intTypePromotion=1
ADSENSE

Quy hoạch tổng thể thuỷ lợi đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Chia sẻ: Huynh Thi Thuy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

79
lượt xem
13
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quy hoạch tổng thể thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một dự án lớn và phức tạp, cả về quy mô phối hợp, trải rộng theo không gian toàn đồng bằng sông Cửu Long và nhìn về tương lai, trong khi các ngành khác hoặc chưa quy hoạch đến 2020, hoặc chưa quy hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và lại phải thực hiện trong thời gian ngắn. Tham khảo nội dung bài viết để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quy hoạch tổng thể thuỷ lợi đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng

QUY HOẠCH TỔNG THỂ THUỶ LỢI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG<br /> TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU-NƯỚC BIỂN DÂNG<br /> <br /> Đơn vị thực hiện: Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam<br /> Chủ nhiệm: Nguyễn Ngọc Anh<br /> Thời gian thực hiện: 18 tháng (9/2009-3/2011)<br /> <br /> <br /> Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc lãnh thổ Việt Nam và nằm trong lưu vực<br /> sông Mekong. Sông Mekong dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar,<br /> Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, có diện tích lưu vực 795.000 km2, trong đó<br /> vùng Châu thổ 49.367 km2. ĐBSCL là phần cuối cùng của Châu thổ sông Mekong, bao<br /> gồm 13 tỉnh/thành là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu<br /> Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và T.P Cần Thơ,<br /> với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn Châu thổ và<br /> bằng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mekong.<br /> ĐBSCL có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của cả nước. Với tiềm<br /> năng nông nghiệp to lớn, trong những năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp trên 50% tổng<br /> sản lượng lương thực, quyết định thực hiện thành công chiến lược an ninh lương thực<br /> Quốc gia và chiếm chủ đạo trong xuất khẩu gạo (hơn 90%), từ 2005 đến nay mỗi năm<br /> trung bình 4,5-6,0 triệu tấn. Đồng thời, ĐBSCL cũng cung cấp khoảng 70% lượng trái<br /> cây, trên 40% sản lượng thuỷ sản đánh bắt và trên 74,6% sản lượng thuỷ sản nuôi<br /> trồng của cả nước.<br /> Nổi bật lên nhất trong kết quả tăng trưởng của vùng phải kể đến sản lượng lúa<br /> từ 2005 đến nay luôn đạt trên 18,0 triệu tấn. Trong 20 năm trở lại đây, cứ trung bình 5<br /> năm ĐBSCL lại tăng thêm khoảng 2,5 triệu tấn hay trung bình mỗi năm tăng thêm 500<br /> ngàn tấn. Năm 2010 ước đạt trên 21 triệu tấn. Tổng sản lượng hải sản năm 2008 đạt<br /> trên 2 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt trên 1,42 triệu tấn, đặc biệt sản<br /> lượng cá da trơn tăng nhanh trong mấy năm vừa qua.<br /> Kim ngạch xuất khẩu toàn vùng năm 2008 đạt 4,176 tỷ USD, trong đó thủy sản<br /> chiếm 65% sản lượng và 90% sản lượng xuất khẩu cả nước. Giá trị công nghiệp năm<br /> 2007 trên địa bàn đạt trên 85.820 tỷ đồng.<br /> Công, nông nghiệp, xuất khẩu phát triển đã đưa cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo<br /> hướng tích cực, giảm nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ năm 2008 với<br /> nông-lâm-ngư nghiệp là 45,9%; công nghiệp-xây dựng 21,3%; thương mại-dịch vụ<br /> 32,8%. Đặc biệt khi nhìn lại kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) các năm<br /> gần đây, vùng ĐBSCL được đánh giá khá lạc quan.<br /> Tầm quan trọng của ĐBSCL đối với cả nước được thể hiện ở ảnh hưởng to lớn của<br /> vùng trong cán cân phát triển chung, trong đó, sản lượng lương thực không chỉ luôn<br /> chiếm hơn 50% sản lượng toàn quốc, mà còn nhờ vào sự ổn định nên có tỷ trọng an<br /> ninh lương thực cao hơn hẳn so với 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền<br /> Trung.<br /> Tuy nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mekong, thừa hưởng nhiều thuận lợi từ vị trí địa lý,<br /> nguồn nước phong phú và được điều tiết tự nhiên bởi Biển Hồ, bờ biển và vùng biển<br /> rộng lớn với nhiều tài nguyên, đất đai bằng phẳng, màu mỡ và được phù sa bồi đắp<br /> hàng năm, thủy sản dồi dào với nhiều giống loài..., song ĐBSCL cũng phải luôn đối<br /> 1<br /> mặt với không ít khó khăn và hạn chế trong điều kiện tự nhiên, với những tác động<br /> không nhỏ và khôn lường từ các hoạt động ở thượng lưu, và hơn cả là với các mâu<br /> thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ngay chính đồng bằng này.<br /> Trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội ở ĐBSCL, những hạn chế về điều kiện tự<br /> nhiên là rào cản không nhỏ, nếu không muốn nói là cực kỳ to lớn, đặc biệt đối với sản<br /> xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Những hạn chế chính của điều kiện tự<br /> nhiên là (a) ảnh hưởng của lũ trên diện tích 1,9 triệu ha ở vùng đầu nguồn; (b) mặn<br /> xâm nhập trên diện tích khoảng 1,2-1,6 triệu ha ở vùng ven biển, ứng với độ mặn 4g/l;<br /> (c) đất phèn và sự lan truyền nước chua trên diện tích khoảng 1,2 triệu ha ở những<br /> vùng thấp trũng; (d) thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt trên diện tích khoảng<br /> 2,1 triệu ha ở những vùng xa sông, gần biển; và (e) xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra<br /> nhiều nơi và ngày càng nghiêm trọng, cộng với nạn cháy rừng thường xảy ra, ô nhiễm<br /> nguồn nước ngày càng nghiêm trọng…<br /> Để đáp ứng với nhu cầu phát triển của ĐBSCL, trong hơn 30 năm qua, nhiều công<br /> trình thủy lợi đã được đề xuất và xây dựng, đến nay diện tích ảnh hưởng mặn chỉ còn<br /> khoảng dưới 500.000 ha và diện tích ảnh hưởng chua phèn giảm đến mức tối thiểu chỉ<br /> còn dưới 100.000 ha. Đặc biệt, từ 1996, sau khi có Quyết định 99-TTg về phát triển<br /> thủy lợi kết hợp với giao thông và dân cư, phê duyệt quy hoạch kiểm soát và sử dụng<br /> nước lũ của Thủ tướng Chính phủ năm 1998, cộng với Quyết định 84/TTg về danh mục<br /> đầu tư thuỷ lợi trong giai đoạn 2005-2015, mở đầu cho hàng loạt công trình thuỷ lợi ra<br /> đời, là động lực và đòn bẩy quan trọng cho vùng ĐBSCL có cơ hội và điều kiện phát<br /> triển nhanh chóng hơn. Chính nhờ sự phát triển thủy lợi mang tính chiến lược ấy, cùng<br /> với ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật và động lực phát triển khác, ĐBSCL đã đưa sản<br /> lượng lúa từ 4,5 triệu tấn năm 1976 lên 18,3 triệu tấn năm 2004, 19,2 triệu tấn năm<br /> 2007 và 21,3 triệu tấn năm 2010, tạo những bước nhảy vọt mang tầm vóc lịch sử.<br /> Song, với những biến động thiên nhiên và thị trường trong những năm qua, cùng với<br /> việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất với quy mô lớn và rộng khắp từ năm 2001 đến nay, đã<br /> và đang đặt ra nhiều vấn đề cho công tác phát triển thủy lợi. Những vấn đề đó không<br /> chỉ là những bài toán đặt riêng ngành thủy lợi, như kiểm soát lũ, cấp nước, tiêu nước,<br /> kiểm soát mặn, phòng chống xói lở bờ... mà còn là sự phối hợp để giải bài toán đa mục<br /> tiêu với thủy lợi phục vụ cho phát triển nông nghiệp, dân cư, giao thông, cấp nước sinh<br /> hoạt, công nghiệp... và đặc biệt là phục vụ phát triển thủy sản (mặn, lợ).<br /> Thêm vào đó, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu ngày càng thể hiện rõ nét<br /> và diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên 2 yếu tố dòng chảy từ thượng lưu và nước biển<br /> dâng. Nếu như tác động của BĐKH lên giá trị trung bình xảy ra từ từ, phải mất hàng<br /> chục năm, thì tác động lên các giá trị cực trị xảy ra nhanh và ngày càng khốc liệt hơn.<br /> Trong 10 năm qua, ĐBSCL đã xuất hiện 3 năm lũ lớn liên tiếp là 2000, 2001 và 2002<br /> (trong đó lũ năm 2000 được xem là lũ lịch sử); 8 năm liền có lũ dưới trung bình và nhỏ<br /> (trong đó có lũ năm 2008 và 2010 là 2 năm lũ nhỏ lịch sử); 8 năm liền dòng chảy kiệt<br /> dưới trung bình (trong đó năm 2004, 2008 và 2010 là những năm thấp hơn cả, gây hạn<br /> hán nghiêm trọng và xâm nhập mặn sâu); bão lớn đổ bộ vào 2 năm 1997 (Linda) và<br /> 2006 (Durian); xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi với số lần tăng hơn (trên sông<br /> Tiền các năm 2001, 2002, 2004, 2005, sông Hậu các năm 2009, 2010 và ven biển Cà<br /> Mau 2 năm gần đây); cháy rừng xảy ra vào năm 2002 ở Vườn Quốc gia U Minh<br /> Thượng; tố lốc xuất hiện ngày càng nhiều và nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm.<br /> <br /> <br /> 2<br /> Do vậy, để đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn 2010-<br /> 2020/2030 và tầm nhìn đến 2050, đặc biệt là ứng phó chủ động và hiệu quả với các tác<br /> động từ BĐKH, nước biển dâng và phát triển của các nước thượng lưu, trong đó có<br /> phát triển thuỷ điện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao Viện Quy hoạch<br /> Thuỷ lợi miền Nam thực hiện Dự án “Quy hoạch thuỷ lợi tổng hợp Đồng bằng sông<br /> Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng”, được thực hiện trong 22<br /> tháng, từ tháng 9/2009 đến tháng 6/2011.<br /> Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là một trong các Bộ đã sớm xây dựng<br /> chương trình thích ứng với BĐKH-nước biển dâng lên nguồn nước, ngập lụt, hạn hán,<br /> sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực và hiện đang tích cực thực hiện các quy<br /> hoạch thuỷ lợi thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho 3 vùng ĐBSCL,<br /> Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung.<br /> Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH, NBD là một dự án lớn<br /> và phức tạp, cả về quy mô phối hợp (đa ngành), trải rộng theo không gian (toàn<br /> ĐBSCL) và nhìn về tương lai (dự báo đến 2020/2030 và tầm nhìn đến 2050), trong khi<br /> các ngành khác hoặc chưa quy hoạch đến 2020, hoặc chưa quy hoạch ứng phó với<br /> BĐKH, NBD và lại phải thực hiện trong thời gian ngắn. Vì thế, trong quá trình thực<br /> hiện, Viện đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo với 13 tỉnh/thành ĐBSCL và tất cả các<br /> ngành liên quan, cũng như mời các chuyên gia trong và ngoài ngành tham dự để lấy ý<br /> kiến đóng góp cho quy hoạch này.<br /> <br /> I. PHẠM VI QUY HOẠCH<br /> Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 13 tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang,<br /> Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên<br /> Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ, với tổng diện tích tự nhiên khoảng<br /> 3,96 triệu ha, dân số khoảng 18 triệu người.<br /> II. QUAN ĐIỂM<br /> - Xuất phát từ thực tế ở Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi ngày càng bất<br /> lợi của thời tiết, khí hậu, thuỷ văn; phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông<br /> nghiệp (cây trồng, vật nuôi) của nhân dân các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, góp<br /> phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; nâng cao giá trị sản xuất hàng hoá trên một<br /> đơn vị diện tích.<br /> - Điều chỉnh bổ sung quy hoạch thuỷ lợi trên cơ sở kế thừa, cập nhật, bổ sung, điều chỉnh<br /> Quy hoạch thuỷ lợi Đồng bằng sông Cửu Long đã được phê duyệt theo Quyết định số<br /> 84/2006/QĐ-TTg ngày 19/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ; phù hợp với quy hoạch phát<br /> triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thuộc Đồng bằng sông Cửu<br /> Long.<br /> - Điều chỉnh quy hoạch thuỷ lợi góp phần bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, tài<br /> nguyên đất vùng ĐBSCL; kết hợp hài hoà giải pháp công trình và phi công trình, nhất<br /> là các giải pháp về quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; tận dụng hiệu quả các lợi ích<br /> do thiên nhiên mang lại (lũ mang phù sa, nguồn lợi thuỷ sản, vệ sinh đồng ruộng, sinh<br /> thái mặn và nuôi trồng thuỷ sản...); hạn chế tác hại do nước gây ra, nhất là hạn hán, lũ<br /> lụt, xâm nhập mặn, các tác hại do biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo vệ môi trường<br /> sinh thái và phát triển bền vững.<br /> <br /> 3<br /> - Ưu tiên điều chỉnh, bổ sung danh mục công trình nhằm khép kín, hoàn thiện các hệ<br /> thống thủy lợi lớn trong vùng đã được đề xuất trong Quyết định 84/2006/QĐ-TTg nhằm<br /> phát huy hiệu quả của các công trình; các công trình phát huy hiệu ích tổng hợp, phục vụ<br /> đa mục tiêu; các công trình, hệ thống có đủ năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, nước<br /> biển dâng; đảm bảo các tiêu chí về kinh tế, kỹ thuật, xã hội và môi trường.<br /> - Các phương án quy hoạch phát triển thuỷ lợi tuy đã được lựa chọn nhưng vẫn là<br /> những phương án “mở” để có thể điều chỉnh, thay đổi khi cần thiết. Mỗi công trình, hệ<br /> thống công trình đề xuất cũng đều đáp ứng các tiêu chí về kinh tế, kỹ thuật, xã hội và<br /> môi trường.<br /> - Huy động mọi nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, các nguồn vốn hợp pháp khác trong<br /> nước và ngoài nước, đóng góp của người dân vùng hưởng lợi để đầu tư xây dựng công<br /> trình theo Quy hoạch.   <br /> <br /> <br /> III. MỤC TIÊU QUY HOẠCH<br /> 3.1 Mục tiêu chung<br /> - Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nhằm hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, phục vụ sản xuất<br /> nông nghiệp trong tình hình mới, chủ động thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu,<br /> nước biển dâng; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và<br /> phát triển bền vững;<br /> - Căn cứ nội Quy hoạch này, các ngành, các cấp xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy<br /> hoạch cho phù hợp với định hướng phát triển chung của ĐBSCL nói riêng và lưu vực<br /> sông Mê Công nói chung;<br /> - Điều chỉnh, bổ sung các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình<br /> thuỷ lợi và kế hoạch thực hiện hàng năm giai đoạn 2010-2020; sau năm 2020 và định<br /> hướng đến năm 2050;<br /> - Đề xuất, kiến nghị các vấn đề còn tồn tại, tiếp tục nghiên cứu bổ sung quy hoạch nhất<br /> là trong điều kiện sử dụng nước thượng lưu sông Mê Công, tình hình biến đổi khí hậu<br /> và nước biển dâng trong tương lai. <br /> 3.2 Mục tiêu cụ thể<br /> - Phát triển thuỷ lợi góp phần đảm bảo an toàn dân sinh, sản xuất, cơ sở hạ tầng cho<br /> khoảng 32 triệu dân ĐBSCL (ước tính đến năm 2050), trong đó khoảng 20 triệu dân<br /> vùng ngập lũ và 12 triệu dân vùng ven biển;<br /> - Hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi góp phần đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia; chủ<br /> động cấp nước, tiêu thoát nước, kiểm soát lũ, kiểm soát mặn ổn định cho 1,781 triệu ha<br /> đất lúa vùng ĐBSCL; chủ động nguồn nước đảm bảo lịch thời vụ và quá trình chuyển<br /> đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi (tập trung vào vụ 3 trong năm); đề xuất giải pháp cung<br /> cấp nước ngọt, nước mặn ổn định và bền vững cho khoảng 0,7 triệu ha diện tích nuôi<br /> trông thuỷ sản nước lợ và nước ngọt;<br /> - Hoàn chỉnh hệ thống đê biển, đê bao ngăn mặn ven biển và dọc sông, cùng với hệ<br /> thống cống điều tiết nhằm ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp theo<br /> hướng gia tăng giá trị và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích, khai thác tốt nhất ba thế<br /> mạnh: Sản xuất lúa; Nuôi trồng thuỷ sản; Trồng và chế biến các loại rau, quả và thực<br /> phẩm đem lại hiệu quả cao;<br /> 4<br /> - Góp phần phục vụ ổn định xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người dân<br /> nhằm ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng-an ninh trong vùng;<br /> - Chủ động các giải pháp ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng,<br /> xâm nhập mặn, dòng chảy kiệt thượng lưu;<br /> - Đề xuất giải pháp phòng chống xói lở, bồi lắng và bảo vệ nguồn nước, giảm thiểu ô<br /> nhiễm môi trường sinh thái;<br /> - Kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, đồng thời với việc tăng<br /> cường và thực hiện tốt công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến<br /> đổi khí hậu-nước biển dâng.<br /> IV. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA QUY HOẠCH<br /> - Phối hợp với các ngành, các địa phương cập nhật, bổ sung quy hoạch phát triển trên<br /> cơ sở tiếp tục triển khai các công trình theo Quyết định 84/2006/QĐ-TTg.<br /> - Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD phù hợp<br /> với Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.<br /> - Trên cơ sở định hướng Chiến lược phát triển thủy lợi, Chiến lược phòng tránh và giảm<br /> nhẹ thiên tai, triển khai hoàn thiện, khép kín hệ thống thuỷ lợi đã đề xuất trong Quy<br /> hoạch để phát huy nhiệm vụ thiết kế. Điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ của các công trình<br /> đã đề xuất đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Xây dựng mới các công trình phục vụ<br /> đa mục tiêu ứng phó với BĐKH-NBD.<br /> V. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI Ở ĐBSCL<br /> 5.1 Tình hình đầu tư thuỷ lợi ĐBSCL<br /> Ngày 09/02/1996, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 99/QĐ-TTg về “Định<br /> hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao<br /> thông và xây dựng nông thôn vùng ĐBSCL”. Theo quyết định này, ngay từ 1996, nhiều<br /> công trình thủy lợi kết hợp với giao thông, đặc biệt là giao thông nông thôn và bố trí<br /> dân cư đã được triển khai, nâng cao hiệu quả của các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở<br /> cho vùng ĐBSCL.<br /> Ngày 21/6/1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 144/QĐ-TTg về phê duyệt<br /> “Quy hoạch về kiểm soát và sử dụng nước lũ vùng ĐBSCL giai đoạn từ nay đến 2010”.<br /> Với Quyết định này, sự đầu tư cho vùng lũ được đẩy mạnh, mà tập trung trước hết là<br /> vùng Tứ giác Long Xuyên. Chỉ trong 4 năm, 1996-1999, nhiều công trình trong hệ<br /> thống kiểm soát lũ vùng TGLX ra đời và đến nay, hệ thống kiểm soát lũ này đã khá<br /> hoàn chỉnh, bao gồm các tuyến thoát lũ ra biển Tây, các đập tràn kiểm soát lũ đầu vụ<br /> tuyến Vĩnh Tế, các cửa thoát lũ qua QL80 và ra biển…<br /> Tiếp đến, ngày 19/4/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg<br /> về việc phê duyệt“Điều chỉnh bổ sung Quy hoạch thuỷ lợi Đồng bằng sông Cửu Long<br /> giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020”, kèm theo Quyết định phê duyệt là danh<br /> mục đầu tư các công trình thủy lợi từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho các giai đoạn<br /> đến năm 2010 và 2020, trong đó giai đoạn 2006-2010 ưu tiên tập trung đầu tư cho 79<br /> công trình, chủ yếu giải quyết những vấn đề cấp bách nhất về thủy lợi tại các địa<br /> phương ở ĐBSCL về các mặt như kiểm soát lũ, cấp nước tưới, tiêu, ngăn mặn, phòng<br /> chống sạt lở, nuôi trồng thuỷ sản…<br /> <br /> <br /> 5<br /> Theo vùng thủy lợi, các công trình được phân ra ĐTM 27 công trình, TGLX 16 công<br /> trình, BĐCM 27 công trình và vùng giữa ST-SH 9 công trình. Theo cấp quản lý, có 14<br /> công trình/hệ thống công trình do Bộ NN&PTNT quản lý và 65 công trình/hệ thống<br /> công trình được giao cho địa phương quản lý. Theo đơn vị quản lý nguồn vốn, vốn do<br /> Trung ương quản lý chiếm khoảng 33% và vốn do các tỉnh quản lý 67%.<br /> Các công trình trong QĐ 84/TTg của Thủ tướng Chính phủ được chia theo cấp quản<br /> lý gồm hai nhóm: (i) Nhóm do Bộ NN&PTNT quản lý gồm các công trình liên vùng,<br /> liên tỉnh với 14/79 công trình; (ii) Nhóm phân cấp cho địa phương quản lý nằm trong<br /> phạm vi từng tỉnh gồm 55/79 công trình.<br /> 5.2 Thành tựu phát triển thuỷ lợi ĐBSCL<br /> a. Những thành tựu đạt được:<br /> Cùng với các công trình thuỷ lợi được hình thành qua hàng trăm năm, trong hơn 30<br /> năm đầu tư, xây dựng gần đây, với số vốn đầu tư lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng, huy<br /> động cả từ Trung ương, địa phương và người dân, ĐBSCL đã hình thành một hệ thống<br /> công trình thủy lợi khá hoàn chỉnh, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội<br /> của toàn đồng bằng.<br /> - Về tưới, khoảng trên 1,4 triệu ha (trên 90% diện tích vụ Đông-Xuân và Hè-Thu) đã<br /> được chủ động tưới bằng hệ thống kênh, cống các cấp, kể cả những vùng có khó khăn<br /> về nguồn nước như Tứ giác Hà Tiên, Nam Măng Thít, Quản Lộ-Phụng Hiệp, ven biển<br /> Đông, biển Tây, vùng phèn nặng ở trung tâm ĐTM, TGLX… Một số nơi do chưa chủ<br /> động được nguồn cấp ngọt từ sông chính nhưng cũng đã hình thành hệ thống bờ bao,<br /> cống bọng, thậm chí cống có quy mô khá lớn để trữ, giữ nước mưa, tạo điều kiện kéo<br /> dài thời gian có ngọt từ 6-7 tháng trước đây lên 9-10 tháng, thậm chí hơn 11 tháng<br /> trong năm.<br /> - Về kiểm soát lũ, ngay từ những năm đầu Thập niên 90 của Thế kỷ 20, đứng trước<br /> yêu cầu tăng vụ, đảm bảo sản xuất vụ Hè-Thu, người dân vùng ngập lụt ĐBSCL đã<br /> triển khai dạng bờ bao kiểm soát lũ đầu vụ (tháng Tám), mang lại hiệu quả thiết thực<br /> cho vùng ngập lũ. Đến nay, tuy việc phát triển hệ thống bờ bao kiểm soát lũ đầu vụ, kể<br /> cả nhiều nơi chuyển sang hình thức kiểm soát lũ cả năm ngay trong vùng ngập trung<br /> bình (từ 1,5-2,5 m) là tự phát, không theo quy hoạch, song, cùng với hệ thống kiểm soát<br /> lũ do Nhà nước đầu tư, trong đó có đê bảo vệ các khu dân cư tập trung, thì phải thấy<br /> rằng, kiểm soát lũ ĐBSCL là hướng đi đúng đắn, đã đạt những thành quả đáng kể, giúp<br /> ổn định và phát triển kinh tế-xã hội nói chung và sản suất nông nghiệp nói riêng trong<br /> vùng ngập lụt. Cùng với hệ thống các cụm dân cư được xây dựng theo chương trình dân<br /> cư vùng ngập lũ, hệ thống giao thông kết hợp thủy lợi đã kết nối các khu dân cư với hệ<br /> thống giao thông liên huyện, liên tỉnh và quốc gia, tạo thành địa bàn sinh sống vững<br /> chắc, an toàn và chủ động trong vùng ngập lũ.<br /> - Về tiêu nước, do còn nhiều vùng trũng thấp, vùng ảnh hưởng lũ lớn, nên hiện hệ<br /> thống tiêu thoát nước chỉ có thể phục vụ tốt cho khoảng 80% diện tích sản xuất nông<br /> nghiệp với mục tiêu sản xuất ổn định 2 vụ lúa Đông-Xuân và Hè-Thu. Những năm mưa<br /> lớn, lũ rút muộn thường gây khó khăn cho sản xuất ở ĐBSCL về thời vụ do chưa đáp<br /> ứng tốt khả năng tiêu thoát nước mưa, nước lũ.<br /> - Về hệ thống đê biển, đê cửa sông, vùng ven biển và cửa sông ĐBSCL đã từng bước<br /> hình thành hệ thống đê ngăn mặn, kiểm soát triều cường, sóng cao và đang nâng dần<br /> lên khả năng chống chọi với nước dâng do bão. Nhiều tuyến đê đã phát huy tốt hiệu quả<br /> <br /> 6<br /> trong kiểm soát mặn và phòng tránh thiên tai, như các tuyến đê biển Tiền Giang, Trà<br /> Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang… Các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, tuy hệ thống đê<br /> biển chưa khép kín nhưng từng đoạn tuyến cũng đã phát huy tác dụng tích cực trong<br /> bảo vệ sản xuất nông nghiệp.<br /> - Về cải tạo và phát triển vùng đất phèn, nhờ hệ thống thủy lợi, mặc dù có lúc, có nơi,<br /> do phát triển kênh và cống vùng phèn gây nên những tác động tiêu cực lên chất lượng<br /> nước trong vùng và lân cận, song, sau nhiều năm phát triển, đến nay, cơ bản chung ta<br /> đã hiểu và làm chủ được vùng đất phèn, biến những vùng đất phèn rộng lớn ở ĐTM,<br /> TGLX và BĐCM thành những vùng sản xuất lúa ổn định 2-3 vụ. Hiện chỉ còn một ít<br /> đất phèn nặng ở vùng rốn phèn ĐTM (Bắc Đông-Bo Bo), BĐCM (Hồng Dân, Phước<br /> Long)… nhưng cũng được sử dụng trồng tràm và cây công nghiệp.<br /> - Về kết hợp giao thông-thủy lợi-dân cư, nhờ thực hiện Quyết định 99/QĐ-TTg, hầu<br /> hết công trình thủy lợi xây dựng trong thời gian sau này ở tất cả các vùng đều có sự kết<br /> hợp khá tốt giữa nạo vét, nâng cấp kênh, xây dựng bờ bao với giao thông nông thôn,<br /> giao thông liên huyện, bố trí địa bàn dân cư…, đặc biệt ở vùng ngập lụt.<br /> - Về chống xói lở bờ biển, xói lở, bồi lắng sông, kênh, trong những năm qua đã có<br /> nhiều công trình kè được xây dựng, việc nạo vét cửa sông, dọc kênh cũng được thực<br /> hiện, mang lại hiệu quả nhất định trong bảo vệ các khu dân cư, các công trình ven biển,<br /> ven sông, đảm bảo khả năng cấp nước, thoát lũ của toàn hệ thống…<br /> - Về phòng chống cháy rừng, nhờ hệ thống đê bao, cống điều tiết nước và hệ thống<br /> trạm bơm, các Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Tràm Chim, U Minh Hạ, các khu Bảo<br /> tồn thiên nhiên Xẻo Quýt, Lung Ngọc Hoàng, Trà Sư… đã được bảo vệ khá tốt qua<br /> những năm gần đây.<br /> b. Những tồn tại trong quản lý quy hoạch và phát triển thuỷ lợi ĐBSCL:<br /> - Trong vùng ngập lũ trung bình, theo quy hoạch lũ chỉ sản xuất 2 vụ lúa (Đông-<br /> Xuân, Hè-Thu), lên bờ bao bảo vệ vụ Hè-Thu khi gặp lũ sớm (lũ tháng 8). Song trong<br /> những năm qua, diện tích bao đê kiểm soát lũ cả năm để sản xuất 3 vụ phát triển nhanh<br /> (thêm vụ Thu-Đông), đặc biệt ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp, tác động đến nhiều mặt<br /> về dòng chảy lũ, nước ngầm và môi trường.<br /> - Ở vùng ven biển, ở những nơi trước đây chỉ làm một vụ Mùa, nay nhờ có nước ngọt<br /> (trữ trong đồng hay chuyển từ sông vào) đã tăng lên 2 vụ khá ổn định (Đông-Xuân và<br /> Hè-Thu) trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, nhiều chân ruộng được<br /> người dân sản xuất 3 vụ (thêm vụ Xuân-Hè), khiến việc cấp nước cho vùng ven biển<br /> gặp rất nhiều khó khăn, kém ổn định.<br /> - Nhiều hạng mục công trình được thay đổi quy mô, chức năng và nhiệm vụ trong quá<br /> trình chuẩn bị đầu tư.<br /> - Các hệ thống công trình và nhiều công trình chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ.<br /> - Một số hệ thống công trình được xây dựng khá hoàn chỉnh nhưng việc quản lý vận<br /> hành hệ thống chưa được chú trọng.<br /> - Nhiều công trình, hệ thống công trình chưa thích ứng với điều kiện BĐKH, NBD<br /> trong 20-30 năm tới và xa hơn, đến năm 2050.<br /> <br /> VI. KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU-NƯỚC BIỂN DÂNG<br /> 6.1 Diễn biến khí tượng-thuỷ văn ĐBSCL những năm gần đây<br /> 7<br /> Trong các thập niên gần đây, ĐBSCL đã và đang gánh chịu những tác động khá<br /> mạnh mẽ do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây nên, trong đó lũ có những biến động<br /> ngày càng lớn giữa năm lũ lớn và lũ nhỏ, bão nhiều và mạnh hơn, hạn hán nghiêm<br /> trọng hơn, cháy rừng, sạt lở bờ sông, tố lốc, triều cường... xuất hiện ngày càng nguy<br /> hiểm hơn. Chỉ tính trong 10 năm qua, ĐBSCL đã có:<br /> - 3 năm liên tiếp từ 2000-2002 có lũ lớn, trong đó năm 2000 là lũ lớn lịch sử. Trong<br /> dãy tài liệu mực nước nhiều năm tại Tân Châu và Châu Đốc từ 1924 đến nay, 3 năm lũ<br /> lớn liên tiếp, trong đó có lũ năm 2000 là điều khá đặc biệt, do trước đó cũng có những<br /> nhóm năm lũ lớn như vậy nhưng không lớn bằng. Tại Tân Châu, đỉnh lũ năm 2000<br /> (5,06 m) chỉ đứng thứ 2 sau lũ 1961 (5,12 m), trong khi tổng lượng đạt đến 430 tỷ m3,<br /> lớn hơn lũ 1961 chừng 15 tỷ m3.<br /> - 7 năm liên tiếp, từ 2003 đến 2009, ĐBSCL có lũ dưới trung bình, trong đó tại Tân<br /> Châu năm 2006 có mực nước 4,00 m và năm 2008 chỉ đạt 3,65 m, thuộc năm cực nhỏ<br /> trong 70 gần đây. Lũ dòng chính nhỏ, tổng lượng nhìn chung chỉ đạt 80-90% tổng<br /> lượng trung bình, kéo theo mực nước lũ trong nội đồng cũng rất thấp, một vài năm hầu<br /> như nội đồng đói lũ (các năm 2003, 2008 và 2009, tổng lượng lũ chỉ đạt dưới 70% tổng<br /> lượng lũ trung bình).<br /> - 2 lần có bão lớn đổ bộ và ảnh hưởng đến ĐBSCL là bão Linda năm 1997 và bão<br /> Durian năm 2006. Theo thống kê, trong hơn 100 năm qua, ĐBSCL hứng chịu 3 trận<br /> bão đổ bộ trực tiếp, trong đó có trận bão năm 1904, cách bão Linda 93 năm, trong khi<br /> bão Durian chỉ cách bão Linda 9 năm.<br /> - 8 năm liền ĐBSCL gặp hạn, đặc biệt hạn kết hợp dòng chảy kiệt trên sông Mekong và<br /> xâm nhập mặn sâu vào năm 2004 và 2008. Diễn biến hạn-mặn đầu năm 2010 cũng cho<br /> thấy có xu thế gần với năm 2004.<br /> - Tố lốc xuất hiện nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng.<br /> - Cháy rừng xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt đợt cháy rừng Vườn Quốc gia U Minh Thượng<br /> vào năm 2002 mà ảnh hưởng của nó đến nay vẫn chưa được khắc phục.<br /> - Sạt lở bờ biển, bờ sông xảy ra với số lần, số vị trí và cường độ cao, như sạt lở ven biển<br /> Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và gần đây là biển phía Tây của tỉnh Cà Mau. Sạt lở<br /> bờ sông, kênh cũng xẩy ra với cường suất cao, ảnh hưởng nhất định đến ổn định kinh<br /> tế-xã hội của nhiều địa phương, như sạt lở bờ sông Tiền tại Tân Châu, Hồng Ngự, Sa<br /> Đéc, Vĩnh Long… sạt lở trên Hậu tại Châu Đốc và trên QL91 thời gian gần đây…<br /> - Nước biển có xu thế ngày càng dâng cao, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi<br /> trường, tại Vũng Tàu (biển Đông), mực nước biển trung bình 50 năm qua đã tăng<br /> khoảng 12 cm. Triều cường trên nền nước biển dâng ngày càng uy hiếp nghiêm trọng<br /> các vùng đất thấp, kể cả các thành phố ven biển ảnh hưởng triều như Cần Thơ, Cà Mau,<br /> Vĩnh Long…<br /> 6.2 Kịch bản biến đổi dòng chảy thượng lưu<br /> Tổng hợp các nghiên cứu, đánh giá của các tổ chức quốc tế, cân nhắc các kết quả<br /> chính thức của Ban Thư ký MRC được công bố gần đây nhất (tháng 9/2009 và tháng<br /> 4/2010), cân bằng các tác động do biến đổi khí hậu, phát triển hồ chứa và gia tăng cấp<br /> nước ở tất cả các nước thượng lưu, kịch bản chung cho dòng chảy đến Kratie cho các<br /> giai đoạn như Bảng 01.<br /> <br /> <br /> 8<br /> Bảng 01: Kịch bản biến đổi dòng chảy đến Kratie theo các nguồn khác nhau (%)<br /> Giai đoạn 2020 2030 2050<br /> Dòng chảy mùa lũ (%) +5 +10 +15<br /> Dòng chảy mùa kiệt* (%) -5 -10 -15/-20<br /> (*) Để so sánh, tính toán thêm kịch bản kiệt năm 2050 giảm -30%.<br /> <br /> 6.3 Kịch bản nước biển dâng<br /> Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố tháng 6/2009, với kịch<br /> bản phát thải trung bình B2, mực nước biển vùng ĐBSCL sẽ có sự gia tăng theo từng<br /> giai đoạn trong Bảng 02.<br /> Bảng 02: Kịch bản mực nước biển dâng trung bình và mực nước đỉnh triều tương ứng <br /> Giai đoạn Năm 2020 Năm 2030 Năm 2050<br /> Trung bình Đỉnh triều Trung bình Đỉnh triều Trung bình Đỉnh triều<br /> Mực nước đỉnh triều 12 14-18 17 22-25 30 38-42<br /> biển Đông (cm)<br /> Mực nước đỉnh triều 12 12-15 17 17-22 30 30-26<br /> biển Tây (cm)<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 01: Những vấn đề của ĐBSCL hiện nay<br /> 6.4 Hình ảnh ĐBSCL đến năm 2050 dưới tác động của BĐKH-NBD<br /> 6.4.1 Tác động đến xâm nhập mặn<br /> Kết quả tính toán xâm nhập mặn hiện trạng và năm 2050 cho thấy:<br /> <br /> <br /> <br /> 9<br /> Bảng 03: Tổng hợp diện tích xâm nhập mặn Max các tháng 2, 3, 4 theo độ mặn<br /> Hiện trạng (ha) Năm 2050 (ha)<br /> Smax (g/l) II III IV II III IV<br /> 0–1 1.599.641 1.650.377 1.478.580 1.452.789 1.425.452 1.311.993<br /> 1–4 575.280 576.725 527.594 553.611 509.859 489.184<br /> 4–8 452.614 418.415 431.741 543.078 532.545 502.178<br /> 8 – 12 230.722 219.322 227.672 305.688 256.475 341.097<br /> 12 – 16 209.850 149.480 203.106 175.545 186.587 197.840<br /> 16 – 20 199.253 153.172 187.692 160.931 198.951 153.369<br /> 20 – 24 86.380 92.803 137.759 170.323 197.270 154.479<br /> 24 – 28 334.924 96.014 97.138 371.134 178.815 238.200<br /> 28 – 32 126.199 455.825 483.922 86.152 333.625 414.435<br /> > 32 5.138 7.867 44.796 750 420 17.224<br /> Tổng DT 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000<br /> <br /> <br /> o<br /> oT©n An o<br /> oT©n An<br /> oCao L·nh<br /> o oCao L·nh<br /> o<br /> o<br /> o o<br /> o<br /> ooMü Tho ooMü Tho<br /> oVÜnh Long o<br /> o oBÕn Tre oVÜnh Long o<br /> o oBÕn Tre<br /> <br /> <br /> oR¹ch GI¸<br /> o oCÇn Th¬<br /> o oR¹ch GI¸<br /> o oCÇn Th¬<br /> o<br /> o<br /> oTrμ Vinh o<br /> oTrμ Vinh<br /> <br /> o<br /> oVÞ Thanh o<br /> oVÞ Thanh<br /> BIEÅN TAÂY<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> BIEÅN TAÂY<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> oSãc Tr¨ng<br /> o oSãc Tr¨ng<br /> o<br /> <br /> <br /> <br /> oB¹c Liªu<br /> o oB¹c Liªu<br /> o<br /> o<br /> oCμ Mau BIEÅN ÑOÂNG o<br /> oCμ Mau BIEÅN ÑOÂNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Thang ñoä maën (g/l) Thang ñoä maën (g/l)<br /> 0 1 2 4 8 12 20 24 > 24 0 1 2 4 8 12 20 24 > 24<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hiện trạng xâm nhập mặn ĐBSCL Xâm nhập mặn ĐBSCL năm 2050<br /> <br /> Hình 01: Xâm nhập mặn ở ĐBSCL<br /> <br /> Bảng 04: Tổng hợp diện tích xâm nhập mặn Max các tháng 2-4 với độ mặn 1 và 4 g/l<br /> Smax (g/l) Hiện trạng Năm 2050<br /> Tháng II Tháng III Tháng IV Tháng II Tháng III Tháng IV<br /> Tổng DT (ha) 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000<br /> DT >1g/l (ha) 2.220.360 2.169.623 2.341.420 2.367.212 2.394.547 2.508.006<br /> So với tổng DT (%) 58,12 56,80 61,29 61,97 62,68 65,65<br /> DT >4g/l (ha) 1.645.080 1.592.898 1.813.826 1.813.601 1.884.688 2.018.822<br /> So với tổng DT (%) 43,06 41,70 47,48 47,48 49,34 52,85<br /> <br /> 10<br /> Bảng 05: Khoảng cách xâm nhập mặn (>4g/l) gia tăng giữa các kịch bản giảm dòng<br /> chảy kiệt so với hiện trạng khi nước biển dâng 30 cm (đơn vị: km)<br /> Giảm lưu lượng thượng lưu tại Kratie<br /> Sông -15% -20% -30%<br /> Tiền 19,9 25,7 29,9<br /> Hậu 14,4 16,8 21,6<br /> <br /> Bảng 06: Thay đổi diện tích xâm nhập mặn >4 g/l giữa các kịch bản giảm dỏng chảy<br /> kiệt so với Hiện trạng khi nước biển dâng 30 cm (đơn vị: 1.000 ha)<br /> Giảm lưu lượng thượng lưu tại Kratie<br /> Hiện -15% -20% -30%<br /> Diện tích trạng Tổng Tăng Tổng Tăng Tổng Tăng<br /> > 4g/l 1.691 1.987 +296 2.072 +381 2.146 +455<br /> Tổng DT 3.820 3.820 7,7% 3.820 10,0% 3.820 11,9%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 02: Ranh giới xâm nhập mặn đến 2050 với các kịch bản giảm dòng chảy kiệt<br /> thượng lưu khác nhau<br />  <br /> - Ứng với kịch bản dòng chảy kiệt thượng lưu giảm 15%:<br /> <br /> 11<br /> - Đối với ranh mặn cao nhất:<br /> + Độ mặn 1 g/l: Trên sông Tiền qua TP. Vĩnh Long 11 km (cao hơn hiện nay 27 km)<br /> và trên sông Hậu qua TP. Cần Thơ 5 km (cao hơn hiện nay 20 km).<br /> + Độ mặn 4 g/l: Trên sông Tiền qua TP. Mỹ Tho 17 km (cao hơn hiện nay 20 km) và<br /> trên sông Hậu ngang TP. Cần Thơ (cao hơn hiện nay 15 km).<br /> - Đối với diện tích ảnh hưởng mặn lớn nhất:<br /> + Độ mặn >1 g/l: Diện tích ảnh hưởng mặn chiếm 66,6% (tăng 386.600 ha so với hiện<br /> nay, tương ứng 10,1% diện tích).<br /> + Độ mặn >4 g/l: Diện tích ảnh hưởng mặn chiếm 52,4% (tăng 311.652 ha so với hiện<br /> nay, tương ứng 8,2% diện tích).<br /> - Đối với sản xuất nông nghiệp: Khoảng 4/5 diện tích vùng BĐCM (trừ Tây sông<br /> Hậu), toàn bộ các Dự án Gò Công, Bảo Định, Bắc Bến Tre, Mỏ Cày, Nam Măng Thít,<br /> Tiếp Nhật,... bị mặn trên 4 g/l bao bọc và xâm nhập.<br /> - Đối với cấp nước dân sinh: Ngoài các đô thị Bến Lức, Tân An, Bến Tre, Trà Vinh,<br /> Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, thêm Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần<br /> Thơ bị mặn.<br /> 6.4.2 Tác động đến ngập lụt<br /> Ứng với lũ thượng lưu tăng 15% đến năm 2050, kết quả mô phỏng thuỷ lực cho<br /> thấy, do lũ tăng 15%, mực nước lũ tuỳ từng vùng có thể tăng 30-40 cm. Do mực nước<br /> biển dâng, mực nước trong đồng bằng có thể tăng 12-17 cm. Tổng hợp tác động bởi 2<br /> yếu tố trên, mực nước ngập lụt ở ĐBSCL đến năm 2050 có thể gia tăng từ 50-60 cm.<br /> Điều này dẫn đến:<br /> - Đối với diện tích ngập lụt:<br /> + Độ ngập >0,5 m: Diện tích ngập lên đến 3.197.473 ha (chiếm 83,7% diện tích toàn<br /> đồng bằng), tăng 407.827 ha so với hiện trạng (tương ứng 10,6% diện tích).<br /> + Độ ngập >1,0 m: Diện tích ngập lên đến 2.463.555 ha (chiếm 64,5% diện tích toàn<br /> đồng bằng), tăng 660.636 ha so với hiện trạng (tương ứng 17,3% diện tích).<br /> - Đối với mức độ ngập lụt:<br /> + Sản xuất nông nghiệp: Các vùng ảnh hưởng lũ mạnh như ĐTM, TGLX và GSTSH<br /> mức độ ngập lũ sẽ nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đến SXNN sẽ lớn hơn.<br /> + Đô thị: Ngoài các độ thị như Châu Đốc, Long Xuyên, Cao Lãnh thường xuyên ảnh<br /> hưởng bởi ngập lũ, sẽ có thêm Sa Đéc, Vĩnh Long, Tân An, Mỹ Tho, Cần Thơ, Vị<br /> Thanh, Sóc Trăng, Rạh Giá và Hà Tiên bị ngập trên 1,0 m, trong đó nghiêm trọng nhất<br /> là 2 thành phố Cần Thơ và Vĩnh Long.<br /> + Thoát nước: Trong mùa lũ, việc thoát nước của các độ thi đã rất khó khăn, nay do<br /> BĐKH-NBD, việc thoát nước càng khó khăn hơn. Các đô thị gồm Mỹ Tho, Bến Tre,<br /> Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau việc tiêu thoát nước sẽ vô cùng khó khăn và chắc chắn<br /> phải nhờ đến sự hỗ trợ của tiêu động lực.<br /> - Đối với thời gian ngập (xét với mức ngập >0,5 m):<br /> + Đầu lũ (tháng VIII): Diện tích ngập đã lên đến 2.861.633 ha (chiếm 74,9% diện tích<br /> toàn đồng bằng), tăng 863.148 ha so với hiện nay (tương ứng 22,6% diện tích).<br /> + Cuối lũ (tháng XI): Diện tích ngập vẫn còn 2.711.685 ha (chiếm 71,0% diệ tích toàn<br /> đồng bằng), tăng 678.180 ha so với hiện nay (tương ứng 17,8% diện tích).<br /> - Đối với diễn biến lũ:<br /> + Lũ xuất hiện sớm hơn từ 0,5-1,0 tháng.<br /> <br /> 12<br /> + Lũ rút sẽ chậm hơn hơn từ 0,7-1,2 tháng.<br /> + Như vậy, thời gian ngập lũ hiện nay kéo dài từ 2-5 tháng sẽ tăng lên từ 5-7 tháng.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hiện trạng ngập lụt ĐBSCL (lũ 2000) Ngập lụt ĐBSCL năm 2050<br /> Hình 03: Ngập lụt ĐBSCL<br />  <br /> <br /> 6.5 Những tác động khác từ BĐKH và phát triển thượng lưu đến 2050<br /> - Một khi hệ thống hồ chứa thượng lưu ĐBSCL được hoàn thành, tác động của chúng<br /> đến ĐBSCL là cực kỳ to lớn, cả những tác động tích cực và tác động tiêu cực. Những<br /> tác động tích cực như điều hoà dòng chảy lũ-kiệt đối với năm trung bình làm giảm lũ và<br /> tăng kiệt xuống hạ lưu có thể được ghi nhận, song còn nhiều vấn đề cũng cần được<br /> đánh giá kỹ hơn. Song, những tác động tiêu cực thì hình như là khá rõ ràng và có thể<br /> nhận biết ngay, đó là:<br /> - Biến lũ vào ĐBSCL từ lũ trung bình thành lũ nhỏ, lũ nhỏ thành không lũ. ĐBSCL là<br /> đồng bằng tồn tại và phát triển nhờ lũ. Nếu không có lũ, nhịp sống của ĐBSCL này bị<br /> đảo lộn và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường và dòng chảy mùa kiệt. Trong khi<br /> đó, với những trận lũ lớn (như lũ 1961, 1978, 2000…) thì hầu như hệ thống hồ chứa<br /> không cắt được lũ mà còn làm cho lũ lớn hơn. Điều này dẫn đến lũ hàng năm ở ĐBSCL<br /> ngày càng có sự chênh lệch nhiều hơn, lũ lớn càng lớn hơn và lũ nhỏ càng nhỏ hơn.<br /> Hậu quả là ĐBSCL phải đối mặt với các mùa lũ rất khác xa nhau, chênh lệch mực nước<br /> hàng năm ngày càng lớn hơn, khiến gia tăng xói lở và mất ổn định lòng sông.<br /> - Giảm phù sa: Theo đánh giá của MRC, lượng phù sa, đặc biệt là phù sa đáy (chủ yếu<br /> là cát xây dựng) xuống ĐBSCL sẽ giảm dần và đạt mức giảm lớn nhất là khoảng 40%<br /> so với hiện nay do hệ thống hồ chứa thượng lưu, ít nhất là trong khoảng 50 năm đến,<br /> sau đó có thể ổn định và tăng trở lại. Giảm phù sa kéo theo giảm chất lượng bồi bổ<br /> đồng ruộng và gia tăng xói lở lòng sông, bờ biển, đặc biệt là làm giảm mức độ tiến ra<br /> biển của mũi Cà Mau như hiện nay.<br /> 13<br /> - Giảm lũ đầu vụ (tháng VIII): Lũ đầu vụ (tháng VIII) nếu lớn sẽ ảnh hưởng đến thu<br /> hoạch vụ Hè-Thu, song nếu nhỏ hoặc biến mất thì vô cùng nguy hại, đặc biệt đến hàm<br /> lượng phù sa (vì 60-70% lượng phù sa trong năm tập trung vào 3 tháng đầu mùa lũ),<br /> chất hữu cơ cho đồng ruộng, thức ăn cho thuỷ sản, nguồn giống và sự trưởng thành<br /> thuỷ sản tự nhiên.Ngoài ra, nước lũ về sau tháng VIII sẽ là nước lũ trong hơn nên khả<br /> năng đào xói cũng mạnh hơn.<br /> - Suy giảm chất lượng nước: Theo đánh giá của MRC, chất lượng nước của hạ lưu<br /> Mekong, đặc biệt vùng châu thổ sẽ có xu thế giảm, rõ rệt nhất là từ sau năm 2030.<br /> - Suy giảm diện tích đất ngập nước: ĐBSCL tuy diện tích đất ngập nước tự nhiên hiện<br /> không còn nhiều, ngoài rừng ngập mặn ven biển còn một số Vườn Quốc gia như U<br /> Minh Thượng, U Minh Hạ, Tràm Chim và Khu Bảo tồn tự nhiên như Lung Ngọc<br /> Hoàng, Láng Sen, Trà Sư…, song đều có ía trị cao về mặt bảo tồn đa dạng sinh học. Hệ<br /> thống hồ chứa thượng lưu sẽ tác động nhất định đến diện tích (làm giảm 640 ha) và chất<br /> lượng các vùng đất ngập nước ở ĐBSCL.<br /> - Gia tăng những vấn đề nóng về môi trường: Do sự tác động đến dòng chảy và chất<br /> lượng nước theo xu thế gia tăng cực trị, sự vận hành của hệ thống hồ chứa thượng lưu<br /> cũng sẽ gây nên và làm tăng thêm những vấn đề nóng về môi trường, đặc biệt vấn đề<br /> xuyên biên giới.<br /> - Suy giảm những loài di cư: Các đập trên dòng chính, cho dù được xử lý có đường<br /> cho cá đi, cũng sẽ gây những tác động tiêu cực lên các loài di cư, đặc biệt các loài di cư<br /> từ thượng xuống hạ lưu và ngược lại trong năm, trong đó, những loài cá có kích thước<br /> lớn (như cá vược, cá hô...).<br /> - Giao thông thủy: Giao thông thuỷ có lẽ là ngành bị ảnh hưởng lớn nhất bởi sự xây<br /> dựng và vận hành của hệ thống hồ chứa thượng lưu. Mặc dù có thể bố trí âu thuyền,<br /> nhưng sự lưu thông của tàu thuyền có những ảnh hưởng không nhỏ. Ngoài ra, còn là tác<br /> động của vận hành hồ chứa, trong đó có sự đóng, mở đột ngột các turbine phát điện và<br /> tràn xả lũ.<br /> 6.6 Các tác động tiêu cực lên vùng ĐBSCL do BĐKH-NBD đến 2050<br /> - Hàng nghìn năm qua, ĐBSCL có được nhờ dòng nước của sông Mekong và bồi đắp<br /> dần từ phù sa sông, bởi vậy mà hàng năm đều lấn ra biển ít nhiều. Đất liền ngày càng<br /> mở rộng (xu thế bồi nhiều hơn xu thế xói, diện tích bồi nhiều hơn diện tích xói), dòng<br /> sông ngày càng tiến ra biển. Tuy nhiên, do áp lực giảm dòng chảy lũ và dòng chảy<br /> trung bình hàng năm (là dòng chảy tạo lòng), lượng phù sa tự thượng lưu và nước biển<br /> dâng, khiến xu thế này bị chặn lại và có nguy cơ diễn biến theo chiều ngược lại. Những<br /> thay đổi về mực nước biển, về xói lở gia tăng, về mặn xâm nhập sâu hơn… trong thời<br /> gian gần đây cho thấy đất liền và biển ở ĐBSCL đang trong xu thế tranh chấp gay gắt,<br /> đang trong một cân bằng động mà có thể bị phá vỡ bất kỳ lúc nào, nếu có sự thắng thế<br /> của bên kia.<br /> - Do NBD làm gia tăng biên độ triều (từ 3,5-4,0 m hiện nay lên 4,0-4,5 m trong tương<br /> lai), khiến tăng nguy cơ xói lở bờ sông, bờ biển.<br /> - Hệ thống đê biển hiện nay có cao trình còn thấp so với yêu cầu (3,5-3,8 m ven biển<br /> Đông và 2,2-2,4 m ven biển Tây) nên đều có thể bị ngập do NBD. Vì thế phải được<br /> xem xét nâng lên thêm từ 0,6-1,2 m ở biển Đông và 0,4-0,6 m ở biển Tây từ nay đến<br /> 2050.<br /> - ĐBSCL hiện nay có khoảng 6,5 triệu người sống ở vùng ven biển. Đến năm 2050,<br /> <br /> 14<br /> theo dự báo, con số này sẽ là khoảng 11,5 triệu người. Khi NBD cộng với BĐKH và<br /> phát triển thượng lưu sẽ dẫn đến nguy cơ người dân vùng ven biển không có nước sinh<br /> hoạt.<br /> - Theo quy hoạch phát triển công nghiệp, vùng ven biển sẽ hình thành nhiều khu và<br /> cụm công nghiệp mà hầu hết là công nghiệp dùng nhiều nước. BĐKH và NBD sẽ làm<br /> cho vùng ven biển không đủ khả năng cấp nước từ nguồn nước mặt cho các khu công<br /> nghiệp này.<br /> - Hiện vùng ven biển có nhiều dự án kiểm soát mặn phục vụ sản xuất, như Gò Công,<br /> Bảo Định, Bắc Bến Tre, Nam Măng Thít, Ba Rinh-Tàm Liêm, Tiếp Nhật, QLPH…. Các<br /> dự án ngăn mặn này sẽ không thể đủ nước để sản xuất 2 vụ nếu mặn xâm nhập sâu hơn<br /> do thiếu nước ngọt từ thượng lưu và NBD.<br /> - Một số đô thị gần biển hiện nay như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc<br /> Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên… sẽ bị ảnh hưởng mặn cần phải di<br /> chuyển vị trí nguồn cấp lên thượng lưu. Việc cấp nước cho các thị trấn, khu dân cư ven<br /> biển sẽ ngày càng khó khăn và tốn kém hơn.<br /> - Do BĐKH ở ĐBSCL, hạn trên 7 ngày, 10 ngày ngay trong mùa mưa, đặc biệt hạn Bà<br /> Chằng sẽ gia tăng khoảng 1,5 lần do mùa mưa đến muộn và tổng số ngày mưa trong<br /> năm giảm.<br /> - Do lũ những năm lũ lớn có xu thế lớn hơn và mùa lũ kéo dài hơn, dẫn đến các vùng<br /> ngập sâu hiện nay (khoảng 900.000 ha) có nguy cơ không đủ thời gian gieo trồng hai<br /> vụ.<br /> - Nhiều tuyến giao thông, đặc biệt các tuyến giao thông vùng ngập trung bình và sâu ở<br /> vùng ngập lũ sẽ có nguy cơ bị ngập từ 0,2-0,5 m (ngập ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng<br /> hơn là phải nâng mực nước thiết kế hiện nay lên).<br /> - Cũng do lũ lớn tăng, các nền và tuyến dân cư được xây dựng theo quyết định của<br /> Chính phủ trong Chương trình cụm tuyến dân cư vùng lũ cũng sẽ có nguy cơ bị ngập.<br /> - Thêm nhiều thị trấn, thị xã và thành phố 13 tỉnh ĐBSCL bị ngập nước.<br /> - Nền các khu công nghiệp vùng ngập lũ cũng có nguy cơ bị ngập từ 0,2-0,5 m.<br /> - Nước biển dâng sẽ khiến khả năng thoát lũ từ nội đồng ra sông chính, từ ĐTM sang<br /> Vàm Cỏ Tây và đặc biệt từ vùng TGLX ra biển Tây giảm do chân triều tăng cao hơn.<br /> 6.7 Tác động tích cực có thể có lên vùng ĐBSCL do BĐKH-NBD đến 2050<br /> BĐKH, đặc biệt là NBD, ngoài những tác động tiêu cực như đã phân tích trên đây,<br /> còn có những tác động mang tính tích cực và trong quy hoạch này cần nhận biết để lợi<br /> dụng triệt để chúng. Những mặt tích cực được nhận biết gồm:<br /> - Nhờ NBD sẽ làm nâng cao đầu nước trên hệ thống sông kênh, tăng khả năng tưới tự<br /> chảy ở vùng ven sông và cửa sông (như ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long...).<br /> - Do tác động của NBD sẽ ảnh hưởng mạnh hơn trên dòng chính (rộng nên khả năng<br /> truyền triều mạnh hơn), vì thế, nguồn nước ngọt có xu thế chuyển nhiều hơn sang hai<br /> phía Bắc và Nam của ĐBSCL, bao gồm các hệ thống sông Cái Lớn-Cái Bé và sông<br /> Vàm Cỏ.<br /> - Cũng nhờ tăng đầu nước nên nếu có nguồn ngọt ổn định và dồi dào, khả năng chuyển<br /> nước vào nội đồng sẽ được gia tăng đáng kể.<br /> - Do mực nước biển trung bình gia tăng nên có thể kéo theo tác động làm gia tăng mực<br /> nước ngầm.<br /> <br /> 15<br /> - Tăng khả năng tương tác sông-biển, tạo điều kiện tốt hơn cho đa dạng sinh học vùng<br /> cửa sông.<br /> - Thuận lợi hơn trong tiếp nhận nước mặn-lợ từ biển.<br /> - Giao thông thủy thuận tiện hơn..<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 04: Sơ đồ quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD<br /> VII. CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH THỦY LỢI<br /> 7.1 Những tiền đề chính cho quy hoạch thuỷ lợi<br /> 7.1.1 Xu thế phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL<br /> - Nông nghiệp vẫn sẽ là ngành quan trọng đối với sự ổn định và phát triển ĐBSCL<br /> trong tương lai; lúa vẫn sẽ là cây trồng chính và chủ đạo trong nhiều năm đến.<br /> - Thủy sản là một trong hai ngành chính có lợi thế cạnh tranh và giá trị xuất khẩu cao ở<br /> ĐBSCL.<br /> - Phát triển cây ăn trái, cây công nghiệp, rau màu… theo hướng đa dạng hóa nông<br /> nghiệp.<br /> - Ổn định diện tích lúa khoảng 1,781 triệu ha, sản lượng 21-22 triệu tấn, xuất khẩu đạt<br /> 4,5-5,0 triệu tấn.<br /> - Chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất lúa chuyên canh, hướng đến xuất khẩu, phát<br /> huy lợi thế sản xuất lúa vụ 3, thủy sản nước ngọt, nước mặn theo hướng chuyên canh và<br /> sinh thái, chuyên cây ăn trái, cây công nghiệp và phát triển đa dạng.<br /> <br /> <br /> <br /> 16<br /> 7.1.2 Xu thế phát triển kinh tế-xã hội<br /> - Quan điểm phát triển kinh tế-xã hội ĐBSCL là đặt sự phát triển của vùng trong bối<br /> cảnh phát triển tương lai quốc tế, quốc gia; Phát triển bền vững và hài hòa về kinh tế, an<br /> sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường; Phát triển<br /> cơ cấu kinh tế hợp lý, khai thác tài nguyên đặc trưng cho phát triển từng tiểu vùng; Phát<br /> triển có trọng điểm, trọng tâm, xây dựng kết cấu hạ tầng khung đồng bộ, phát triển<br /> mạnh về kinh tế và ổn định chính trị; Động lực chính phát triển vùng là kinh tế nông-<br /> lâm-thủy sản và kinh tế cửa khẩu.<br /> - Về phát triển kinh tế, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,1%/ năm giai đoạn<br /> 2011-2015 và 8,2%/năm giai đoạn 2016-2020. Đến 2020, tỷ trọng nông-lâm-ngư<br /> nghiệp trong GDP của vùng còn khoảng 30,9%, công nghiệp, xây dựng tăng lên 35,1%<br /> và khu vực dịch vụ là 34%. GDP bình quân đầu người đến năm 2020 khoảng 55,6 triệu<br /> đồng tương đương với 2.700-2.800 USD. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người<br /> đến năm 2020 đạt khoảng 1.200 USD. Góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh quốc<br /> gia và giữ vững mức xuất khẩu vào khoảng 4-5 triệu tấn gạo/năm.<br /> - Về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, tỷ lệ tăng dân số bình quân thời kỳ 2011-<br /> 2015 tăng khoảng 0,8%/năm, thời kỳ 2016-2020 tăng khoảng 0,85%/năm. Đến năm<br /> 2020, dân số của vùng đạt mức 18,8 triệu người (năm 2050 ước tính 31-32 triệu người).<br /> Tỷ lệ đô thị hóa của vùng tăng lên nhanh hơn, đạt khoảng 34,2% vào năm 2020. Phấn<br /> đấu đến năm 2020 đưa giáo dục, đào tạo và dạy nghề bằng và vượt các chỉ số phát triển<br /> của các ngành học, bậc học bình quân chung của cả nước. Đến năm 2020, giảm tỷ lệ<br /> thất nghiệp lao động ở khu vực thành thị còn khoảng 3,5-4%, đồng thời tăng tỷ lệ sử<br /> dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 88-90% tổ ng lực lượng lao động trong các<br /> ngành kinh tế. Phấn đấu đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo của đến năm 2020 khoảng 60%<br /> (trong đó đào tạo nghề là 55%). Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2-2,5%/năm. Nâng<br /> nhanh tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh; chú ý đến vùng khó khăn về nước. Đến năm<br /> 2020 về cơ bản 100% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh. Thu gom và xử lý chất<br /> thải được chú trọng.<br /> - Về quốc phòng-an ninh, đầu tư hoàn chỉnh hệ thống giao thông ra biên giới, hệ thống<br /> đồn trạm biên phòng và các khu vực phòng thủ, các khu dân cư và hạ tầng kinh tế-xã<br /> hội gắn với quốc phòng bảo vệ biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc Khơmer. Đẩy<br /> mạnh công tác giáo dục vận động quần chúng chấp hành luật pháp, hạn chế tai nạn giao<br /> thông, giáo dục nếp sống văn hoá mới, chống mê tín dị đoan.<br /> 7.1.3 Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long<br /> - Phát triển nông nghiệp, thủy sản ở ĐBSCL trên cơ sở dòng chảy kiệt sông Mê Công<br /> và xâm nhập mặn. Xâm nhập mặn là hiện tượng phức tạp ở vùng sông ảnh hưởng triều.<br /> Bài toán xâm nhập mặn trước đây luôn gắn với khai thác và sử dụng dòng chảy kiệt cả<br /> ở thượng lưu Mekong và ĐBSCL, nay lại thêm tác động của nước biển dâng nên càng<br /> phức tạp. Quản lý dòng chảy kiệt được xem là chiến lược quan trọng nhất. “Đảm bảo an<br /> ninh dòng chảy kiệt” là yếu tố sống còn đối với sự phát triển ổn định và bền vững của<br /> ĐBSCL trong tương lai.<br /> - Để phát triển và phát triển bền vững, kiểm soát lũ được xem là hướng đi tất yếu ở<br /> vùng ngập lụt ĐBSCL. Tuy nhiên, cần lưu ý những vấn đề về chuyển đổi sản xuất linh<br /> hoạt ở vùng không kiểm soát lũ để lợi dụng tối đa nguồn lợi từ lũ; Tác động tương hỗ<br /> của kiểm soát lũ đến dòng chảy kiệt và
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2