Phong trào công
nhân
Phong trào công nhân giai đoạn này đã có thêm
những điều kiện mới. Về số lượng, đội ngũ công
nhân được bổ sung tmn 12 vạn người. Về
chất lượng, sau chiến tranh nhiều thủy thủ,
línhthợ được hồi hương; trong hành trang nghèo
khó của mình mang về nước cả những hiểu biết
mới, tư tưởng mới và cả những kinh nghiệm tổ
chức và đấu tranh của giai cấp công nhân châu
Âu.
Phong trào công nhân giai đoạn này đã có thêm
những điều kiện mới. Về số ợng, đội ngũ công
nhân được bổ sung thêm hơn 12 vạn người. Về chất
lượng, sau chiến tranh nhiều thủy thủ, línhthợ được
hồi hương; trong hành trang nghèo khó của mình
mang về nước có cả những hiểu biết mới, tư tưởng
mới và cả những kinh nghiệm tổ chức và đấu tranh
của giai cấp công nhân châu Âu. Trong khi đó, cuộc
sống của họ càng trở nên cùng qu
ẫn. Những điều kiện
đó đã thôI thúc họ đứng dậy đấu tranh. Những hình
thức đấu tranh thấp như: bỏ việc, phá giao kèo vẫn
được tiếp tục, nhưng công nhân cũng đã sử dụng
thường xuyên hơn hình thức đấu tranh đặc thù là bãi
công. Theo thng kê của chính quyền thực dân, từ
1920-1925 đã nra 25 cuộc bãi công, tiêu biểu có
những sự kiện sau :
- Năm 1919 nổ ra cuộc bãi công của thủy thủ tàu
Sácnô đang đậu ở cảng Hải Phòng đòi tăng lương và
phản đối việc đưa lính Việt Nam sang đàn áp nhân
dân Xyri.
- Năm 1920, hơn 200 thủy thủ của 5 chiếc tàu Pháp
đang buông neo ở cảng Sài Gòn đã bãi công đòi ph
cấp đắt đỏ.
- Năm 1921 , Liên đoàn công nhân tàu biển Viễn
Đông được thành lập và tổ chức được nhiều cơ sở ở
Ma Cao, Thượng Hải (Trung Quốc). Công nhân Vit
Namm việc trên các hãng tàu của Pháp đã gia nhập
tổ chức này. Họ đã góp phần đưa đón cán bộ, tài liệu
cách mng từ nước ngoài về nước.
Từ năm 1922, phong trào công nhân có bước phát
triển mi. Trước hết là cuộc đấu tranh của 600 công
nhân nhum i Gòn - Chợ Lớn. Nét mi ở cuộc đấu
tranh nàysự tập hợp đông đảo thợ nhuộm của
nhiều cơ sở nhuộm trên đất Sài Gòn - ChLớn. Vì
thế, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá cuộc bãi công đó
như là "dấu hiệu của thời đại mới". Tiếp đó, 3 cuộc
đấu tranh của công nhân 3 nhà máy dệt trên 3 địa bàn
khác nhau là Hải Dương, Hà Nội và Nam Định, ở
những thời điểm khác nhau, nhưng cùng theo đuổi
mt mục đích : đòi tng cổn đốc công tàn ác. Tiêu
biểu nhất cho phong trào công nhân giai đoạn này là
cuộc bãi công của 1000 công nhân xưởng Ba Son
(Sài Gòn) tháng 8-1925. Cuộc bãi công này gắn liền
với sự tổ chức và lãnh đạo của Công hội do Tôn Đức
Thắng thành lập. Mục đích cuộc bãi công này của
công nhân Ba Son là làm chm việc sửa chữa chiếc
tàu Misơlê (Michelet) mà thực dân Pháp dùng ch
lính sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc.
Ngày 4-8-1925, cuc bãi công nổ ra với yêu sách
"tăng 20% lương, đưa số thợ bị đuổi trở lại làm việc
và giữ lệ nghỉ 30 phút vào ngày lãnh lương". Để đm
bảo thắng lợi, ban lãnh đạo Công hội đã vận động
công nhân, viên chức trong thành ph
ủng hộ vật chất
và tinh thần cho công nhân Ba Son. Sau 8 ngày đấu
tranh, cuộc bãi công đã giành được thắng lợi. Ngày
12-8 công nhân tr lại làm vic, nhưng tiếp lục lãn
công làm chậm việc sửa chữa tàu Misơlê đến tháng 1
1-1925 mới xong.
Như vậy, cuộc bãi công Ba Son tháng 8-1925 là cuộc
đấu tranh đầu tiên có t chức và lãnh đạo. Hơn thế
nữa, cuộc đấu tranh không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế
mà còn nhm vào mục đích chính trị thể hiện tình
đoàn kết vô sản quốc tế ca công nhân Việt Nam.
Với tính chất đó, cuộc bãi công Ba Son vạch một
mốc lớn trong phong trào công nhân Vit Nam - giai
cấp công nhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có
tổ chức và mục đích chính trị rõ ràng.
Ngun:Nguyn Quang Ngọc 2006, Chương IX
Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến
năm 1930, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội,
Giáo Dục, Tr.260 – 262.