intTypePromotion=1

SKKN: Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thể loại kịch

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:33

0
154
lượt xem
35
download

SKKN: Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thể loại kịch

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Làm thế nào để trong một số tiết quá ít ỏi (7/147 tiết đọc – hiểu văn bản Ngữ Văn 10,11,12) có thể nâng cao hiệu quả giờ dạy kịch bản văn học. Đó là vấn đề không đơn giản và đòi hỏi nhiều tâm huyết, sức lực của giáo viên. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “ Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thể loại kịch”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thể loại kịch

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY THỂ LOẠI KỊCH
  2. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ PHƢƠNG PHÁP DẠY THỂ LOẠI KỊCH ******** PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Cùng với việc yêu cầu đổi mới phương pháp, Bộ giáo dục và đào tạo đã tiến hành thay sách giáo khoa. Sách giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông đã lựa chọn được một hệ thống văn bản phong phú, đa dạng về thể loại, về các thời kì và các nền văn học. Kịch là một thể loại không mới nhưng khó đối với cả giáo viên và học sinh đòi hỏi người giáo viên phải chịu khó tìm tòi, phát hiện để đi đến sáng tạo. Làm thế nào để trong một số tiết quá ít ỏi (7/147 tiết đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 10,11,12) có thể nâng cao hiệu qủa giờ dạy kịch bản văn học. Đó là vấn đề không đơn giản và đòi hỏi rất nhiều tâm huyết, sức lực của giáo viên. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin được trao đổi cùng đồng nghiệp “Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp dạy thể loại kịch”. PHẦN II: THỰC TRẠNG TRƢỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI I. Thuận lợi: - Ở Trung học cơ sở, các em đã được làm quen với những văn bản kịch: Chèo “Quan Âm Thị Kính” ( trích đoạn - 2 tiết); kịch cổ điển Pháp “Ông Giuốc đanh mặc lễ phục”( trích đoạn - 2 tiết); kịch Việt Nam “Bắc Sơn” (trích đoạn - 2 tiết); “Tôi và chúng ta”( trích đoạn - 2 tiết). Trang 1
  3. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch - Sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai thường xuyên tổ chức các chuyên đề văn học, các lớp tập huấn thay sách, đổi mới phương pháp dạy và học; tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… - Được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến nhiệt tình của quý thầy cô trong tổ chuyên môn. II. Khó khăn: 1. Đối với giáo viên: - Chương trình và sách giáo khoa lớp 11, 12 mới đang triển khai năm thứ 5, thứ 4 còn nhiều bỡ ngỡ, xa lạ. - Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, văn bản kịch là một thể loại không mới song khó, hơn nữa chiếm một tỉ lệ quá khiêm tốn so với các văn bản về thơ và văn xuôi. - Điều kiện cơ sở vật chất của trường còn thiếu thốn. - Tài liệu tham khảo về kịch không phổ biến, dễ kiếm như các thể loại văn học khác. - Kinh nghiệm thưởng thức kịch hạn chế, kĩ năng giảng dạy chưa nhiều. 2. Đối với học sinh: - Ý thức học tập và sự yêu thích kịch chưa trở thành niềm đam mê trong học sinh. - Ít hoặc chưa từng được trực tiếp xem biểu diễn kịch trên sân khấu. PHẦN III: NỘI DUNG ĐỀ TÀI I. Cơ sở lí luận 1. Khái niệm kịch: 1.1. Ở cấp độ loại hình: - Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (Kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Kịch bản vừa dùng để diễn là chủ yếu lại vừa dùng để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Theo đó, tiếp nhận kịch bản chính là tiếp nhận phương diện của văn học kịch (tr.142). Nói đến Trang 2
  4. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ và bằng lời nói (riêng kịch câm không diễn tả bằng lời). 1.2. Ở cấp độ thể loại: - “ Thuật ngữ kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch còn được gọi là chính kịch” (tr.143). Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con người bình thường nhưng mục đích chính không phải là chế giễu các thói hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã hội. Và cũng giống như bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của nó cũng không căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thỏa. 2. Đặc trƣng của kịch 2.1. Xung đột kịch - Kịch tập trung miêu tả xung đột trong đời sống. Hêghen khẳng định: “Tình thế giàu xung đột là ưu tiên của nghệ thuật kịch”. Bêlinxki cũng cho rằng “xung đột tạo nên tính kịch”. - Lấy xung đột trong đời sống làm cơ sở cho sự sáng tạo nghệ thuật, nhà viết kịch đến với hiện thực bằng con đường ngắn nhất. Pha - đê - ép đã từng khẳng định “Xung đột là cơ sở của kịch”. Xung đột kịch có thể diễn ra giữa các mặt khác nhau trong một con người, giữa các cá nhân với nhau, giữa các nhóm người, các tập đoàn người, giữa một đối tượng nào đó với hoàn cảnh xung quanh. - Xung đột kịch một khi diễn ra, phát triển liên tục không gián đoạn cho đến khi kết thúc. Quá trình diễn biến của xung đột kịch được cụ thể hóa bằng hành động kịch, đó là sự tổ chức các tình tiết, biến cố trong cốt truyện với một trình tự logic, chặt chẽ chủ yếu theo quy luật nhân quả. - Xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằm xác lập nên những quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu của tác phẩm kịch. Vì vậy, người viết kịch phải tạo được những xung đột mang ý nghĩa xã hội Trang 3
  5. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch sâu sắc, tính khái quát lớn lao nhưng phải hết sức chân thực, nghĩa là xung đột mang tính điển hình hóa. 2.2. Hành động kịch: - Xung đột kịch được cụ thể hóa bằng hành động kịch. Theo Arixtốt : “Hành động là đặc trưng của vở kịch”. Nếu xung đột được coi là điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm thì hành động lại là yếu tố duy trì sự vận hành của tác phẩm. Trong mối giao lưu đó, xung đột là nơi quy tụ, chọn lọc và tổ chức hành động kịch. Hành động kịch thường phát triển theo hướng thuận chiều với xung đột kịch. Xung đột càng căng thẳng thì thiên hướng hành động càng trở nên quyết liệt, vì thế sức hấp dẫn của tác phẩm tăng lên. - Hành động kịch không thể tự nhiên diễn ra mà phải được thực hiện bởi các nhân vật kịch. Do sự dồn nén quy tụ những nét bản chất của hiện thực trong xung đột cho nên nhịp điệu hành động của các nhân vật kịch thường dồn dập, gấp gáp có khi hết sức quyết liệt, sự biểu hiện và vận động phát triển của tính cách các nhân vật kịch có thể gây nên cảm xúc đau buồn, thương xót nhưng sự biểu hiện và vận động phát triển của tính cách các nhân vật kịch cũng có thể làm người ta bật cười vì xấu nhưng cố tình tỏ ra là đẹp, ti tiện làm ra vẻ vĩ đại, ngu ngốc làm ra vẻ thông thái (Gu la ep). 2.3. Ngôn ngữ kịch: Đối thoại, độc thoại, bàng thoại 3. Các kiểu loại kịch: Có nhiều cách phân loại kịch theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Nhưng cách phân loại phổ biến nhất là theo tính chất của các loại hình xung đột: Bi kịch, hài kịch, chính kịch,… II. Nội dung và biện pháp thực hiện 1. Sự khác nhau giữa thơ, truyện, kịch Thể loại Thơ Truyện Kịch văn học Trang 4
  6. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch Đặc - Vấn đề cốt yếu trong - Kể lại, (miêu tả) trình - Thông qua lời trƣng nội dung của thơ là tính tự các sự việc, có nhân thoại, hành động chất trữ tình ( biểu đạt vật của các nhân vật tình cảm, cảm xúc): để thể hiện mâu thuẫn, xung đột. + Thơ ca là tấm gương - Truyện phản ánh diễn - Tập trung miêu tả của tâm hồn, là tiếng biến đời sống thông qua xung đột trong đời nói của tình cảm con cốt truyện. Đó là một sống. Hê-ghen người. Đúng như ý kiến chuỗi các tình tiết, sự khẳng định: “ tình của Lê Quý Đôn: “Thơ kiện, biến cố được tổ thế giàu xung đột phát khởi từ trong lòng chức sắp xếp một cách là đối tượng ưu người ta”. có nghệ thuật. tiên của nghệ thuật + Thơ là tiếng nói mở kịch”. Bê-lin-xki cửa đi ra từ trái tim và cũng cho rằng: trở về rung động trái “Xung đột tạo nên tim. tính kịch”. - Nhân vật được miêu tả - Xung đột kịch chi tiết và sinh động được cụ thể hóa trong mối quan hệ với bằng hành động hoàn cảnh, với mối kịch. Hành động trường xung quanh. kịch được tổ chức - Phạm vi miêu tả trong qua cốt truyện và truyện không bị hạn chế được thực hiện về không gian và thời bởi các nhân vật gian. (ngôn ngữ, hành động…). - Ngôn ngữ thơ rất hàm - Ngôn ngữ trong - Ngôn ngữ kịch súc, giàu hình ảnh và truyện rất linh hoạt và mang đặc điểm Trang 5
  7. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch nhạc điệu: gần với ngôn ngữ đời khắc họa tính cách + Hàm súc: nói ít, gợi sống. nhân vật, có tính nhiều, ý tại ngôn ngoại. - Ở bộ phận văn học hành động và tính + Giàu hình ảnh: thi dân gian: thần thoại, khẩu ngữ cao. trung hữu họa (trong truyền thuyết, truyện cổ Ngôn ngữ kịch có thơ có họa) tích, truyện cười, truyện ba loại: đối thoại, + Giàu nhạc điệu: Thi ngụ ngôn. độc thoại, bàng trung hữu nhạc ( trong thoại. thơ có nhạc). Maiacốpxki cho rằng: “Nhịp điệu là năng lượng cơ bản của câu thơ”. Kiểu loại - Xét theo nội dung - Ở văn học trung đại: Các kiểu loại kịch: biểu hiện: thơ trữ tình, truyện viết bằng chữ bi kịch, hài kịch, thơ tự sự, thơ trào Hán, truyện thơ Nôm. chính kịch. phúng… - Ở văn học hiện đại: - Xét theo cách thức tổ truyện ngắn, truyện chức bài thơ: thơ cách vừa, truyện dài (tiểu luật, thơ tự do, thơ văn thuyết). xuôi… Từ đặc trưng của kịch và sự khác nhau giữa thơ, truyện, kịch ở trên, tôi có một vài suy nghĩ về phương pháp dạy thể loại kịch như sau: 2. Phƣơng hƣớng dạy học 2.1. Giáo viên hƣớng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà 2.1.1. Công việc của giáo viên: - Giáo viên giới thiệu đặc điểm, trọng tâm bài học. - Đưa ra hệ thống câu hỏi để học sinh chuẩn bị bài ở nhà Trang 6
  8. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch Câu hỏi giáo viên đưa ra có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với mọi đối tượng học sinh, kích thích ham muốn tìm hiểu và học tập của các em. Để có một giờ học sôi nổi, thành công, người thầy cần nắm chắc đặc trưng thể loại, mục tiêu bài học để chuẩn bị được một hệ thống câu hỏi khoa học. - Giáo viên chia lớp làm 4 tổ, chuẩn bị tập kịch trước một tuần. - Giáo viên hướng dẫn học sinh chọn lớp kịch để diễn. (Vd : với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, 4 tổ nên lần lượt diễn các lớp 1,7,8,9). - Giáo viên giới thiệu tài liệu tham khảo, băng đĩa cho học sinh, địa chỉ trên mạng để tìm tư liệu,… - Giáo viên phân công một học sinh trong vai trò MC đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn. - Giáo viên hướng dẫn học sinh diễn kịch: Phải làm nổi bật đặc điểm, tính cách của nhân vật, xung đột và hành động kịch qua lời thoại của từng nhân vật. Chú ý tới giọng điệu, cử chỉ, nét mặt, điệu,bộ, từ ngữ, kiểu câu của mỗi nhân vật. Từ đó làm rõ chủ đề tư tưởng, ý nghĩa xã hội của đoạn trích, tác phẩm. - Học sinh diễn thử cho giáo viên xem trước, giáo viên nhận xét, góp ý, sửa chữa. - Giáo viên phải chú ý thời gian biểu diễn của học sinh. 2.1.2. Công việc của học sinh: - Học sinh nhận câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà từ giáo viên ( tìm hiểu và soạn trước ở nhà). - Tập diễn kịch theo tổ. - Diễn thử cho giáo viên xem trước, lắng nghe góp ý. - Chỉnh sửa theo yêu cầu của giáo viên để tốt hơn. - Chú ý thời gian biểu diễn trên lớp. 2.2. Thực hiện trên lớp 2.2.1. Diễn kịch (10 phút): Áp dụng cho các trích đoạn kịch được học ở chương trình Trung học phổ thông. - Giáo viên dẫn dắt học sinh vào bài Trang 7
  9. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch - Gọi học sinh trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và tác phẩm của tác giả, cho biết hoàn cảnh và mục đích sáng tác vở kịch, xác định vị trí và tóm tắt đoạn trích kịch. - Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn kịch: một học sinh trong vai trò MC đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn. - Những học sinh ở 4 tổ được phân công diễn kịch, diễn lần lượt theo trình tự từng lớp kịch (10 phút). Khi diễn, chú ý thể hiện tính cách nhân vật, xung đột, hành động kịch. Lớp 7, hồi V, vở kịch Vũ Như Tô Cảnh VII, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Học sinh còn lại thưởng thức và nhận xét. - Kết thúc, giáo viên nhận xét, đánh giá cho điểm, tuyên dương cá nhân và tổ diễn tốt. - Giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào tìm hiểu tiếp bài học. 2.2.2. Đặt câu hỏi: 2.2.2.1. Câu hỏi phát hiện: Đây là câu hỏi có mức độ thấp nhất trong các loại câu hỏi, dùng để kiểm tra phần đọc và chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, cao hơn dùng để phát hiện từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, các tín hiệu nghệ thuật nhằm khơi gợi cảm thụ của học sinh. Loại câu hỏi này phù hợp với học sinh trung bình, thậm chí yếu, kém. Ví dụ: Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Trình bày hiểu biết của em về cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng! Trang 8
  10. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch 2. Cho biết hoàn cảnh và mục đích sáng tác vở bi kịch lịch sử Vũ Như Tô! 3. Hãy tóm tắt vở kịch Vũ Như Tô! 4. Xác định vị trí và tóm tắt đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài! 5. Xác định các mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Vũ Như Tô được thể hiện trong hồi V! 6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích! Với đoạn trích Tình yêu và thù hận, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Trình bày hiểu biết của em về Thời đại phục hưng, cuộc đời tác giả Sếchxpia và vở kịch Rômêô và Giuliet (đề tài, thể loại, tóm tắt tác phẩm)! 2. Cho biết vị trí đoạn trích Tình yêu và thù hận ! 3. Hình thức sáu lời thoại đầu và mười lời thoại sau của đoạn trích là gì? Với đoạn trích Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Trình bày những hiểu biết của em về cuộc đời của tác giả Lưu Quang Vũ! 2. Trình bày những hiểu biết của em về tác phẩm của Lưu Quang Vũ! 3. Tóm tắt vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt! 4. Cho biết vị trí đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt! 5. Khi gặp Đế Thích, hồn Trương Ba có thái độ, quyết định như thế nào? 6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt! 2.2.2.2. Câu hỏi giải thích, phân tích : Giúp học sinh khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm kịch. Các em có thể trình bày hiểu biết của mình về vấn đề được đưa ra, từ đó giáo viên hướng dẫn các em đi vào những cảm nhận đúng, sâu sắc. Loại câu hỏi này phù hợp với học sinh trung bình và khá. Ví dụ: Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi Trang 9
  11. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch 1. Cho biết diễn biến và kết quả của hai mâu thuẫn trong vở kịch Vũ Như Tô. Hai mâu thuẫn này có quan hệ và tác động lẫn nhau không ? 2. Tính cách, diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô được thể hiện như thế nào qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của ông ở các lớp kịch thuộc hồi V ? 3. Tính cách, diễn biến tâm trạng Đan Thiềm được thể hiện như thế nào qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của bà ở các lớp kịch thuộc hồi V ? 4. Tìm hiểu và giải thích “bệnh Đan Thiềm” theo quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng trong đoạn trích! 5. Em có nhận xét gì về cách giải quyết của tác giả ở mâu thuẫn 1? Với đoạn trích Tình yêu và thù hận, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Lời độc thoại đầu tiên đã bộc lộ tâm trạng gì của Rômêô ? 2. Diễn biến tâm trạng Rômêô qua toàn bộ các lời thoại trong đoạn trích? 3. Diễn biến nội tâm của Giuliet được thể hiện như thế nào lúc còn độc thoại nội tâm, khi biết có người đang nghe mình thổ lộ nỗi lòng, lúc nhận diện được tiếng nói của Rômêô? Với đoạn trích Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Hãy cho biết mục đích, thái độ, vị thế trong lời đối thoại của hồn Trương Ba và xác hàng thịt! 2. Cảm nhận ban đầu về lời thoại của nhân vật Hồn, Xác từ đó nhận xét về nghệ thuật tạo xung đột của kịch Lưu Quang Vũ? 3. Lí lẽ mà hồn Trương Ba đưa ra là: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn. Nhưng theo em, hồn Trương Ba có bảo lưu được điều đó không? Hãy tìm câu trả lời từ phía những người thân trong gia đình Trương Ba? 4. Căn cứ vào những lời thoại, em hãy hình dung và miêu tả lại tâm trạng, cảm xúc của hồn Trương Ba khi nhận được câu trả lời từ phía những người thân! 5. Qua lời nói, hành động của hồn Trương Ba và lời nói của người thân, trình bày suy nghĩ về sự phát triển của xung đột kịch! 6. Đế Thích có quan niệm về sự sống khác với hồn Trương Ba ra sao? Trương Ba đã chỉ ra sai lầm nào của Đế Thích? Đế Thích định tiếp tục sửa sai bằng cách nào? Trang 10
  12. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch Khi Trương Ba kiên quyết đòi trả xác cho hàng thịt, Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào cu Tị, Trương Ba đã từ chối. Vì sao? 7. Trong lời hồn Trương Ba nói với vợ sau khi đã chết thật, cứ nhắc đi nhắc lại “ Tôi vẫn ở đây…” và qua so sánh sự thay đổi trong hai lời thoại của cái Gái, các nhân vật đã nói hộ tư tưởng gì của Lưu Quang Vũ? Phát biểu cảm nghĩ về câu nói của cái Gái “ cho nó mọc lên thành cây mới… mãi mãi”. 2.2.2.3. Câu hỏi bình: Là câu hỏi mở rộng, nâng cao cảm thụ của học sinh sau khi đã phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật. Có thể bình một chi tiết, một nhân vật hay một khía cạnh của văn bản kịch. Loại câu hỏi này phù hợp với học sinh khá, giỏi. Ví dụ: Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Em hãy bình về vẻ đẹp của nhân vật Vũ Như Tô trên cơ sở bài viết đã chuẩn bị ở nhà! 2. Em hãy bình về vẻ đẹp của nhân vật Đan Thiềm trên cơ sở bài viết đã chuẩn bị ở nhà! 3. Mâu thuẫn 2 vẫn còn là một câu hỏi để ngỏ, chưa thể giải quyết triệt để. Thử lí giải nguyên do và nêu cách giải quyết của em! Theo em, Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải, Vũ Như Tô có tội hay là có công? 4. Viết đoạn kết cho vở kịch Vũ Như Tô! Với đoạn trích Tình yêu và thù hận, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi 1. Tác giả giải quyết vấn đề tình yêu và thù hận như thế nào? 2. Hãy bình về vẻ đẹp tình yêu của Rômêô và Giuliet! Với đoạn trích Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Có ý kiến cho rằng cái chết của cu Tị là chi tiết độc đáo có tính “mở nút”, trình bày ý kiến của em! 2.2.3. Học nhóm, thảo luận: Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm, các em thảo luận một hoặc một số câu hỏi có vấn đề mà giáo viên đã cho từ trước hoặc có thể thảo luận thêm những câu hỏi mới ( Trang 11
  13. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch giáo viên định hướng). Giáo viên theo dõi các em sát sao, lắng nghe các em nói, tôn trọng ý kiến của các em, động viên, khích lệ, khen thưởng đúng lúc, tạo cho các em sự hứng thú, tích cực học tập. Ví dụ: Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Cho biết các mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Vũ Như Tô, diễn biến và kết quả! Hai mâu thuẫn này có quan hệ và tác động lẫn nhau không ? 2. Tính cách, diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô được thể hiện như thế nào qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của ông ở các lớp kịch thuộc hồi V ? 3. Tính cách, diễn biến tâm trạng Đan Thiềm được thể hiện như thế nào qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của bà ở các lớp kịch thuộc hồi V ? 4. Em có nhận xét gì về cách giải quyết của tác giả ở mâu thuẫn 1? Mâu thuẫn 2 vẫn còn là một câu hỏi để ngỏ, chưa thể giải quyết triệt để. Thử lí giải nguyên do và nêu cách giải quyết của em! Theo em, Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải ? Vũ Như Tô có tội hay là có công? Với đoạn trích Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi: 1. Phân tích ý nghĩa ẩn dụ thể hiện qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt! 2. Phân tích ý nghĩa ẩn dụ thể hiện qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và người thân (vợ, cháu nội, con dâu) ! 3. Phân tích ý nghĩa ẩn dụ thể hiện qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích? 4. Kịch của Lưu Quang Vũ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính thời sự và những vấn đề muôn thuở. Vậy đâu là tính thời sự của vở kịch? Đâu là những thông điệp muôn thuở mà Lưu Quang Vũ hi vọng được gởi trao, dâng hiến tới cuộc đời? Trang 12
  14. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch 3. Giáo án thực nghiệm: Đoạn trích “VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI” Nguyễn Huy Tƣởng A. Mục tiêu cần đạt: - Hiểu và phân tích được xung đột kịch, tích cách, diễn biến tâm trạng và bi kịch của Vũ Như Tô, Đan Thiềm trong đoạn trích. - Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch. B. Tiến trình lên lớp: - Kiểm tra bài cũ; kiểm tra việc chuẩn bị bài mới của học sinh. - Giới thiệu dẫn nhập vào bài mới Phƣơng pháp Nội dung cần đạt Giáo viên gọi một học sinh đứng dậy I. Tiểu dẫn trình bày những hiểu biết của mình về 1. Tác giả: SGK cuộc đời của tác giả Nguyễn Huy Tưởng. Học sinh trình bày những nội dung chính về tác giả đã chuẩn bị ở nhà, giáo viên nhận xét, điều chỉnh lại và yêu cầu học sinh tự ghi chép. Giáo viên gọi học sinh khác trình bày 2. Tác phẩm: SGK những hiểu biết của mình về tác phẩm của Vũ Như Tô. Gọi học sinh cho biết hoàn cảnh và mục 3. Vở kịch Vũ Nhƣ Tô đích sáng tác vở kịch Vũ Như Tô. a. Hoàn cảnh và mục đích sáng tác - Được sáng tạo từ sự kiện lịch sử có thật xảy ra ở Thăng long các năm 1516- 1517, dưới triều Lê Tương Dực. - Vở kịch viết xong vào mùa hè 1941, đề tựa tháng 6-1942, với mục đích đề Trang 13
  15. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch cao vai trò của người nghệ sĩ trong sáng tác nghệ thuật. Tác phẩm lúc đầu 3 hồi, sau tác giả viết tiếp thành 5 hồi. 4. Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Giáo viên gọi một học sinh xác định vị a. Vị trí: thuộc hồi V, hồi cuối của tác trí đoạn trích. phẩm. Giáo viên gọi một học sinh trình bày b. Tóm tắt đoạn trích: phần tóm tắt vở kịch Vũ Như Tô đã chuẩn bị trước ở nhà. Trong khi nhận xét, đánh giá phần trình bày của học sinh, giáo viên nhấn mạnh hơn đến nội dung tóm lược của đoạn trích sẽ học. Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn II. Đọc hiểu văn bản: kịch: một học sinh trong vai trò MC đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn. Những học sinh ở 4 tổ được phân công diễn kịch, diễn lần lượt theo trình tự từng lớp kịch (10 phút). Khi diễn, chú ý thể hiện tính cách nhân vật, xung đột, hành động kịch và bài học giáo dục được rút ra. Học sinh còn lại thưởng thức và nhận xét. Kết thúc, giáo viên nhận xét, đánh giá cho điểm, tuyên dương cá nhân và tổ diễn tốt. Giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào tìm Trang 14
  16. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch hiểu tiếp bài học. Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận (chia lớp làm 4 nhóm, thảo luận trong 3 phút). 1. Những mâu thuẫn cơ bản: Nhóm 1: Cho biết các mâu thuẫn cơ bản a. Nhân dân lao động khốn khổ lầm của vở kịch Vũ Như Tô, diễn biến và than >< tầng lớp thống trị xa hoa, kết quả. Hai mâu thuẫn này có quan hệ trụy lạc và tác động lẫn nhau không ? Đến hồi V, mâu thuẫn đã trở thành cao trào: Trịnh Duy Sản dấy binh nổi loạn, Vũ Như Tô mang hoài bão “tranh tinh lôi kéo thợ thuyền làm phản giết Lê xảo với hóa công”, rất tin vào tài năng Tương Dực, Nguyễn Vũ tự sát, giết Vũ xuất chúng của mình. Ông đã không Như Tô, Đan Thiềm, thiêu hủy Cửu đếm xỉa đến nỗi khốn khổ của dân Trùng Đài…) chúng. Ông trở thành kẻ đối địch của b. Quan niệm nghệ thuật cao siêu, họ. Ở hồi V, dân chúng tập trung tập thuần túy của muôn đời >< lợi ích trung sự căm phẫn vào Vũ Như Tô, Đan trực tiếp, thiết thực của nhân dân Thiềm hơn là việc tiêu diệt bạo chúa Lê Mâu thuẫn này không thể giải quyết Tương Dực. rạch ròi, dứt khoát. Chân lí vừa thuộc về Vũ Như Tô, vừa thuộc về nhân dân. -> Hai mâu thuẫn này có quan hệ mật Xung đột kịch mỗi lúc một căng thẳng, thiết và có tác động lẫn nhau gay gắt thể hiện qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của mỗi nhân vật. 2. Tính cách và tâm trạng Vũ Nhƣ Nhóm 2: Tính cách, diễn biến tâm trạng Tô, Đan Thiềm: Vũ Như Tô được thể hiện như thế nào Đan Thiềm Vũ Nhƣ Tô qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của Lớp - Biết tin có - Không trốn, ông ở các lớp kịch thuộc hồi V? 1 binh biến, bạo tin mình loạn, hết lời “quang minh Trang 15
  17. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch khuyên Vũ Như chính đại”, Tô đi trốn (8 “không làm lần). gì nên tội”. Gọi một học sinh khá, giỏi của lớp bình Lớp - Lo lắng hơn - Kiên quyết nhân vật Vũ Như Tô trên cơ sở bài viết 2 cho Vũ Như Tô, không trốn. đã chuẩn bị ở nhà. Giáo viên nhận xét, tha thiết khuyên bổ sung. thậm chí giục giã Vũ Như Tô trốn đi “Ông trốn đi, mau lên, khổ lắm”. Lớp - Lo lắng cho 4 CửuTrùng Đài. Lớp - Lời lẽ khuyên - Tin rằng 5 Vũ Như Tô mỗi mình vô tội. Nhóm 3: Tính cách, diễn biến tâm trạng lúc một thiết Đan Thiềm được thể hiện như thế nào tha, khẩn khoản qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của bà hơn-> mức độ ở các lớp kịch thuộc hồi V? yêu cầu càng lúc càng tăng, chắp tay lạy, van xin Vũ Như Tô đi trốn. Lớp - Khi biết Vũ 6 Như Tô không thể trốn-> khóc Lớp - Xin đổi mạng - Giận dữ 7 sống của mình trước thái độ, Trang 16
  18. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch để cứu Vũ Như hành động Tô, khi biết của quân không thể cứu khởi loạn, Gọi một học sinh khá, giỏi của lớp bình nổi Vũ Như Tô Ngô Hạch, nhân vật Đan Thiềm trên cơ sở bài viết buông lời vĩnh trước thái độ, đã chuẩn bị ở nhà. Giáo viên nhận xét, biệt: “ Ông Cả! hành động hạ bổ sung. Đài lớn tan mình của tành! Ông Cả Đan Thiềm. ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt” - Đau đớn, Lớp buông lời 8 vĩnh biệt Đan Thiềm. - Không nhận ra sai lầm của bản thân, hi vọng An Hòa Hầu sẽ tha để ông xây tiếp Cửu Trùng Đài. Lớp - Cửu Trùng 9 Đài bị đốt phá-> bừng tỉnh-> đau đớn, kinh hoàng “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Trang 17
  19. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch Ôi Cửu Trùng Đài!”. -> Là người trân -> Là một trọng, đam mê kiến trúc sư cái tài, cái tài thiên tài, là sáng tạo ra cái hiện thân cho đẹp, nhà văn gọi niềm khát là “Bệnh Đan khao, say mê Thiềm”- “Bệnh” sáng tạo cái mê đắm tài hoa đẹp. siêu việt của Là một nghệ người sáng tạo sĩ có nhân nghệ thuật, sáng cách lớn, tạo cái đẹp. hoài bão lớn Là người luôn và có lí tỉnh táo, sáng tưởng nghệ suốt, thức thời, thuật cao cả biết thích ứng song lại lầm với hoàn cảnh. lạc trong suy  Người đam nghĩ và hành mê cái tài, động. người bạn tri âm tri kỉ của Vũ Như Tô. Nhóm 4: Em có nhận xét gì về cách giải 3. Quan điểm nghệ thuật của tác giả: quyết của tác giả ở mâu thuẫn 1? - Mâu thuẫn 1: giải quyết dứt khoát Mâu thuẫn 2 vẫn còn là một câu hỏi để theo quan điểm của nhân dân: Những kẻ Trang 18
  20. Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan dạy thể loại kịch ngỏ, chưa thể giải quyết triệt để. Thử lí thuộc tầng lớp thống trị tàn ác, trụy lạc giải nguyên do và nêu cách giải quyết phải đền tội. của em! Theo em, Vũ Như Tô phải hay - Mâu thuẫn 2: chưa được giải quyết những kẻ giết Vũ Như Tô phải, Vũ Như triệt để: Vũ Như Tô đến lúc chết vẫn Tô có tội hay là có công? không nhận ra sai lầm của mình, còn đầy day dứt về lí tưởng, hoài bão bản thân  Chân lí chỉ thuộc về ông một nửa, một nửa thuộc về nhân dân. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật 4. Nghệ thuật: của đoạn trích! - Mâu thuẫn tập trung phát triển cao, hành động dồn dập, đầy kịch tính. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 - Ngôn ngữ điêu luyện, có tính tổng hợp câu) nói lên tâm trạng của Vũ Như Tô cao, nhịp điệu của lời thoại nhanh. khi Cửu Trùng Đài bị đốt phá. - Tính cách, tâm trạng nhân vật bộc lộ rõ nét qua ngôn ngữ, hành động. - Các lớp kịch được chuyển linh hoạt, tự nhiên, liền mạch. Gọi một học sinh tổng kết bài III. Tổng kết: SGK C. Củng cố: 1. Trình bày tổng quát về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích! (Học sinh tham khảo phần ghi nhớ trong sách giáo khoa để trả lời). 2. Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài có ý nghĩa như thế nào? Đặt ra vấn đề sâu sắc có ý nghĩa muôn thuở về cái đẹp, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và nhân dân, đồng thời tác giả cũng bày tỏ niềm cảm thông, trân trọng đối với người nghệ sĩ tài năng, giàu khát vọng nhưng rơi vào bi kịch. 3. Viết đoạn kết cho vở kịch Vũ Như Tô. D. Dặn dò: Học sinh học bài, chuẩn bị bài thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản. Trang 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản