (xuyên trạch bồ vi chi văn) đối lập nó với loại “văn chương lang miếu đài các”
có tính chất quý tộc:
“Thông sinh ở vùng sông chằm lau lách nơi Nam Trung, văn chương cũng
giống như quê hương. Nay may được gặp ngài, chính là bậc quân tử có đạo đời nay,
bỏ đi những chỗ vụng về quê mùa, giả sử như Thông không làm loại văn chương sông

