intTypePromotion=3

SKKN: Một số phương pháp về dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam (trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản)

Chia sẻ: Lê Văn Nguyên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:61

0
49
lượt xem
10
download

SKKN: Một số phương pháp về dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam (trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm đề tài "Một số phương pháp về dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam (trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản)" nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, ngành giáo dục đã có những bước tiến khả quan trong cải cách giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở các cấp phù hợp với mục tiêu giáo dục, đào tạo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số phương pháp về dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam (trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản)

  1. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1; Tên sáng kiến ­ Một số  phương pháp về  dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam (trong   chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản) 2; Lĩnh vực áp dụng sáng kiến môn Ngữ văn 3; Thời gian áp dụng sáng kiến trong học kỳ I năm học 2015 – 2016 4; Tác giả ­ Họ và tên: Trương Thị Chanh ­ Ngày tháng năm sinh: 05/11/1979 ­ Hộ khẩu thường trú: Trực Đạo – Trực Ninh – Nam Định ­ Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn ­ Đơn vị công tác: Trường THPT Trực Ninh ­ Chức vụ hiện nay: Giáo viên ­ Điện thoại: 01694865589 5; Đồng tác giả: Không 6; Đơn vị áp dụng sáng kiến ­ Tên đơn vị: Trường THPT Trực Ninh ­ Địa chỉ: Thị trấn Cát Thành – Huyện Trực Ninh – Tỉnh Nam Định ­ Điện thoại: 03503883099                                                  1
  2. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh    Đề  tài:  Một số  phương pháp về  việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại  Việt Nam (chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản) A; Lý do chọn đề tài B; Thực trạng trước khi chọn đề tài I; Thuận lợi II; Khó khăn C; Nội dung đề tài I; Cơ sở lý luận II; Nội dung và phương pháp thực hiện 1; Nội dung 1.1; Khái quát về thể kí 1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường 1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân 2; Một số  phương pháp về  việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt  Nam (Chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản) 2.1; Về phương pháp 2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại 2.1.2; Rèn luyện phương pháp đọc – hiểu cho học sinh 2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy 2.2; Giáo án tiết dạy thực nghiệm D; Hiệu quả do sáng kiến đem lại E; Kết luận G; Cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền                                                  2
  3. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh Tư liệu tham khảo   A; LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ­ Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, ngành giáo  dục đã có những bước tiến khả  quan trong cải cách giáo dục, đổi mới nội   dung, phương pháp giảng dạy  ở  các cấp phù hợp với mục tiêu giáo dục, đào  tạo. Thông qua các hội nghị  chuyên đề  môn Ngữ  văn được Sở  giáo dục , nhà   trường tổ  chức hàng năm, chúng tôi đã trao đổi, rút kinh nghiệm về  đổi mới  phương pháp dạy học. Nghị quyết hội nghị trung  ương 8 khóa XI nêu rõ: “Tiếp  tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy   tích cực, chủ  động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ  năng của người học,   khắc phục lối truyền thụ  áp đặt một chiều, ghi nhớ  máy móc. Tập trung dạy  cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật   và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực, chuyển từ  học chủ  yếu trên  lớp sang tổ  chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động ngoại khóa,  nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông  trong dạy học”.   Một trong những bài học khó của chương trình Ngữ  văn ở  trường phổ  thông  là: Các văn bản học như  thơ ca, truyện ngắn, kịch và kí, trong khuôn khổ  hạn  hẹp, sách giáo khoa không thể trích toàn bộ văn bản văn học mà có chỗ đã lược   bỏ  (hoặc mỗi tác giả  chỉ  học một tác phẩm), phần chú thích nhiều khi không  đầy đủ, điều đó gây khó khăn cho học sinh khi tiếp cận văn bản văn học  ấy   (hoặc phong cách sáng tác của tác giả ấy), nhất là đối với thể loại kí nói chung,   kí hiện đại nói riêng. Trong bài viết này, tôi xin nêu ra một số ý kiến cùng trao                                                    3
  4. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh đổi với đồng nghiệp về  “Một số  phương pháp dạy tác phẩm ký hiện đại  Việt Nam” trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản) B; THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN ĐỀ TÀI I; Thuận lợi ­ Trong sách giáo khoa ngữ  văn 12 (ban cơ  bản), có 2 tác phẩm chính khóa   thuộc thể loại ký, đó là: “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân, “Ai   đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thông thường  ta vẫn gọi “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân là tùy bút, “Ai đã   đặt tên cho dòng sông” của tác giả  Hoàng Phủ  Ngọc Tường là bút kí. Do vậy  thể  loại kí dùng để  chỉ  chung cho cả  tùy bút và bút kí. Đây là 2 tác phẩm hay   trong chương trình, hơn nữa thể loại này các em học sinh đã được học ở lớp 11  “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác, đọc thêm “Vũ trung tùy bút” của Phạm  Đình Hổ. Vì vậy khi tiếp cận với 2 tác phẩm thuộc thể  loại này, các em học   sinh gặp nhiều thuận lợi trong việc đọc hiểu tác phẩm hơn. II; Khó khăn ­ Thực trạng cho thấy nhu cầu xã hội hiện nay, trào lưu học sinh dự thi vào các  trường đại học thường chọn các môn tự  nhiên như  Toán, Lý, Hóa, Sinh (như  học sinh các lớp 12A1,2,3,4 của trường THPT Trực Ninh) nên với môn Ngữ  văn, các em không chú ý đầu tư học tập, không có hứng thú học tập. Vì lý do đó   thầy cô cũng mất đi niềm say mê truyền đạt kiến thức cho học sinh. Trong các  tác phẩm là truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ thì việc truyền đạt tương đối thoải  mái và các thầy cô cũng có những cảm hứng để  truyền đạt, bởi vì những thể  loại này “chất văn” “chất thơ” phong phú, đã làm cho thầy cô ít nhiều làm tốt   được công việc của mình. Nhưng riêng đối với tác phẩm văn học viết theo thể  loại kí thì ngược lại. Vì lẽ việc giảng dạy ký đòi hỏi người dạy phải bám chắc  đặc điểm cơ  bản của thể  loại kí, đó là tính xác thực. Tác phẩm kí thường                                                   4
  5. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh không hư  cấu mà tác giả  chỉ  lựa chọn ngay những sự  việc, những con người   vốn đã có giá trị  nổi bật trong cuộc sống để  phóng bút. Nếu thầy cô chỉ  thỏa  mãn với kiến thức có sẵn trong bài văn thì khó mà giảng hay được, dẫn đến giờ  học bài kí muôn thuở  vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản. Vì   thế, chúng ta có thể  nói rằng: Giảng dạy một tác phẩm kí là sự  khó khăn,  vất vả, công phu đối với giáo viên. ­ Cả 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là 2  tác phẩm kí dài, sách giáo khoa đã lược bớt nội dung ở một số đoạn văn, điều  đó lại gây khó cho học sinh khi tiếp cận văn bản. Thời lượng số tiết dạy chính  khóa cho 2 tác phẩm này ít (4 tiết), một số  học sinh chưa quen phương pháp  học mới, nhất là việc tự học, làm việc theo nhóm, thảo luận, thuyết trình, tìm   tư  liệu  ở  các nguồn, báo chí, intơnet…, một số  học sinh còn thụ  động, thiếu  nhiệt tình, ỷ lại vào các thầy cô… ­ Từ thuận lợi và khó khăn trên, tôi mạnh dạn đưa ra một vài phương pháp về  việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12,  ban cơ  bản, mà cụ  thể  là 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của tác giả  Nguyễn Tuân, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả  Hoàng Phủ  Ngọc  Tường. C; NỘI DUNG ĐỀ TÀI I; Cơ sở lý luận   Nghị quyết số 40/2000/QH 10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa   X đổi mới về  chương trình giáo dục phổ  thông đã khẳng định, mục tiêu của  chương   trình   đổi   mới   giáo   dục   phổ   thông   lần   này   là   “xây   dựng   nội   dung  chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới, nhằm nâng  cao chất lượng giáo dục toàn diện thế  hệ  trẻ,  đáp  ứng nhu cầu phát triển  nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với                                                    5
  6. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ phổ thông các nước phát   triển trong khu vực và trên thế  giới” . Văn bản đồng thời yêu cầu “đổi mới   chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung,   phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong luật giáo dục,  nhằm khắc phục những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường  thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức xã hội nhân  văn; bổ  sung những thành tựu khoa học công nghệ  hiện đại, phù hợp với khả  năng tiếp thu của học sinh. Bảo đảm sự  thống nhất kế  thừa và phát triển của   chương trình giáo dục”. Xét thấy việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo  khoa, phương pháp dạy và học, phải thực hiện đông bộ với việc nâng cấp, đổi  mới trang thiết bị  dạy học, đánh giá, thi cấp, đổi mới trang thiết bị  dạy học,   đánh giá thi cử. Đứng trước yêu cầu trên, là một giáo viên môn Ngữ văn, tôi có  những suy nghĩ là làm sao để  giờ  học phải   thực sự  hấp dẫn, học sinh nắm   vững bài học, thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm hồn, phát triển trí tuệ học sinh,   biết cảm thụ được cái hay, cái đẹp, giá trị của mỗi tác phẩm văn học. Trên cơ  sở  đó, tôi xin đưa ra một số ý kiến để  cùng chia sẻ, bàn bạc, trao đổi về  việc  dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ  văn 12 (ban cơ  bản), mà cụ  thể  là 2 tái phẩm; đọc hiểu văn bản chính khóa: “Người lái đò  Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của nhà  văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. II; Nội dung và những phương pháp về  việc giảng dạy kí hiện đại Việt  Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản) 1; Nội dung 1.1; Khái quát về thể kí                                                  6
  7. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh   Kí là một loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ kí lịch sử, dùng để ghi chép về  con người, sự  vật, phong cảnh…kí bao gồm nhiều thể  như: Bút kí, hồi kí, du  kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút…   Trong văn học cổ phương Đông, thể kí vốn có mặt từ thời kỳ tiền Tần và về  sau phân thành 2 nhánh: có kí của sử và kí của truyện. Trong một thời gian khá  dài thì kí là tiền thân của tiểu thuyết, có khi tên gọi kí cũng dùng cho tiểu   thuyết hay một câu chuyện có kịch tính như Tây du kí, Tây sương kí…      Trong nền văn học Việt Nam, kí có từ  rất lâu đời, nhưng phải đến thế  kỉ  XVII, đặc biệt là từ thế kỷ XIX, khi đời sống các dân tộc ngày càng phát triển   nâng cao, khi kỹ  nghệ  in  ấn và báo chí phát triển, khi văn học cũng đã thâm  nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác của xã hội và nhà văn có ý thức  tham gia vào các cuộc đấu tranh xã hội, kí mới thực sự phát triển và là thể loại  phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự thời trung đại. Kí có những đặc trưng cơ bản sau: ­ Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, kí đòi hỏi sự trung  thực, chính xác. Người viết kí thường quan tâm, tôn trọng những sự kiện xã hội   lịch sử, những vấn đề  nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống. Người viết kí  miêu tả thực tại tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử  học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành, có thời gian, địa điểm,  hành động và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh gợi không khí. ­ Tác giả  kí khéo sử  dụng tài liệu đời sống kết hợp với tư  tưởng, cảm thụ,   nhận xét, đánh giá. Tất nhiên đan xen vào mạch tự  sự  con có những đoạn thể  hiện suy tưởng nhận xét chân thực, tường minh của nhà văn trước sự việc. cái  thú vị của kí là những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc   tái hiện đối tượng.  Vì vậy sức hấp dẫn của kí là khả năng tái hiện sự thật một   cách sinh động của tác giả. Kí chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những                                                    7
  8. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc   sống. Điều đó làm nên cái đẹp của tác phẩm kí. ­ Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là chất chủ  quan, chất trữ  tình sâu đậm   của cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn  của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo…) 1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường ­ Kí Hoàng Phủ  Ngọc Tường bộc lộ  một trí tuệ  sắc sảo, uyên bác: Nhà văn  hiểu tường tận những gì mà mình viết. Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu lượng   thông tin, đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với một kho kiến   thức phong phú. Nhà văn hiểu sâu sắc về văn hóa, triết học, lịch sử, địa lý, âm  nhạc, điện ảnh, văn chương nghệ thuật… ­ Kí Hoàng Phủ  Ngọc Tường thiên về  tùy bút. Đọc những trang kí của Hoàng   Phủ  Ngọc Tường cảm nhận về  thể kí có sự  thay đổi thú vị. Thể  loại chuyên  ghi chép các sự  kiện xác thực qua ngòi bút Hoàng Phủ  Ngọc Tường lại thấm   đẫm chất trầm tư, trữ tình như: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, “Hoa trái quanh  tôi”…chính là sản phẩm của một phong cách kí độc đáo, với những trang viết  vừa trí tuệ, vừa nặng trĩu trầm tư. ­ Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có chất tự do, tản mạn. Sự kiện đôi khi chỉ là  cái cớ để nhà văn bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình. Cách tổ  chức văn bản mang tính nghệ thuật cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi  cảm. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong những bút kí mang đậm dấu  ấn phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường. ­ Xuyên suốt các tác phẩm kí của Hoàng Phủ  Ngọc Tường là lòng yêu quê   hương đất nước, là tâm huyết với tinh hoa dân tộc. Ông luôn gắn cái đẹp, gắn   nghệ thuật với những truyền thống văn hóa dân tộc. Những mẩu kí của Hoàng   Phủ  Ngọc Tường, dù viết về  vùng nào, dù viết về  những năm tháng chiến                                                    8
  9. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh tranh hay cuộc sống đương đại, đều lấp lánh niềm tự  hào về  những nét đẹp  của quê hương đất nước. Viết về vùng đất Mũi, nhà văn truyền cho người đọc  niềm vui sướng tự  hào về  “món quà tặng của biển cả  dành cho đất nước ta”  (Rừng nước mặn). Viết về  Lạng Sơn bằng những con chữ lóng lánh tài hoa,  nhà văn thổi vào người đọc hương thơm nhẹ  nhàng quyến rũ của cây hồi “nó   thân thiết và mơ  hồ  như  một kỉ  niệm” (Rừng hồi). Viết về  Huế, Hoàng Phủ  Ngọc Tường lại đưa người đọc về  vùng đất cố  đô trầm mặc, thơ  mộng với  những khu vườn xanh, thiên nhiên xanh, dòng sông xanh (Ai đã đặt tên cho dòng   sông?). 1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân  ­ “Người lái đò Sông Đà” mang đặc điểm phong cách nghệ  thuật của Nguyễn   Tuân. Nguyễn Tuân là người đã đóng dấu “cái tôi độc tấu” của ông lên thể loại  tùy bút. Ông là nhà văn đem đến cho tùy bút những phẩm chất nghệ thuật mới   theo cách nói vui vui của ông: Tùy bút là tùy vào bút mà viết, tùy bút của ông có   những đặc điểm in đậm cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của ông. Vì  vậy, khi giảng dạy tác phẩm, thầy cô giáo cần lưu ý một số  đặc điểm sau về  tùy bút của nhà văn: + Tùy bút của Nguyễn Tuân có nhiều yếu tố  truyện. Nguyễn Tuân bén duyên  với truyện trước, sau đó mới gặp gỡ  với tùy bút. Vì vậy truyện ngắn của ông  xen chất tùy bút và tùy bút lại pha chất truyện ngắn. Tùy bút của ông thường   phát huy sức mạnh của trí tưởng tượng, liên tưởng, so sánh để  dựng cảnh,  dựng truyện, có mô tả  tâm lý, khắc họa tính cách nhân vật  ở  một chừng mực   nhất định. + Tùy bút của Nguyễn Tuân rất đậm chất kí. Ghi chép sự thật và thông tin thời  sự, chính xác, đó là nét riêng của tùy bút Nguyễn Tuân. Cũng do quan niệm đi,  sống và viết, xê dịch nên tùy bút của ông pha chút du kí, kí sự  hay phóng sự                                                   9
  10. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh điều tra. Chính nét riêng này khiến tùy bút của ông có lượng thông tin đáng tin   cậy và có nhiều giá trị tư liệu. + Tùy bút của Nguyễn Tuân giàu tính trữ tình. Những trang tùy bút của Nguyễn  Tuân giàu tính cảm xúc, lắng thấm những cảm nghĩ của ông, thông qua cái “tôi”  chủ quan của ông mà phản ánh hiện thực cuộc sống. + Tùy bút của Nguyễn Tuân đúng nghĩa tự  do về  phép tắc. Tùy bút là một tác   phẩm tự sự  có kết cấu lỏng lẻo, nhưng không buông tuồng dễ  dãi. Ở  tùy bút  của Nguyễn Tuân, mạch văn cứ  theo dòng suy nghĩ mà tràn chảy miên man từ  truyện nọ tạt sang truyện kia. Nhà văn cứ  theo hứng bút, cứ  nhởn nhơ  theo trí   nhớ bông lông, theo năng lực cảm thụ cái đẹp rất tài hoa nghệ sĩ của mình mà  liên tưởng so sánh, tạo những bước nhảy vọt bất ngờ của ý tứ, của hình ảnh,  nhưng không chệch ra ngoài vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật. + Tùy bút của Nguyễn Tuân có phẩm chất văn chương qua sự tìm tòi sáng tạo   về cách diễn ý, tả cảnh, đặt câu, dùng từ. Văn tùy bút của Nguyễn Tuân là cả  một kho tu từ đầy ắp và thú vị những ví von, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng. Nhà  văn tả cảnh theo sự thay đổi cảm giác rất tinh tế “Bờ sông hoang dại như một  bờ tiền sử…hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thuở xưa” (Người lái đò Sông  Đà). Câu văn tùy bút của Nguyễn Tuân có kiến trúc đa dạng, giàu nhạc tính. + Tùy bút của Nguyễn Tuân là sự  kết tinh tài hoa và uyên bác, khi tập trung   miêu tả con Sông Đà bằng sự huy động vốn liếng tri thức chuyên môn cực kỳ  giàu có của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, quân   sự, tri thức về  võ thuật, nghệ  thuật văn chương, hội họa, điêu khắc âm nhạc,  điện  ảnh…). Và một khi đã miêu tả  thì ông tả  đến cùng sự  vật hiện tượng,   đúng là tả đến “Sơn cùng thủy tận”, uống rượu cả cấn “Dĩ tận vi độ”. * Những đặc trưng cơ  bản trên đây của các tác phẩm kí sẽ  là điểm tựa cho  thầy cô giáo trong việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam.                                                   10
  11. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh 2; Một số  phương pháp về  việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam trong  chương trình Ngữ  văn 12  (ban cơ  bản) qua 2 tác phẩm “Người lái đò Sông  Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả  Hoàng Phủ Ngọc Tường. 2.1; Về phương pháp   Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh là những bạn đọc còn hạn chế  về  vốn  sống, kinh nghiệm thực tế nhưng lại có khả năng rung động và có cảm xúc đặc  biệt với tác phẩm văn học. Vì vậy vai trò của thầy cô giáo là phải bổ sung, bồi  dưỡng vốn sống, phát triển các năng lực cảm thụ  cho học sinh và hướng dẫn   họ  đến với tác phẩm văn học một cách đúng nhất, gần nhất. Để  làm được  nhiệm vụ  cao quý và nặng nề  này, thầy cô giáo cần có những phương pháp   thích hợp, đồng thời phải biết cách sử  dụng phối hợp các phương pháp phân  tích tác phẩm một cách nhuần nhuyễn nhất, nhằm giúp học sinh vừa nắm bắt  tri thức, vừa nắm bắt phương pháp học tập nghiên cứu. 2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại.   Chú ý đến đặc trưng của thể loại vừa là một yêu cầu vừa là một nguyên tắc  của quá trình phân tích và giảng dạy tác phẩm văn học. Với thể  loại kí, việc  tìm hiểu đặc trưng thể loại lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Nắm vững và   bám sát vào đặc trưng của thể kí, người đọc sẽ khám phá được cái hay, cái đẹp  của tác phẩm. Qua thực tế giảng dạy, tôi rút ra một số kinh nghiệm cơ bản khi   dạy 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã  đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường như sau: 2.1.1.1; Cho học sinh phát hiện ra nét tương đồng và khác biệt của đối  tượng được tác giả phản ánh trong 2 tác phẩm kí so với đối tượng tương                                                    11
  12. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh tự có thật ở ngoài đời. Vì kí viết về sự thật, người thật, việc thật nên đòi hỏi   phải chính xác, trung thực. Việc này là rất cần thiết. ­ Sông Đà và sông Hương khi đi vào 2 tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng  Phủ  Ngọc Tường đã trở  thành đối tượng thẩm mỹ  của nhà văn. Con sông Đà  nếu chỉ  được Nguyễn Tuân ghi chép bằng những số  liệu đơn thuần như  một   nhà địa lý (tên khai sinh, độ dài…) thì cái phần hồn hung bạo và thơ mộng của  nó sẽ  không được phát hiện. Dòng sông Hương của xứ  Huế  thơ  mộng cũng   vậy. Nếu Hoàng Phủ  Ngọc Tường chỉ  ghi lại các khúc đoạn trong dòng chảy  của nó từ thượng nguồn về với Huế không thôi thì sẽ không có gì hấp dẫn, mà   cái hấp dẫn chính là  ở  chỗ  tác giả  tưởng tượng sông Hương như  một con  người có số phận, có tâm hồn (cô gái Digan) có hành động cụ thể dưới những  điểm nhìn khám phá khác nhau. Khi thì sông Hương như một cô gái mang trong  mình tình yêu tha thiết với thành phố  Huế, khi lại là một người mẹ  sản sinh   cho xứ Huế những giá trị văn hóa truyền thống cùng âm nhạc, thi ca, khi lại là  một nhận chứng của lịch sử đầy oai hùng hiển hách. 2.1.1.2; Học sinh phát hiện và đánh giá óc quan sát, trí liên tưởng, tưởng   tượng năng lực sử dụng ngôn ngữ của 2 nhà văn.    Sức hấp dẫn của kí chính là ở  khả  năng tái hiện sự  thật một cách sinh động  của tác giả. Nếu chỉ  đơn thuần là ghi chép thì tác phẩm kí hết sức khô khan  không gây được  ấn tượng với người đọc.  Ở  đây Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ  Ngọc  Tường   đều  rất   “tài   hoa”,  luôn  nhìn  cuộc  sống,  sự  vật,  con  người   ở  phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ, nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp của hiện   thực cuộc sống. Đồng thời cả  2 nhà văn cũng rất “uyên bác”: hiểu biết sâu   rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và có thể  cung cấp, đóng góp, lí giải những  kiến thức đó cho người khác. ­ Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân                                                  12
  13. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh + Khi khám phá vẻ đẹp hung bạo của con sông, Nguyễn Tuân đã vận dụng tri   thức của nhiều ngành để  miêu tả  tính cách của con sông mà ông gọi là “loài  thủy quái khổng lồ” là “kẻ  thù số  một” của con người. Nhà văn đã huy động  vốn kiến thức của điện  ảnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, thậm chí cả  lĩnh  vực quân sự, võ thuật, thể  thao để  miêu tả  thác nước, hút nước và những hòn  đá, tảng đá trên sông Đà mà nó đã bày sẵn những thạch trận trên sông nước để  chờ “ăn chết cái thuyền nào qua đấy”.   Như vậy, nhờ vào khả năng sử  dụng ngôn ngữ liên ngành và trí tưởng tượng  tài hoa của tác giả, học sinh vừa hiểu được đặc điểm thực của sông Đà, vừa bị  cuốn hút vào tài năng miêu tả của Nguyễn Tuân. + Khi khám phá vẻ  thơ  mộng, trữ  tình của con sông, lại cần phát hiện ra sự  thay đổi, di chuyển điểm nhìn và cách miêu tả. Dòng sông  ấy được  chiêm  ngưỡng từ trên cao nhìn xuống. Hình dáng con sông Đà được ví như  một “sợi   dây thừng ngoằn ngoèo” và dễ thương, đáng yêu biết bao, qua phép so sánh liên  tưởng độc đáo “sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ  tình”. Đó là cái   dáng mềm mại nên thơ  như  một người phụ  nữ  kiều diễm  đang làm duyên  trước trùng điệp thiên nhiên Tây Bắc…sông Đà không còn là kẻ  thù của con  người nữa mà đã là một “cố  nhân, tình nhân” đầy nỗi niềm lâu ngày gặp lại.  Cảm nhận sông Đà ở vẻ đẹp trữ tình, nhà văn còn quan sát nước sông Đà thay   đổi theo mùa, của bờ bãi hoang sơ, của mặt nước lặng yên như tờ, hay của đàn  hươu thơ ngộ ngẩng đầu ngốn búp cỏ non. + Với hình tượng ông lái đò: Nhân vật này không được khắc họa thành số phận   như  trong tác phẩm tự sự. Thực ra đó chỉ  là một khoảnh khắc trên sông nước   để  qua đó Nguyễn Tuân tôn vinh con người lao động trong thời kỳ  mới – thời  kỳ miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để chứng minh tài nghệ của ông đò,  tác giả đã hư cấu một cuộc vượt thác sông Đà có một không hai để thấy được                                                    13
  14. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái  ung dung tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện  trong lao động và chiến đấu. Viết ông lái đò cũng là cách Nguyễn Tuân tôn vinh  vẻ  đẹp của con người lao động bình thường, giản dị  nhưng phi thường trong   nghề nghiệp, đó là chất “vàng mười” mà Nguyễn Tuân suốt đời đi tìm cái đẹp  đó. ­ Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường  Ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông huy động nguồn tri thức phong phú thuộc các  lĩnh vực địa lí, lịch sử, văn hóa để xây dựng một hình tượng sông Hương. + Vẻ  đẹp thiên nhiên của sông Hương là kết quả  của những tri thức địa lí và   khả năng quan sát sắc sảo của người trần thuật. •  Ở thượng nguồn: Sông Hương mang vẻ  đẹp hùng vĩ “chảy rầm rộ…”, sông  Hương “phóng khoáng và man dại” như một con người có “bản lĩnh gan dạ…” • Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, sông Hương giấu kín cuộc hành  trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, nhà văn đã sử dụng biện pháp nhân hóa   để biến sông Hương từ một cô gái Digan thành “người gái đẹp nằm mơ màng  giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại…” • Ra khỏi vùng núi, sông Hương trở nên dịu dàng “uốn mình theo những đường   cong thật mềm”… “dòng sông mềm như tấm lụa…” ở chặng này, sông Hương  trở thành “người mẹ phù sa” mang “vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ”. • Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm in bóng   cầu Tràng Tiền trông “nhỏ  nhắn như  những vành trăng non” “uốn một cánh  cung rất nhẹ”. Dòng sông như “vui tươi hẳn lên” và đặc biệt chậm rãi, êm dịu  mềm mại…dòng sông như “một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. • Trước khi rời khỏi thành phố thân yêu, sông Hương lưu luyến mà nhà văn đã  ví sự  “dùng dằng” của sông Hương như  nàng Kiều “chí tình trở  lại tìm Kim                                                    14
  15. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”. Đây đúng là một phát  hiện, một liên tưởng thú vị, độc đáo và đậm màu sắc văn chương của tác giả  về dòng sông thân thương của xứ Huế. + Từ góc nhìn văn hóa:     Vẻ  đẹp văn hóa của sông Hương là kết quả  của những tri thức văn hóa về  một thành phố, từng là cố  đô. Sông Hương tự  bản thân nó đã mang những  phẩm chất văn hóa độc đáo. Nhà văn có sự  liên tưởng độc đáo khi cho rằng   toàn bộ  nền âm nhạc cổ  điển Huế  được sinh thành trên mặt nước dòng sông  này. Và hơn hết dòng sông thi ca và âm nhạc  ấy là nguồn cảm hứng bất tận   của nghệ thuật. Sông Hương không bao giờ tự lặp lại trong cảm hứng của các   nghệ sĩ. + Từ góc nhìn lịch sử:   Vẻ đẹp lịch sử của sông Hương là kết quả của những tri thức về lịch sử, sông   Hương gắn với lịch sử anh hùng của xứ Huế, của đất nước…sông Hương gắn   với dòng sông thiêng Linh Giang oai hùng một thuở, gắn với thế kỷ XVIII với   người anh hùng áo vải Quang Trung, gắn với cách mạng tháng Tám hào hùng bi  tráng, gắn với Mậu Thân rung chuyển cả miền Nam. Sông Hương là một minh   chứng của lịch sử từ thời cổ đại, qua trung đại đến hiện đại. * Thế  đấy, sông Hương của Hoàng Phủ  Ngọc Tường không đơn thuần chỉ  là   một dòng chảy của quê hương, nó còn là dòng sông của lịch sử, của văn hóa,  của tình yêu Huế và con người nơi đây. 2.1.1.3; Học sinh phát hiện được đặc điểm của “cái tôi” tác giả trong mỗi   bài kí.    Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ  quan, chất trữ  tình sâu đậm  của cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn  của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo)                                                  15
  16. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh ­ “Cái tôi” của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò sông Đà”.   Sở dĩ Nguyễn Tuân tìm đến và thành công với thể tùy bút, bởi vì nó là thể văn   phóng túng, tự  do, đáp  ứng được cá tính “ngông” trên trang viết của Nguyễn  Tuân. Là nhà văn có phong cách nghệ  thuật đặc sắc Nguyễn Tuân hấp dẫn  người đọc bởi “cái tôi” độc đáo, sự  tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh   tế, nghệ  thuật sử  dụng ngôn từ  điêu luyện, giàu hình  ảnh, cảm xúc. Sức hấp  dẫn của ngòi bút Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là ở sự  độc đáo, sự giàu có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn  từ… + Đó là một cái tôi tài hoa: Luôn nhình cuộc sống, sự vật, con người  ở phương   diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và mỹ lệ  của thiên nhiên, đất nước. Với đôi mắt của nhà văn suốt đời “duy mĩ”, Nguyễn   Tuân đã nhìn sông Đà  ở  góc độ  thẩm mỹ  để  phát hiện ra vẻ  đẹp trữ  tình của   con sông: Sông Đà được ông ví như một người con gái đẹp kiều diễm với “áng  tóc mun ngàn ngàn vạn vạn sải” với màu sắc của nước sông Đà thay đổi theo  mùa, sông Đà gợi cảm, sông Đà “hoang dại như  một bờ  tiền sử, bờ sông hồn   nhiên như  một nỗi niềm cổ  tích tuổi xưa”. Không chỉ  nhìn cảnh vật  ở  điểm   nhìn văn hóa thẩm mỹ, Nguyễn Tuân còn nhìn người lái đò ở góc độ nghệ sĩ để  phát hiện ra tài năng trong nghệ  thuật vượt thác leo ghềnh, khi đã nắm chắc  được “binh pháp” của thần sông, thần đá “thuộc lòng các luồng sinh tử” của   các con thác dữ  nên chủ  động trong mọi tình huống, có thể  lái con thuyền vút   vút qua hàng trăm ghềnh đá ngổn ngang hiểm hóc và Nguyễn Tuân đã gọi đó là  “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái  ung dung, tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện   trong lao động và chiến đấu.                                                  16
  17. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh + Ở Nguyễn Tuân còn là một cái tôi “uyên bác”: “Uyên bác” là sự hiểu biết sâu   rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghệ  thuật và có thể  cung cấp, đóng góp, lý  giải những kiến thức đó cho người khác. • Trong tác phẩm ông hay vận dụng những tri thức của rất nhiều ngành nghệ  thuật, thậm chí cả những ngành không liên quan gì đến nghệ thuật để miêu tả,   khám phá hiện thực. Nó có tác dụng làm cho người đọc nhìn nhận hiện thực ở  nhiều góc độ  và cung cấp cho người đọc một lượng thông tin hết sức phong   phú ngoài văn chương. • Chẳng hạn, ông mô tả cái hút nước khủng khiếp của sông Đà bằng kỹ thuật   phim  ảnh “tôi sợ  hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn   truyền cảm giác lạ cho khán giả…” nhà văn còn sử dụng tri thức của quân sự,   võ thuật để miêu tả nước, đá ở sông Đà: Nào là cửa sinh, của tử, đánh khuýp vu  hồi, đánh du kích, phục kích, đánh giáp lá cà, nào là đòn tỉa, đòn âm, đá trái, thúc  gối, túm thắt lưng… • Ngoài ra nhà văn còn vận dụng những tri thức của nhiều bộ  môn khoa học   trong tác phẩm của mình, một vốn văn hóa phong phú, lịch lãm hiếm thấy, làm  cho bài tùy bút của ông có giá trị văn hóa cao. Tác phẩm “Người lái đò sông Đà”  đã giúp người đọc hiểu được rất nhiều điều bổ  ích về  lịch sử, địa lí sông Đà,  về lịch sử cách mạng xung quanh con sông này, về địa hình địa thế  của nó, về  những con thác đủ  loại, về  các tài nguyên đất nước vùng sông Đà, về  những   bài thơ của Nguyễn Quang Bích, Tản Đà…về con sông miền Tây của Tổ quốc  này. * Ở “Người lái đò sông Đà”, lâu nay người ta chỉ quen thấy một cái tôi tài hoa,  uyên bác. Nhưng rõ ràng thông qua cái tôi  ấy, người đọc còn nhận thấy được   tác phẩm còn là cảm hứng ngợi ca đầy say mê của một con người yêu tha thiết                                                   17
  18. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh vẻ  đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người như  Nguyễn Tuân – suốt đời đi  tìm cái đẹp, cái đẹp của một cây bút tài hoa độc đáo... ­ “Cái tôi” trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường  + Cái tôi say mê kiếm tìm cái đẹp, dạt dào cảm xúc và luôn gắn bó với thiên   nhiên. • Trong kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, cái tôi tác giả gắn kết, hòa nhập thật   sự với sông nước, trời mây, cây cỏ, ngàn thông. Những trang kí của Hoàng Phủ  Ngọc Tường mang đến cho người đọc những miền không gian xanh thắm,  ẩn  chìm những viết trầm tích văn hóa từ thiên nhiên. Sự  hòa nhập với thiên nhiên  khiến nhà văn đã viết lên những trang văn vừa giàu lượng thông tin, vừa mượt  mà, đẹp như một bài thơ. • Thiên nhiên trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là phiên bản tâm hồn  của nhà văn. Sông Hương trong thơ ông không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên  thuần khiết mà còn lấp lánh chất nhân văn của một triết lí sống. Cái tôi có lúc   thoát hẳn sự ràng buộc của bản thể để hoà nhập vào sông nước. • Cảm xúc vô cùng phong phú, có khi nó được bộc lộ  trực tiếp với các trạng  thái nội tâm: vừa thích thú, vừa lãng đãng, miên man trong vẻ  đẹp của dòng  sông đang đổi sắc không ngừng “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” hay cái điệu  chảy “như  một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” trong trăm nghìn ánh  hoa đăng…có khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại được bộc lộ dán  tiếp trong cuộc hành trình lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện:  ngỡ ngàng nhận ra điểm tương đồng giữa con sông và con người ở “nỗi vương   vấn và chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, đồng thời cùng hoài niệm đến khắc  khoải khi phát hiện ra một sắc màu xưa cũ của chiếc áo cưới ở Huế ngày xưa,  rất  xưa “màu áo lục điều…”                                                  18
  19. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh • Rõ ràng Hoàng Phủ  Ngọc Tường đã đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và   những cảm xúc sôi nổi say sưa phổ  vào trang viết để  rồi mỗi dòng văn như  một nốt nhạc, bản đàn để tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương. + Cái tôi yêu quê hương đất nước hướng về cội nguồn: “Ai đã đặt tên cho dòng   sông?” là một bài ca, ca ngợi sông Hương gắn với thiên nhiên văn hóa và con  người xứ  Huế. Bằng tấm lòng yêu thương gắn bó với quê hương đất nước,   Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trân trọng, tự hào về bề dày lịch sử, bề dày văn hóa  và tâm hòn con người  ở  vùng đất cố  đô. Phải yêu sông Hương lắm, nhà văn  mới xem sông Hương như một cô gái thùy mị mà đa tài, như: “một tài nữ đánh  đàn lúc đêm khuya”. Phải yêu sông Hương lắm nhà văn mới nhìn thấy dòng  sông như  một cô gái đa tình, kín đáo và một chút lẳng lơ, duyên dáng chung  tình. Phải yêu dòng sông này lắm nhà văn mới cứ băn khoăn trăn trở “Ai đã đặt  tên cho dòng sông?”, và để  trả  lời cho câu hỏi này Hoàng Phủ  Ngọc Tường  mượn một câu chuyện huyền thoại đẹp khép lại trang kí, tô đậm thêm vẻ  đẹp  lấp lánh của dòng sông Hương, đồng thời bộc lộ  cái tôi nồng cháy suy tư  “có  nhiều cách trả lời câu hỏi ấy. Trong đó tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng   vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người hai bên bờ  đã nấu   nước trăm loài hoa đổ  xuống lòng sông, để  làm nước thơm tho mãi…”, “Ai đã   đặt tên cho dòng sông?”câu hỏi bâng khuâng khơi gợi sự kiếm tìm cái đẹp tiềm   ẩn trong sông Hương và thiên nhiên, con người xứ Huế. • Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương và không gian Huế với tình yêu   nồng thắm, với trái tim thi sĩ đa cảm, đồng thời bằng con mắt của một thi sĩ  tinh tường. Nhà thơ Ra­xun Ham­đa­tốp đã từng bình luận: “Nếu nhà thơ không  tham gia vào việc hoàn thành thế  giới, thì thế  giới đã không được đẹp đẽ  như  thế này”. Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần   tạo nên một thế giới đẹp và thơ.                                                  19
  20. Người viết: Trương Thị Chanh                                             Giáo viên: Trường THPT Trực  Ninh + Một cái tôi tài hoa uyên bác   Hoàng Phủ Ngọc Tường tỏ ra am hiểu tường tận những gì mình viết. Với xứ  Huế  dường như  nhà văn hiểu sâu sắc những cành cây ngọn cỏ, tường tận từ  tên đất, tên làng. Với sông Hương, nhà văn thông thuộc từng khúc sông, từng  dòng nước, chỗ  ghềnh thác cuộn xoáy, chỗ  phẳng lặng như  mặt hồ  yên tĩnh.   Nhà văn am hiểu sâu sắc về  văn hóa Huế, nền âm nhạc cổ  điển hay những   trang thơ về  sông Hương. Vốn kiến thức uyên bác ở  nhiều lĩnh vực, đó là kết   quả  của một chuyến đi và một trí nhớ  “phi thường”. Bằng những hiểu biết   phong phú, nhà văn cung cấp cho người đọc một lượng thông tin lớn về địa lý,  dòng chảy của sông Hương, về  lịch sử, về  văn hóa, về  văn học nghệ  thuật.   Bằng những con chữ  lóng lánh tài hoa Hoàng Phủ  Ngọc Tường đã góp phần  làm nổi bật dòng sông, thiên nhiên cũng như  con người Huế. Cái tôi  ấy thật  giàu tình cảm, say mê cái đẹp của cảnh cũng như  con người xứ  Huế: Tất cả  những phát hiện về  vẻ  đẹp của sông Hương, xét đến cùng bắt nguồn từ  tình   cảm thiết tha đến đắm say của tác giả đối với cảnh và con người xứ Huế. Nếu  không có tình yêu với xứ Huế thì không thể có những trang văn hay và đẹp đến   thế về xứ Huế. * Như  vậy, những dòng sông quê hương chảy về  trong tâm tưởng ta qua ngòi   bút và tâm hồn nhà văn, giúp ta yêu hơn những dòng sông đất Việt. Điều mà  chúng ta thấy sở  dĩ họ  có những điển chung trong việc mang  đến hai hình  tượng nghệ thuật đặc sắc ấy là: Cả hai nhà văn đều là người có tài, rất mực tài   hoa uyên bác. Đều là những con người có tâm, là những trí thức giàu lòng yêu  nước và tinh thần dân tộc. Đều là những nhà văn có phong cách nghệ thuật độc  đáo, do đó tìm đến với những thể tùy bút, bút kí như một sự thỏa mãn với tình  yêu lớn, mà chỉ  có những thể  loại  ấy mới chuyên chở  được tình yêu của họ.   Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có ý thức cá nhân sâu sắc, có cá tính sáng tạo riêng,                                                   20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản