intTypePromotion=1

PHƯƠNG THỨC THAY THẾ THỨC ĂN CHẾ BIẾN TRONG ƯƠNG CÁ LÓC ĐEN (Channa striata)

Chia sẻ: Truong Dinh TAM | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
108
lượt xem
14
download

PHƯƠNG THỨC THAY THẾ THỨC ĂN CHẾ BIẾN TRONG ƯƠNG CÁ LÓC ĐEN (Channa striata)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cá lóc đen (Channa striata) là loài cá dữ, ăn thịt, phân bố tự nhiên trên sông, kênh, rạch, đồng ruộng… Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cá lóc đen có thể nuôi thâm canh trong ao và bè đều đạt năng suất cao. Ngoài tự nhiên cá lóc đen ăn các động vật sống như cá, tép, nhái… nhưng khi nuôi trong ao và bè chúng có thể sử dụng được các loại thức ăn như tấm, cám, thức ăn viên, cá tạp…

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: PHƯƠNG THỨC THAY THẾ THỨC ĂN CHẾ BIẾN TRONG ƯƠNG CÁ LÓC ĐEN (Channa striata)

  1. PHƯƠNG TH C THAY TH TH C ĂN CH BI N TRONG ƯƠNG CÁ LÓC EN (Channa striata)
  2. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ PHƯƠNG THỨC THAY THẾ THỨC ĂN CHẾ BIẾN TRONG ƯƠNG CÁ LÓC ĐEN (Channa striata) Trần Thị Thanh Hiền1, Ngô Minh Dung1, Bùi Minh Tâm1 ABSTRACT Study on artificial food weaning for snakehead murrel (Channa striata) larvae was conducted with 2 experiments. The first experiment was set up to determine the period of time and methods for effectively weaning artificial food in rearing snakehead murrel larvae. The experiment was set up with 7 diet treatments. In the control treatment using live food (Moina and trash fish). In the other diet treatments differed from the time weaning artificial food (10, 17 and 24 after hatching day) and weaning methods (10% or 20% amount of artificial food increase per day). After 5 weeks, the results showed that the best survival and specific growth rate of fry fish were achieved for those weaned artificial food at 17 after hatching day with the replacing method which increased 10% amount of artificial food per day (64,7% and 8,89%/day). The second experiment included 4 diet treatments. The control treatment, fish was fed feed without attractant supplementation. The treatments (2, 3 and 4) were fed diets adding 2% fish protein hydrolysate, 2% squid liver oil or 2% earthworm liquid, respectively. Results after 4 weeks experiment showed that fish protein hydrolysate supplied as attractants had significantly higher survival rate (79,3%) and specific growth rate (8,89%/ngày) compared to the other diet treatments. Keywords: Channa striata, artificial food, attractant Title: Weaning methods for artificial food in rearing snakehead murrel (Channa striata) larvae TÓM TẮT Nghiên cứu về phương thức tập ăn thức ăn thức ăn chế biến trong ương cá lóc đen được thực hiện ở 2 thí nghiệm. Thí nghiệm thứ nhất nhằm xác định thời điểm và phương thức thay thế hiệu quả thức ăn chế biến của cá lóc đen bột gồm 7 nghiệm thức (3 lần lặp lại). Nghiệm thức đối chứng sử dụng hoàn toàn thức ăn tự nhiên. Các nghiệm thức còn lại khác nhau về thời gian bắt đầu tập ăn thức ăn chế biến (10, 17 và 24 ngày tuổi) và phương thức tập ăn (tăng dần 10% hoặc 20% thức ăn chế biến/ngày). Kết quả cho thấy, sau 5 tuần thí nghiệm, tỉ lệ sống và tăng trưởng của cá đạt tốt nhất khi tập ăn thức ăn chế biến ở 17 ngày tuổi với phương thức thay thế 10% thức ăn chế biến/ngày 1 Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ 381
  3. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ (64,7% và 9,64%/ngày). Thí nghiệm 2, các nghiệm thức thức ăn có bổ sung các chất dẫn dụ khác nhau nhằm so sánh ảnh hưởng của các chất dẫn dụ khác nhau lên hiệu quả sử dụng thức ăn chế biến của cá bột. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức. Nghiệm thức đối chứng không bổ sung chất dẫn dụ, các nghiệm thức còn lại lần lượt được bổ sung 2% dịch cá thủy phân, 2% dầu gan mực hoặc 2% dịch trùn quế. Kết quả sau 4 tuần thí nghiệm cho thấy dịch cá thuỷ phân là chất dẫn dụ kích thích bắt mồi hiệu quả nhất, cho tỉ lệ sống (79,3%) và tăng trưởng (8,89%/ngày) cao nhất. Từ khóa: cá lóc đen, thức ăn chế biến, chất dẫn dụ 1 GIỚI THIỆU Cá lóc đen (Channa striata) là loài cá dữ, ăn thịt, phân bố tự nhiên trên sông, kênh, rạch, đồng ruộng… Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cá lóc đen có thể nuôi thâm canh trong ao và bè đều đạt năng suất cao. Ngoài tự nhiên cá lóc đen ăn các động vật sống như cá, tép, nhái… nhưng khi nuôi trong ao và bè chúng có thể sử dụng được các loại thức ăn như tấm, cám, thức ăn viên, cá tạp… Hiện nay, cá lóc đen chủ yếu được nuôi bằng thức ăn tươi sống (cá tạp nguyên con hay xay nhỏ). Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá nước ngọt, đặc biệt là các loài cá dữ, chất lượng thịt ngon đang phát triển mạnh đã làm gia tăng đáng kể nhu cầu cá tạp. Năm 2008 riêng tỉnh An Giang lượng cá tạp sử dụng trong nuôi cá lóc đã là 67.056 tấn, có 38 loài cá nước ngọt được sử dụng, trong đó hơn 50% là các loài cá kinh tế (Phan Hồng Cương, 2009). Việc sử dụng chủ yếu cá tạp trong nuôi cá lóc dẫn đến việc phụ thuộc của nghề nuôi vào nguồn cá tạp, chất lượng cá tạp, giá cá tạp cung cấp. Ở Việt Nam, cá lóc nói chung và cá lóc đen nói riêng khi nuôi trong ao bè đều có khả năng sử dụng thức ăn chế biến. Trong nghiên cứu cũng như ngoài thực tế, việc chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn nhân tạo được thực hiện càng sớm càng tốt nếu nó không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và tăng trưởng của cá bột. Nếu cá sử dụng tốt thức ăn nhân tạo thì sẽ hạn chế được bệnh lây nhiễm qua thức ăn tự nhiên, giảm chi phí và chủ động được nguồn thức ăn trong ương nuôi (Nguyễn Văn Triều và ctv., 2008). Tuy nhiên thời điểm và phương thức tập ăn thức ăn chế biến của cá bột cũng khác nhau tuỳ theo loài. Do vậy mục tiêu của nghiên cứu này là tìm thời điểm và phương thức thích hợp khi chuyển đổi từ thức ăn tươi sống sang thức ăn chế biến cho cá lóc đen bột nhằm góp phần hạn chế việc sử dụng cá tạp trong ương nuôi cá lóc đen. 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu phương thức tập ăn thức ăn chế biến cho cá lóc bột được tiến hành tại trai thực nghiệm – Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ. Nghiên cứu được thực hiện với 2 thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong bể composit thể tích 100 lít/bể, mật độ 100 con/bể. 382
  4. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ 2.1 Thí nghiệm 1: Xác định thời điểm và phương thức thay thế hiệu quả thức ăn chế biến của cá lóc đen giai đoạn bột Nghiên cứu được thực hiện trên cá lóc đen bột 10 ngày tuổi. Thời gian thí nghiệm là 5 tuần. Gồm 7 nghiệm thức (3 lần lặp lại): nghiệm thức đối chứng cho ăn hoàn toàn thức ăn tươi sống (Moina và cá tạp); Các nghiệm thức còn lại khác nhau về thời gian bắt đầu cho ăn thức ăn chế biến (10, 17 và 24 ngày tuổi) và phương thức tập ăn (thay thế tăng dần Moina (cá tạp) bằng thức ăn chế biến, tỉ lệ 10% hoặc 20% TACB/ngày). Các nghiệm thức chưa đến thời điểm cho ăn thức ăn chế biến sẽ được cho ăn như nghiệm thức đối chứng. Thức ăn chế biến có hàm lượng protein là 50%, lipid 12% được phới chế từ các nguồn nguyên liệu tinh như: bột cá, bột đậu nành, cám, bột mì và các chất bổ sung khác, được phối chế thành viên mảnh 0,1-0,2 mm Ngày tuổi 5 10 17 24 31 38 45 Đối chứng 10 ngày tuổi 10% TĂCB/ngày 10 ngày tuổi 20% TĂCB/ngày Nghiệm thức 17 ngày tuổi 10% TĂCB/ngày 17 ngày tuổi 20% TĂCB/ngày 24 ngày tuổi 10% TĂCB/ngày 24 ngày tuổi 20% TĂCB/ngày Ghi chú: Moina Cá tạp Thức ăn chế biến Hình 1: Thời điểm và phương thức tập ăn của các nghiệm thức trong thí nghiệm 1 2.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất dẫn dụ khác nhau lên hiệu quả sử dụng thức ăn chế biến của cá lóc đen giai đoạn bột Cá bột được tập ăn thức ăn chế biến ở thời điểm thích hợp và phương thức hiệu quả nhất (kết quả của thí nghiệm 1) với các nghiệm thức thức ăn chế biến có bổ 383
  5. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ sung các chất dẫn dụ khác nhau. Thời gian thí nghiệm là 4 tuần. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (3 lần lặp lại). Nghiệm thức thức ăn đối chứng không bổ sung chất dẫn dụ, các nghiệm thức thức ăn còn lại lần lượt được bổ sung 2% dịch cá thủy phân, 2% dầu gan mực hoặc 2% dịch trùn quế. 2.3 Quản lý thí nghiệm và ghi nhận kết quả Cá được cho ăn theo nhu cầu, 4 lần/ngày. Hằng ngày theo dõi, ghi nhận các hoạt động ăn, bơi lội, bắt mồi của cá và đếm số cá chết. Thức ăn thừa và phân cá được siphon 2 lần/ngày. Các bể thí nghiệm có sục khí và nước chảy tràn liên tục. Trong suốt thời gian thí nghiệm các yếu tố môi trường đều được duy trì phù hợp với điều kiện sinh trưởng của cá. Mẫu cá được cân 100 con ngẫu nhiên để xác định trọng lượng ban đầu. Thu mẫu cuối đợt thí nghiệm bằng cách cân từng con. Ghi nhận khối lượng và tỉ lệ sống của cá ở mỗi bể thí nghiệm. Các chỉ tiêu thành phần hóa học của thức ăn gồm ẩm độ, đạm thô, chất béo thô, bột đường, chất tro được phân tích trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp của AOAC (2000). Khối lượng cá ban đầu (Wi) được xác định khi bố trí thí nghiệm. Tỷ lệ sống (SR), khối lượng cuối (Wf), khối lượng gia tăng (Wg), tăng trưởng tuyệt đối DWG (g/ngày), được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích Anova, tìm sự khác biệt giữa các trung bình nghiệm thức bằng phép thử Duncan sử dụng phần mềm SPSS. 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Xác định thời điểm và phương thức thay thế hiệu quả thức ăn chế biến của cá lóc đen giai đoạn bột 3.1.1 Tỉ lệ sống Sau 5 tuần thí nghiệm, tỉ lệ sống của cá có sự khác nhau theo ngày tuổi tập ăn lẫn phương thức tập ăn của các nghiệm thức (Hình 2). 80 Đôi chưng ́ ́ 70 a a a a a 10% TĂCB/nga y ̀ ab 20% TĂCB/nga y ̀ 60 b R ) T̉i lê sô g - S (% 50 40 ̣ ́n 30 c 20 10 d 0 10 ngay tuôi ̀ ̉ 17 ngay tuôi ̀ ̉ 24 ngay tuôi ̀ ̉ Thơi điêm tâp ăn ̀ ̉ ̣ Hình 2: Tỉ lệ sống (%) của cá lóc đen bột sử dụng thức ăn chế biến ở các thời điểm và phương thức tập ăn khác nhau sau 5 tuần thí nghiệm 384
  6. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ Nghiệm thức 10 ngày tuổi có tỉ lệ sống thấp nhất (15,3% và 2,33%) và thấp hơn có ý nghĩa (p
  7. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ ăn là cá tạp, đây là loại thức ăn thích hợp với loài nên hiện tượng ăn nhau xảy ra ít hơn so với những nghiệm thức còn lại. Tập ăn ở ngày tuổi thứ 10 cho tỉ lệ ăn nhau cao nhất (79% và 93,3%) và cao hơn có ý nghĩa (p0,05) giữa các nghiệm thức này. Có thể thấy tại thời điểm 17 và 24 ngày tuổi, cá bột được cho ăn cá tạp xay từ 1-2 tuần trước khi tập ăn thức ăn chế biến, cá tạp là thức ăn phù hợp của loài trong giai đoạn này nên cá có thể tiêu hóa dễ dàng đồng thời trong thời gian này hệ thống tiêu hóa của cá cũng hoàn thiện hơn để sẵn sàng chấp nhận thức ăn chế biến, từ đó sẽ hạn chế được hiện tượng ăn nhau trong quá trình tập ăn thức ăn chế biến. Một số nghiên cứu trước đây cũng đã chứng minh rằng thức ăn chế biến chỉ được cá bột chấp nhận sau vài tuần sử dụng thức ăn tươi sống (Person-Lê Ruyet et al., 1993; Fernandez-Diaz và Yufera, 1997). Các nghiệm thức được tập ăn thức ăn chế biến trong cùng một thời điểm thì phương thức thay thế 20% TĂCB/ngày luôn có tỉ lệ ăn nhau cao hơn so với tỉ lệ 10% TĂCB/ngày. Điều này cho thấy tỉ lệ thay thế 10% TĂCB/ngày giúp cá tập dần với thức ăn chế biến tốt hơn từ đó khả năng sử dụng và chấp nhận thức ăn cũng cao hơn do đó sẽ hạn chế được hiện tượng ăn nhau giữa các cá thể trong đàn. Ngược lại tập ăn ở giai đoạn sớm đồng thời với phương thức chuyển đổi nhanh sẽ càng làm gia tăng tỉ lệ ăn nhau. 3.1.2 Tăng trưởng Tăng trưởng của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức tập ăn lúc 10 ngày tuổi-20% TĂCB/ngày (3,18 g; 0,091 g/ngày và 12,4%/ngày) và cao hơn có ý nghĩa (p0,05) với nhau (Bảng 1). Kết quả này cho thấy tăng trưởng của cá bột khi sử dụng thức ăn chế biến không bị ảnh hưởng so với sử dụng cá tạp. 386
  8. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ Bảng 1: Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc đen bột sử dụng thức ăn chế biến ở các thời điểm và phương thức tập ăn khác nhau trước và sau 5 tuần thí nghiệm Nghiệm thức Wi (g) Wf (g) WG (g) DWG SGR (g/ngày) (%/ngày) Đối chứng 0,04 1,36±0,47b 1,32±0,47b 0,038±0,01b 9,97±0,92b 10 ngày tuổi-10% TĂCB 0,04 1,43±0,66b 1,39±0,66b 0,04±0,02b 10,04±1,23b 10 ngày tuổi-20% TĂCB 0,04 3,22±1,27a 3,18±1,27a 0,091±0,04a 12,4±1,13a 17 ngày tuổi-10% TĂCB 0,04 1,17±0,07b 1,13±0,07b 0,032±0b 9,64±0,17bc 17 ngày tuổi-20% TĂCB 0,04 0,73±0,18b 0,69±0,18b 0,02±0,01b 8,24±0,68c 24 ngày tuổi-10% TĂCB 0,04 1,25±0,3b 1,21±0,3b 0,035±0,01b 9,79±0,67b 24 ngày tuổi-20% TĂCB 0,04 1,26±0,07b 1,22±0,07b 0,035±0b 9,85±0,17b Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn. So với một số nghiên cứu khác, tăng trưởng SGR của cá lóc đen trong thí nghiệm cao hơn so với thí nghiệm của Bùi Minh Tâm et al. (2004) trên cùng đối tượng đã có SGR là 6,1%/ngày khi tập ăn ở 15 ngày tuổi và cũng cao hơn so với cá móp (Centropomus parallelus) khi tập ăn từ ngày tuổi thứ 35 nhưng SGR chỉ đạt 5,53%/ngày (Alves et al., 2006). Qua các kết quả về tăng trưởng, tỉ lệ sống và tỉ lệ ăn nhau có thể thấy rằng nghiệm thức 10 ngày tuổi-20% TĂCB/ngày có thời điểm tập ăn sớm nhất và tỉ lệ thay thế TĂCB/ngày cao đã có tỉ lệ sống thấp nhất và tỉ lệ ăn nhau cao nhất nhưng lại có tăng trưởng cao nhất và cao hơn có ý nghĩa (p
  9. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ cạnh đó trong thời gian cho ăn kết hợp việc tăng dần TĂCB/ngày với tỉ lệ thấp (10% TĂCB/ngày) sẽ giúp cá bột thích nghi với thức ăn chế biến tốt hơn. Cá lóc đen bột trong thí nghiệm có thể sử dụng thức ăn chế biến ở thời điểm 17 ngày tuổi với phương thức thay thế 10% TĂCB/ngày mà không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và tăng trưởng của cá. Thời điểm này là sớm hơn so với báo cáo của Quin et al. (1997) cũng trên cá lóc đen là 30 ngày tuổi. Tuy nhiên khi so sánh với các loài cá nước ngọt khác, cá lóc đen có thời điểm tập ăn muộn hơn so với cá lóc bông (Channa micropeltes) và cá kết (Micronema bleekeri) là 7 ngày tuổi (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004; Nguyễn Văn Triều và ctv., 2008), trên cá trê phi (Clarias gariepinus) và cá trê vàng (Clarias macrocephalus) là 4 ngày tuổi (Verreth và Tongeren, 1989; Fermin và Bolivar, 1991; Olurin và Oluwo, 2010) và cá basa (Pangasius bocourti) là 5 ngày tuổi (Le Thanh Hung et al., 2002). Điều này cho thấy cá lóc đen phát triển chức năng hệ tiêu hóa muộn hơn so với các loài trên, đây là một trong những lý do giải thích tại sao loài này có thời điểm tập ăn muộn hơn so với một số loài cá nước ngọt khác. 3.2 Ảnh hưởng của các chất dẫn dụ khác nhau lên hiệu quả sử dụng thức ăn chế biến của cá lóc đen giai đoạn bột 3.2.1 Tỉ lệ sống Sau 4 tuần thí nghiệm, nghiệm thức đối chứng (không bổ sung chất dẫn dụ) có tỉ lệ sống thấp nhất (61%) và thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p0,05) với nhau và cao hơn có ý nghĩa (p
  10. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ 90 a 80 a a 70 b R ) T lê sô g - S (% 60 50 i ̣ ́n 40 30 ̉ 20 10 0 Đôi chưng ́ ́ Dị ch ca ́ Dâu mưc ̀ ̣ Dị ch trun quê ̀ ́ Nghiê m thư c ̣ ́ Hình 4: Tỉ lệ sống (%) của cá lóc đen bột sử dụng thức ăn chế biến có bổ sung các chất dẫn dụ khác nhau sau 4 tuần thí nghiệm. Ở các nghiệm thức sử dụng chất dẫn dụ thì dịch cá thủy phân cho tỉ lệ sống cao nhất (79,3%). Theo Kotzamanis et al., (2007) việc bổ sung protein thủy phân vào khẩu phần ăn ngoài việc đóng vai trò như chất dẫn dụ, protein thủy phân cũng bổ sung thêm các acid amin thiết yếu cho cá bột nhất là ở giai đoạn tập ăn thức ăn nhân tạo, các acid amin này có thể thay thế các acid amin có trong thức ăn tươi sống của loài. Một số nghiên cứu khác đã chứng minh rằng việc đưa dịch cá thủy phân vào thức ăn nhân tạo còn được xem là phương pháp khắc phục khả năng tiêu hoá kém của cá bột (Dabrowski, 1984; Govoni et al., 1986). Kết quả của thí nghiệm tương tự với các nghiên cứu trên cá bơn (Solea solea) (Day et al., 2008) và cá chẽm (Dicentrarchus labrax) (Kotzamanis et al., 2007) đều có tỉ lệ sống được cải thiện khi bổ sung dịch cá thủy phân vào khẩu phần ăn của cá. 3.2.2 Tăng trưởng Bảng 2 : Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc đen bột sử dụng thức ăn chế biến có bổ sung các chất dẫn dụ khác nhau trước và sau 4 tuần thí nghiệm Nghiệm thức Wi (g) Wf (g) WG (g) DWG (g/ngày) SGR (%/ngày) Đối chứng 0,16 1,15±0,04d 0,99±0,04d 0,035±0,001d 7,03±0,11d Dịch cá thủy phân 0,16 1,98±0,03a 1,82±0,03a 0,065±0,001a 8,98±0,05a Dầu gan mực 0,16 1,76±0,03b 1,60±0,03b 0,057±0,001b 8,56±0,06b Dịch trùn quế 0,16 1,67±0,03c 1,51±0,03c 0,054±0,001c 8,38±0,07c Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn 389
  11. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ Kết quả về tăng trưởng cho thấy nghiệm thức đối chứng có tăng trọng (WG) và tăng trưởng SGR thấp nhất (lần lượt là 0,99 g và 7,03%/ngày) và thấp hơn có ý nghĩa (p
  12. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ 30 25 a i ̣ n hu ) T lê ă n a (% 20 b 15 bc 10 ̉ c 5 0 Đôi chưng ́ ́ Dị ch ca ́ Dâu mưc ̀ ̣ Dị ch trun quê ̀ ́ Nghiê m thư c ̣ ́ Hình 5: Tỉ lệ ăn nhau (%) của cá lóc đen bột sử dụng thức ăn chế biến có bổ sung các chất dẫn dụ khác nhau sau 4 tuần thí nghiệm Cá lóc là loài cá dữ, nếu thức ăn không hấp dẫn được cá thì chúng sẽ tấn công những cá thể nhỏ hơn trong quần đàn. Kết quả thí nghiệm cho thấy việc bổ sung chất dẫn dụ đã hạn chế được hiện tượng ăn nhau trong quần đàn, trong đó dịch cá thủy phân thể hiện khả năng nâng cao tính hấp dẫn của thức ăn tốt nhất. Theo Papatryphon và Soares (2000), chất dẫn dụ đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn sử dụng thức ăn nhân tạo cho cá bột và trong khẩu phần ăn có vị ngon kém. Sử dụng chất dẫn dụ có thể làm tăng vị ngon của thức ăn khi thức ăn không thể kích thích khả năng bắt mồi của cá (Xue và Cui, 2001). Một số báo cáo khác cũng có kết luận tương tự như trên cá chẽm (Dicentrarchus labrax) dịch cá thủy phân đã tạo điều kiện cho quá trình tập ăn của cá được dễ dàng hơn (Cahu et al., 1999), trên cá vàng (Carassius auratus gibelio) (Xue và Cui, 2001) và trên cá hồi (Salmo salar) (Toften et al., 1995) dầu gan mực có tác dụng kích thích khả năng bắt mồi mạnh mẽ. 4 KẾT LUẬN Thức ăn chế biến có thể sử dụng ương cá lóc đen từ ngày tuổi thứ 17. Tập ăn cho cá bột bằng cách cho ăn kết hợp với tỉ lệ tăng dần 10% TĂCB/ngày cho hiệu quả cao hơn so với tỉ lệ 20% TĂCB/ngày. Thức ăn chế biến có bổ sung các chất dẫn dụ sẽ cải thiện tỉ lệ sống và tăng trưởng cho cá bột, trong đó dịch cá thủy phân là chất dẫn dụ hiệu quả nhất trong thời gian tập ăn thức ăn chế biến của cá lóc đen bột. 391
  13. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ TÀI LIỆU THAM KHẢO Aksnes, A., B. Hope, O. Hostmark and S. Albrektsen, 2006. Inclusion of size fractionated fish hydrolysate in high plant protein diets for Atlantic cod, Gadus morhua. Aquaculture, 261: 1102-1110. Alves Jr., T. T, V. R. Cerqueira and J. A. Brown, 2006. Early weaning of fatsnook (Centropomus parallelus Poey 1864) larvae. Aquaculture, 253: 334-342. Appelbaum, S and P. Van Damme, 1988. The feasibility of using exclusively artificial fry feed for the rearing of Israeli Clarias gariepinus (Burchell, 1822) larvae and fry. J. Appl. Ichthyol, 4: 105-110. Berge, G. M. and T. Storebakken, 1996. Fish protein hydrolyzate in starter diets for Atlantic salmon (Salmo salar) fry. Aquaculture, 145: 205-212. Bui Minh Tam, A. B. Abol-Munafi, M. A. Ambak and P. Ismail, 2004. Effect of different diets on growth and survival rates of snakehead (Channa striata, Bloch 1797) larvae. Korean J Biol Sci, 8: 313-317. Cahu, C. L., J.L. Z. Infante, P. Quazuguel and M.M. L. Gall, 1999. Protein hydrolysate vs. fish meal in compound diets for 10-day old sea bass Dicentrarchus labrax larvae. Aquaculture, 171: 109-119. Cuvier-Péres, A. and P. Kestemont, 2002. Development of sovme digestive enzymes in Eurasian perch larvae Perca fluviatilis. Fish Physiology and Biochemistry, 24 : 279-285. Dabrowski, K., 1984. The feeding of fish larvae: present state of the art and perspectives. Reprod. Nutr. Dév, 24: 807-833. Day, O.J., B.R. Howell and D.A. Jones, 2008. The effect of dietary hydrolyzed fish protein concentrate on the survival and growth of juvenile Dover sole, Solea solea (L.), during and after weaning. Aquaculture Research, 28: 911- 921. Espe, M., H. Sveier, I. Hogoy and E. Lied, 1999. Nutrient absorption and growth of Atlantic salmon (Salmo salar L.) fed fish protein concentrate. Aquaculture, 174: 119–137 Fermin, A.C. and M.E.C. Bolivar, 1991. Larvae rearing of the Philippine freshwater catfish, Clarias macrocephalus (alternative Gunther) fed live zooplankton and artificial diet: a preliminary study. Bamidgeh, 43: 87-94. Fernandez-Diaz, C. and M. Yufera, 1997. Detecting growth in gilthead seabream Sparus aurata L. larvae fed microcapsules. Aquaculture, 134: 269-278. Gomes, E., J. Dias and S.J. Kaushik, 1997. Improvement of feed intake through supplementation with an attractant mix in European sea bass fed plant protein rich diets. Aquat. Living Resour, 10: 385–389. Govoni, J.J., G.W. Boehlert, and Y. Watanabe, 1986. The physiology of digestion in fish larvae. Environmental Biology of Fishes, 16: 59–77. Kestemont, P., X. Xueliang, N. Hamza, J. Maboudou and I. I. Toko, 2007. Effect of weaning age and diet on pikeperch larviculture. Aquaculture, 264: 197 – 204. 392
  14. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ Kotzamanis, Y. P., E. Gisbert, F. J. Gatesoupe, J. Z. Infante and C. Cahu, 2007. Effects of different dietary levels of fish protein hydrolysates on growth, digestive enzymes, gut microbiota, and resistance to Vibrio anguillarum in European sea bass (Dicentrarchus labrax) larvae. Comparative Biochemistry and Physiology, part A 147: 205–214 Le Thanh Hung, Nguyen Anh Tuan, P. Cacot and J. Lazard, 2002. Larval rearing of the Asian Catfish, Pangasius bocourti (Siluroidei, Pangasiidae): alternative feeds and weaning time. Aquaculture, 212: 115–127. Liang, M., J. Wang, Q. Chang and K. Mai, 2006. Effects of different levels of fish protein hydrolysate in the diet on the nonspecific immunity of Japanese sea bass, Lateolabrax japonicus (Cuvieret Valenciennes, 1928). Aquaculture Research, 37: 102–106. Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004. Nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes). Luận văn Thạc sĩ. Khoa Thủy sản. Đại học Cần Thơ. Nguyễn Văn Triều, Dương Nhật Long và Nguyễn Anh Tuấn, 2008. Nghiên cứu ương giống cá kết (Micronema bleekeri) bằng các loại thức ăn khác nhau. Tạp chí khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 2008 (2): 67-75. Oliva-Teles, A., A.L. Cerqueira and P. Gonc-alves, 1999. The utilization of diets containing high levels of fish protein hydrolysate by turbot (Scophthalamus maximus) juveniles. Aquaculture, 179: 195-201. Olurin, K.B. and A.B. Oluwo, 2010. Growth and Survival of African Catfish (Clarias gariepinus) Larvae Fed Decapsulated Artemia, Live Daphnia, or Commercial Starter Diet. The Israeli Journal of Aquaculture-Bamidgeh, 62: 50-55 Papatryphon, E and J. H. Soares, 2000. The effect of dietary feeding stimulants on growth performance of striped bass, Morone saxatilis, fed-a-plant feedstuff- based diet. Aquaculture, 185: 329-338 Person Le Ruyet, J., J.C. Alexandre, L. Thebaud and C. Mugnier, 1993. Marine fish larvae: feeding formulated diets or live preys? J. World Aquac. Soc., 24: 211-224. Phan Hồng Cương, 2009. Tình hình sử dụng cá tạp và khả năng sử dụng bột đậu nành trong phối chế thức ăn chế biến nuôi cá lóc (Channa striata). Luận văn Thạc sĩ. Khoa Thủy sản. Đại học Cần Thơ. Qin, J.G., A.W. Fast., D.DeAnda. and R.P. Weidenbach, 1997. Growth and survival of larval snakehead (Channa striatus) fed different diets. Aquaculture, 148: 105-113. Quin, J.G. and A.W.Fast, 1996. Size and feed dependent cannibalism with juvenile snakehead Channa striatus. Aquaculture, 144: 313-320 Refstiea, S., J. J. Ollic and H. Standald, 2004. Feed intake, growth, and protein utilisation by post-smolt Atlantic salmon (Salmo salar) in response to graded levels of fish protein hydrolysate in the diet. Aquaculture, 239: 331-349. 393
  15. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 381-394 Trường Đại học Cần Thơ Takii, K., S. Shimeno and M. Takeda, 1986. The effect of feeding stimulants in diet on some hepatic enzyme activities of eel. Bulletin of the Japanese Society of Scientific Fisheries, 52: 2131-2134. Toften, H, A. M. Arnesen and M. Jobling, 2003. Feed intake, growth and ionoregulation in Atlantic salmon (Salmo salar L.) smolts in relation to dietaryaddition of a feeding stimulant and time of seawater transfer. Aquaculture, 217: 647-662. Toften, H., E.H. Jorgensen and M. Jobling, 1995. The study of feeding preference using radiography: oxytetracy cline as a feeding deterrent and squid extract as a feeding stimulant in diets for salmon. Aquaculture Nutrition, 1: 145-149. Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy, 2008. Khả năng sử dụng thức ăn chế biến của cá còm (Chitala chitala) giai đoạn bột lên giống. Tạp chí Khoa học 2008, 1:134-140. Trường Đại học Cần Thơ. Verreth, J. and M.V. Tongeren, 1989. Weaning time in Clarias gariepinus (Burchell) larvae. Aquaculture, 83: 81-88. Victor., R and B. O. Akapocha, 1992. The biology of snakehead, Channa obscura (Gunther), in a Nigerian pond under monoculture. Aquaculture, 101: 17-24 Walford, J. and T. J. Lam, 1993. Deveplopment of digestive tract and proteolytic enzyme activity in seabass (Lates calcarifer). Aquaculture, 109: 187-205. Xue. M and Y. Cui, 2001. Effect of several feeding stimulants on diet preference by juvenile gibel carp (Carassius auratus gibelio), fed diets with or without partial replacement of fish meal by meat and bone meal. Aquaculture, 198: 281–292. 394
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2