intTypePromotion=3

Phát triển ưu điểm của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần - 1

Chia sẻ: Cao Tt | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
77
lượt xem
5
download

Phát triển ưu điểm của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần - 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lời nói đầu Từ năm 1986 Việt Nam thực hiện việc chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, chính sách kế hoạch và các công cụ khác . Quá trình chuyển tiếp đó đã đạt được những kết quả tuy là bước đầu nhưng đáng khích lệ. Chúng ta đã bắt đầu kiềm chế được lạm phát trong điều kiện kinh tế phải đối phó với nhiều khó khăn và nguồn viện trợ từ bên ngoài rất hạn chế. Năm 1986 tỉ lệ lạm phát là 487% năm...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phát triển ưu điểm của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần - 1

  1. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com Lời nói đầu Từ năm 1986 Việt Nam thực hiện việc chuyển nền kinh tế sang c ơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, chính sách kế hoạch và các công cụ khác . Quá trình chuyển tiếp đ ó đã đ ạt đư ợc những kết quả tuy là b ước đầu như ng đ áng khích lệ. Chúng ta đ ã bắt đầu kiềm chế đư ợc lạm phát trong đ iều kiện kinh tế phải đối p hó với nhiều khó khăn và ngu ồn viện trợ từ bên ngoài rất hạn chế. N ăm 1986 tỉ lệ lạm phát l à 487% n ăm 1994 đạt mức hai con số: 14%. Tốc độ trượt giá đã từ 15 -20% mộ t tháng vào đầu năm 1989, giảm xuống c òn d ưới 4% một tháng năm 1992. Trong nông nghiệp từ chỗ hàng ch ục n ăm liên tục phải nhập khẩu lươ ng thực thì nay chúng ta đã đủ lươ ng thực để phục vụ n hu c ầu trong nước và lại c òn xuất khẩu một lượng đ áng kể. Năm 1992, lần đ ầu tiên Việt Nam xuất khẩu gạo, đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Thái lan. Quan h ệ kinh tế - th ương mại giữa Việt Nam với các nư ớc cũng tăng nhanh, mở rộng b uôn bán với nhiều bạn hàng. Xuất khẩu n ăm 1989 - 1991 tăng 28% n ăm, thu h út ngày càn g nhiều công ty n ước ngo ài đầu tư vào Việt Nam với trên 400 dự án, vốn đ ăng ký kho ảng 3 tỷ USD. Lần đ ầu tiên sau nhiều thập kỷ đã xoá b ỏ chế đ ộ tem phiếu và phân phối theo đ ịnh lượng. Có thể nói, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành ph ần, áp d ụng chính sách kinh tế mở đối với cả trong n ước và ngoài n ước là bứơc mở đầu đổi mới c ơ bản về đư ờng lối xuyên suốt mọi lĩnh vực hoạt đ ộng hay nói một cách khác cơ cấu kinh tế mới bắt đầu có h iệu quả. Tuy nhiên, trong giai đ oạn đổi mới này bên c ạnh nh ững thành tựu đã đ ạt đư ợc, nền kinh tế Việt Nam còn gặp không ít những khó khăn. Trước hết đó là nguy cơ tụt hậu do: Sự thiếu triệt để của công cuộc cải cách còn đang trong th ời kỳ tranh tối tranh sáng nên chỉ cần một bước sơ hở có thể dẫn nền kinh tế đ ến chỗ sụp đổ. Việt Nam đang là một n ước ngh èo kém phát triển, công nghiệp còn lạc hậu, c ơ sở vật chất kỹ thuật nhất là c ơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội quá y ếu kém, không đồng bộ dân số đ ông (hơn 70 triệu dân) tăng nhanh, nhiều người 1
  2. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com không có việc làm, mức sống c òn thấp, nhiều vấn đề về văn hoá - x ã hội cần giải q uyết. Tốc độ phát triển của các quốc gia trong khu vực rất cao, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á là một khu vực đang diễn ra những hoạt đ ộng kinh tế sôi nôỉ nhất. Thứ hai là còn tồn tại nh ững mất cân đ ối do: Sự phát triển thiếu toàn diện của cơ cấu kinh tế hàng hoá nhiều th ành phần. Thực tế cho thấy trong số các doanh nghiệp quốc doanh chỉ có 1/3 số doanh nghiệp phát triển nh ư ng sự phát triển của họ đi liền với sự đầu tư c ủa nhà n ước về vốn, đ ất đ ai và tín d ụng 2/3 số doanh nghiệp c òn lại làm ăn thua lỗ. Các doanh nghiệp ngo ài q uốc doanh đ óng góp đ áng kể vào GNP nh ưng nhìn chung chưa được quan tâm thích đáng, đ ặc biệt trong việc xuất khẩu: Nh à nước chỉ cho phép các doanh n ghiệp qu ốc doanh đ ược xuất khẩu những mặt hàng trọng yếu trong nền kinh tế còn các doanh nghiệp ngo ài quốc doanh chỉ đ ược xuất khẩu những mặt hàng nói chung là đóng góp không đ áng kể vào thu nh ập ngân sách. Xuất phát từ tình hình thực tiễn và c ũng từ sự say mê c ủa em khi nghiên cứu vấn đề này nên em chọn đề tài: “Phát triển ưu điểm của kinh tế hàng hoá nhiều thành p hần”. Được sự giúp đỡ nhiệt t ình c ủa thầy giáo Lê Kim Châu cùng với chút h iểu biết ít ỏi củamình, em mạnh dạn xin đư ợc trình bày một số ý kiến cá nhân mình với hy vọng góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm hệ thống lý luận trong công cu ộc đ ổi mới của nước ta hiện nay. Em rất mong đ ược sự góp ý của thầy côvà các b ạn quan tâm đến đề tài này để b ài viết ho àn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơ n và trân trọng ý kiến đóng góp. Chươ ng I I.Những vấn đ ề lý luận của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - LêNin. Quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - LêNin 1.Giải thích quan đ iểm. Trong việc nhận thức cũng như trong việc xem x ét các đ ối tượng cần phải đ ứng trên quan điểm toàn diện. Như vậy câu hỏi đ ặt ra: quan điểm to àn diện là gì? Quan điểm to àn diện thể hiện qua hai nguyên lý sau: 2
  3. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com a.Nguyên lý ph ổ biến giữa các sự vật hiện tượng hay gọi là mối liên hệ p hổ biến giữa các sự vật, hiện tượng. Các sự vật và hiện tượng muôn hình, nghìn vẻ trong thế giới không có cái nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhất, trong đ ó các sự vật hiện tư ợng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau. Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật và hiện tư ợng trong tự nhiên trong xã hội và trong tư duy con người mà còn diễn ra giữa c ác yếu tố các mặt khác, các quá trình của mỗi sự vật hiện tượng. Có những mối liên hệ chỉ đặc trư ng cho một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng. Nhưng đồng thời có những mối liên hệ mang tính phổ quát cho mọi đối tư ợng của tồn tại, những mối liên hệ như vậy đ ược gọi là liên hệ phổ biến. Các mối li ên hệ giữa vai trò q ui định t ư cách tồn tại của sự vật hiện t ượng. Với một sự vật, hiện tượng có thể có vô lượng các mối liên h ệ khác nhau. Mối liên hệ đ ều có những vị trí và vai trò khác nhau trong việc quy định những tư cách tồn tại của các sự vật hiện t ượng (xét trong một đi ều kiện nhất định) Nguyên tắc toàn diện có nguồn gốc từ mối liên h ệ phổ b iến đ ựơc nhận thức và đ ược đ ể lên thành nguyên lý chỉ đ ạo phươ ng pháp hành đ ộng và suy nghĩ. Trong nền kinh tế không có một sự kiện kinh tế nào tồn tại trong trạng thái cô lập, tách rời những sự kiện khác mà luôn nằm trong mối liên h ệ với những sự kiện kinh tế khác. Thực tế cho thấy, giá cả thị tr ường của mỗi loại hàng hoá chỉ biểu hiện ra trong mối quan hệ với sự biến động cung - cầu về loại h àng hoá đó , trong mối quan h ệ với giá cả và các loại hàng hoá khác (tỉ giá với các loại hàng hoá b ổ sung). Cũng giống như sự tác động qua lại giữa cung cầu và giá cả trên thị trường hàng hoá, thị trư ờng vốn, thị trường lao động không tồn tại trong trạng thái cô lập và tách rời mà trong sự liên hệ tác động qua lại. Chẳng hạn nh ư mỗi sự biến động về giá cả trên thị trường vốn (lãi suất) kéo theo hàng lo ạt các sự biến động lan truyền trên các thị trường lao đ ộng, thị trường h àng hoá. Như chúng ta đa biết lai suất trên thị trường vốn giảm các d oanh nghiệp có c ơ hội mở rộng đầu tư, phát tri ển sản xuất làm cho giá c ả sức lao động, tiền công, tiền lương t ăng lên do đ ó giá cả trên thị trường hàng hoá 3
  4. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com cũng tăng lên. Nhận thức được mối liên h ệ giữa các sự kiện kinh tế n hưng vấn đề là ở chỗ chúng ta áp dụng nguy ên lý này để xem xét, từ đó đ ề ra đ ường lối chính sách trong việc tổ chức cơ cấu nền kinh tế như thế nào? b.Nguyên lý c ủa phép biện chứng duy vật về sự phát triển của sự vật, hiện tượng. Theo quan điểm của ch ủ nghĩa Mác - LêNin. Vận động là một khái niệm dùng đ ể chỉ mọi sự biến động nói chung. Mọi sự vật và hi ện tượng là một dạng của vật chất trong quá tr ình vận động và được đặc trưng bởi một hình th ức vận động nhất đ ịnh. Mọi sự vật sự kiện trong vũ trụ tồn tại trong quá trình không ngừng chuyển hoá từ dạng n ày sang d ạng khác, từ h ình th ức n ày sang hình thức khác. Bất kỳ một sự vận động n ào cũng bao hàm trong một xu hướng rất nhiều xuy ên su ốt quá trình từ qúa khứ đến hiện tại, đ ến tươ ng lai. Trên bình diện triết học, xu hướng vận động từ thấp đến cao, từ giản đơn đ ến phức tạp, ngày càng hoàn thiện và phát triển. Tuỳ theo các lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất mà sự phát triển thể hiện khác nhau mà n guồn của nó là sự liên h ệ, tác động lẫn n hau giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện tượng. Song không nên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra một cách giản đơn th ẳng tắp. Xét từng trường hợp cá biệt thì có những vận đ ộng đ i lên, tuần hoàn thậm chí đi xuống, nh ưng xét c ả quá trình trong phạm vi rộng lớn thì vận đ ộng đi lên là khuynh h ướng thống trị. Khái quát tình hình trên, phép biện chứng duy vật khẳng đ ịnh: phát triển là khuynh h ướng chung của sự vận động của sự vật, hiện tượng. Nguyên lý về sự phát triển chỉ cho chúng ta: Muốn thực sự nắm đư ợc bản chất của sự vật hiện tượng, nắm đư ợc khuynh hướng vận động của chúng phải có quan điểm phát triển. Quan điểm này yêu c ầu khi phân tích sự vật, hiện t ượng trong sự vận động, phải phát hiện các xu hư ớng biến đổi chuyển hoá của chú ng, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ. Nhưng trong quá trình phát triển ta phải hết sức chú ý đến việc kế thừa và sáng tạo những thành qu ả mà sự vật, hiện tượng trư ớc đã đạt đ ược.Phát triển 4
  5. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com không phải là vận đ ộng theo đư ờng thẳng mà chỉ là xu hư ớng vận động theo h ướng tiến lên. Đối với một nền kinh tế, xu hướng tăng trưởng tự vạch đ ường đi biểu hiện x uyên qua các thời đ iểm mà ở đ ó ta có thể nhận thấy hoặc là nó đang ở trạng thái tương đối ổn định (tổng cung = tổng cầu) hoặc l à trong trạng thái mở rộng p hát triển sản xuất (tổng cung < tổng cầu) hoặc l à trong trạng thái thu hẹp lại sự khủng hoảng và sang trạng thái (tổng cung > tổng cầu). Cứ mỗi khi nền kinh tế lâm vào th ời kỳ khủng hoảng, suy thoái nếu nó không đủ sức để vượt qua đ ến th ời kỳ hồi phục để tăng trưởng về sau thì nó sẽ bị đào thải và loại bỏ bằng một cuộc cách mạng xã hội hay đảo chính đ ể thiết lập một trật tự kinh tế mới. Vì vậy vận động bao hàm trong mình c ả sự đào thải, loại bỏ, nhưng phát triển từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phứ c tạp ngày càng phát triển hoàn thiện h ơn. Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao c ấp sang một nền kinh tế thị trư ờng có sự điều tiết của Nhà n ước cơ cấu nhiều th ành phần. Khuynh h ướng vận động và phát triển trở thành một quy luật tất yếu khách q uan trong mọi sự vật và hiện tượng. Đó là một đ iều không thể tránh khỏi và không xuất phát từ ý muốn chủ quan của con ngư ời dù sự vận động ấy có thể d iễn ra sớm hay muộn. 2Phân tích quan đ iểm toàn diện trên góc đ ộ kinh tế. Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đ a đề ra việc tiến hành đổi mới to àn d iện, trên mọi mặt của đời sống xa hội nhằm phát triển đ ất nứ ơc và c ũng nhờ đ ó chúng ta đ a đứng vững trước cuộc khủng hoảng của hệ thống chủ nghĩa xa h ội. Nước ta xuất phát từ một nước phổ biến là sản xuất nhỏ, lực lượng sản x uất phát triển không đều và do đó các thành phần kinh tế khác nhau c ùng tồn 5
  6. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com tại. Nếu đ ể phát triển tự phát trong nền kinh tế th ị tr ường th ì theo logic tự n hiên, nền kinh tế n ước ta sẽ đ i đến chủ nghĩa tư bản. Vì thế một vấn đ ề đặt ra là nền kinh tế nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xa hội của ta chỉ có phù h ợp với quá trình lịch sử tự nhiên hay không? Tại đ ại hội VII Đảng ta lại tiếp tục khẳng định công cuộc đ ổi mới đư ợc khởi xư ớng từ Đại hội VI, đồng thời cũng khẳng đ ịnh con đường phát triển của theo đ ịnh h ướng xa hội chủ nghĩa. Một trong những đổi mới quan trọng nhất là x ây d ựng một mô hình xa h ội với nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nh à n ước . Xét trên tổng thể xa hội, mỗi th ành ph ần kinh tế là một hệ thống có những p hương án kinh doanh riêng r ất khác nhau về nôị dung, chỉ ti êu và các bứơc đi đ ể thích ứng một cách nhanh nhạy, chính xác với mọi biến đổi về nhu cầu của x a hội. Do vậy mỗi thành ph ần kinh tế đều có một vị trí và vai trò riêng trong q uá trình phát triển kinh tế. Mặt khác, sức mạnh cá biệt của từng thành phần chỉ có thể phát huy đư ợc trong những điều kiện cụ thể, trong những lĩnh vực nhất định, nghĩa là n ếu chúng tồn tại b iệt lập th ì mỗi thành ph ần kinh tế không có khả năng khai thác có h iệu quả c ác nguồn nhân lực và tài lực ở từng ngành và từng vùng nh ất đ ịnh. Nhu c ầu khai thác triệt để mọi tiềm n ăng của đất nư ớc, gắn phát triển sản xuất với phát triển xa hội, gắn giải quyết việc làm ổn định và c ải thiện đ ời sống n hân dân vv... qui định sự hiệp tác giữa các thành phần kinh tế. ở đâu và khi nào còn tồn tại nhu cầu này thì quan hệ giữa các thành ph ần kinh tế c òn tồn tại. Toàn bộ những quan hệ này h ợp thành cấu trúc của hệ thống kinh tế nhiều thành phần mà nên tách khỏi hệ thống sẽ không hiểu được vị trí và vai trò riêng của từng thành phần. Vì thế quan hệ giữa các thành phần kinh tế là quan hệ phổ biến mà sự phát triển của những quan hệ đó mà quá trình t ừng bứơc xa hội hoá sự phát triển của lực lượng sản xuất. 6
  7. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com Quá trình xa hội hoá của các lực lượng sản xuất luôn luôn diễn ra trong cơ ch ế thị trường. Cơ ch ế thị trường định hướng quan hệ giữa các th ành ph ần kinh tế cả trong quan hệ quốc gia lần trong quan hệ quốc tế theo nguy ên tắc các bên cùng có lợi. Nguyên tắc n ày là nguyên tắc hoạt động của các thành phần kinh tế trong q uá trình hợp tác. Việc thực hiện nguyên tắc này làm cho những ưu th ế riêng c ủa các thành p hần kinh tế trong việc phát triển lực l ượng sản xuất đều được phát huy. Các thành phần một mặt vừa kết hợp với nhau, vừa bổ sung cho nhauvà do đó gắn y ếu tố truyền thống đahát tri ển khác nhau của lực lượng sản xuất tạo thành “Lực lư ợng sản xuất mới” kết hợp sự biến đổi về lư ợng với sự thay đ ổi về chất làm cho các thành phần kinh tế c ùng tồn tại và phát triển. Mặt khác , cơ chế thị trường với sự tác động của quy luật giá trị, qui luật cung - cầu buộc các thành p hần kinh tế trong kinh daonh cạnh tranh với nhau quyết liệt và kết quả là d ẫn đ ến sự phát triển của sản xuất, đổi mới công nghệ đư a khoa h ọc kỹ thuật vào sản xuất, góp phần xây dựng c ơ sở vật chất - kỹ thuật của to àn xa hội. Trong cạnh tranh, thành phần kinh tế nào có cơ chế hoạt động thích hợp sẽ có nhịp độ p hát triển nhanh hơn, tạo th ành sự phát triển không đều, đặc biệt ở những vùng và nh ững ngành có quan hệ trực tiếp với thị trường thế giới thì sự phát triển của các thành phần kinh tế đó sẽ diễn ra với tốc đ ộ nhanh chóng, tạo thành các bư ớc n hảy vọt về chất, phá vỡ tính cân bằng chính thể. Đó chính là nguyên nhân đ ưa đ ến các cuộc khủng hoảng. Vì vâỵ, xuất hiện nhu cầu điều chỉnh tự giác nền kinh tế nhiều thành ph ần hoạt đ ộng theo cơ chế thị trư ờng nhằm đảm bảo khai thác và phát triển toàn bộ những n ăng lực sản xuất hiện có. Nhà n ước với tư cách là người đ ại diện cho mục tiêu phát triển chung của toàn h ệ thống kinh tế phải đó ng vai trò chủ đ ạo trong việc điều tiết nền kinh tế trên tầm vĩ mô, bảo đảm tỷ lệ phát triển cân đối và nhịp nhàng giữa các thành p hần kinh tế - xa h ội. 7

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản