Quan hệ cần sự thừa
nhận
Đây quan điểm vquan hệ khách hàng của Jame G. Barnes (Professor of
marketing,Memorial University of Newfoundland). Ông tin rng quan hệ chỉ
khi khách hàng thừanhận sự có mặt của nó.
Đhiểu CRM, trước hết phải hiểu ba thành t của là khách hàng, quan h
việc quảntrị chúng. Theo ông, một quan hệ là đặc biệt. Sau hết, quan hệ có
thnhư cuộc đối thoại vớigia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp và những
thành viên trong nhóm. Ông đưa ra trườnghợp của khách sạn Marriott, United
Airlines, Coke hay Wal-Mart. Những quan hệ là nhữngquan niệm mang đậm
tính cá nhân.
Nếu buộc phải sử dụng từ quan hệ trong cách tiếp cận hiện đại đối với việc
kinh doanh trong bi cảnh sự trung thành ca khách hàng lâu dài thì doanh
nghip cần hiểu quan hệ là gì. Theo ông, quan điểm của John Czepiel là chính
c nhất về quan hkhách hàng khi cho rằngquan hệ trên thtrường là “s
ng nhn lẫn nhau về một vài tình trạng đặc biệt giữa các bêntrao đổi.” Quan
điểm đó phản ánh rằng quan hệ thể tồn tại giữa khách hàng
doanhnghiệp, khách hàng nhãn hiệu, và khách hàng phải cảm thấy sự tồn
tại của “tình trng đặc biệt.”
Khi cần hiểu khách hàng, nhiều nhà quản trị hoàn toàn không làm. Họ mắc lỗi
khi nhìnnhận tương tác của công ty với khách hàng bằng mắt mình hơn là mắt
khách hàng. Htin vàonhng điều chắc chắn làm thỏa mãn khách hàng trong
khi thực sự khách hàng quan tâm đến những thứ khác. Một trong những bài
học quan trọng mà các nhà marketing và quản trị cầnhọc là sản phẩm tốt với
giá tốt không đủ để đảm bảo cho sự hài lòng khách hàng và mua lặp lại. Thực
tế, sau 30 năm nghiên cứu khách hàng, Barnes đã kết luận rằng phần lớn
nhng yếutố làm nên shài ng hay trung thành lâu dài hoàn toàn không
phải là sản phẩm hay giá mà là cách khách hàng được đối xử, điều họ trải qua,
và cuối cùng là cảm giác của khách hàng về việc giao thiệp với doanh nghiệp.
Đó điểm mà việc “hiểu khách hàng” gặp gỡ “quan hệ”. Phần lớn khách
hàng kdễlĩnh hội ý kiến xây dựng quan hệ với doanh nghiệp và nhãn hiệu.
Nếu bất cứ sự ngvựcnào vviệc khách hàng phát triển quan hệ với nhãn
hiệu thì đó Susan Fournier, người mô tảrất chi tiết sự liên kết cảmc giữa
khách hàng nhãn hiệu họ thường sử dụng. Lúc đầukhách hàng không cý
tạo quan hệ phát sinh tnhiên. Quan hcần thời gian đphát triển vàphải
được nuôi dưỡng, nhưng một khi đã đã phát triển, khách hàng cảm thấy một
s chânthành, ý thức duy trì lòng trung thành với doanh nghiệp hay nhãn
hiệu. Phần lớn khách hàngmuốn quan hệ với doanh nghiệp hay dùng nhãn
hiệu mà hcảm thấy thtin tưởng và trôngcậy đưc với tổ chức hcm
thấy thoải mái, đối xử với họ chân thành và tôn trọng. Chỉ khi doanh nghiệp
hiểu ch khách hàng phát triển quan hệ đó thế nào khách hàng được gì
từđó, doanh nghiệp mới bắt đầu hiểu cách xây dựng quan hệ.
Người ta thường brơi vào bẫy khi tin rằng một doanh nghiệp thể dễ dàng
quyết địnhtạo quan hệ với một khách ng, khách ng đó muốn hay
không. Đó kết quả củaniềm tin sai lầm khi cho rằng quan hệ khách hàng
th được xây dựng hoặc áp đặt qua việctạo sở d liệu khách hàng hay
chương trình khách hàng thường xuyên. Hoc doanh nghiệpnghĩ họ quan
hệ với một khách hàng bi họ thành công trong việc giữ khách hàng tronghợp
đồng dịch vụ 5 năm hay thế chấp nhà 10 năm. Một giám đốc ngân hàng châu
Âu đã từngcho rằng mục tiêu chương CRM của ngân hàng ông ta là “to được
ràng buc cao với kháchhàng.” Những giao thiệp như vậy giữa doanh nghiệp
khách hàng không phải là quan hệtrong mắt khách hàng. Liệu họ khách
hàng có được lợi hay muốn có quan hệ chân thành hơnqua thời gian không?