
Sông còn chảy
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN TRỌNG VĂN
- Nhà văn Đỗ Thân khó nhọc leo từng bậc đá để lên chùa Cổ Vân. So với hai mươi năm
trước ông già đi nhiều. Ở vào cái tuổi bảy mươi tư khi ông một thân một mình lặn lội tới
chốn cận giang ngự sơn này quả là khó tin. Chùa Cổ Vân nhỏ và heo hắt nằm chênh vênh
trên đỉnh núi Thúy. Cửa chính diện của chùa hướng mặt nhìn xuống sông Vân. Đoạn
sông chảy ngang chùa đột nhiên gợn sóng và rộng ra mênh mang. Từ đấy chỉ một đoạn
ngắn là tới cửa biển. Gió từ biển thổi tới lướt ngược theo sườn núi dựng đứng, dội vào
vách đá phát ra chùm âm thanh khi rít lên thê thảm, lúc u oa như tiếng gọi của con trẻ làm
tăng thêm vẻ hư ảo cho chùa Cổ Vân. Muốn lên tới chùa chỉ duy nhất có một lối, đó là
từng bậc đá xếp nối với nhau. Cả thảy gồm ba trăm sáu mươi nhăm bậc. Đã có lời đồn đại
rằng mỗi bậc đá ứng với một ngày. Ba trăm sáu mươi nhăm ngày thành một năm. Không
hiểu lời đồn kia từ đâu ra nhưng dường như đặt chân lên mỗi bậc đá ta lại có một cảm
giác khác lạ. Còn một điều này nữa, những người thiết kế bậc đá đã khéo mở rộng bản để
không thể một ai có thể bước mỗi bước một bậc. Ai cũng vậy, lên từng bậc đá đều phải
đặt đủ hai bàn chân, đứng yên vài giây định hình, lấy đà cho bước tiếp theo. Nhà văn Đỗ
Thân khó nhọc leo từng bậc, từng bậc. Càng lên cao gió đưa tới càng mạnh. Từng cơn gió
nối nhau như cố tình thử sức người. Nhà văn Đỗ Thân gắng gượng để khỏi bị ngã, ông
đưa mắt ngước lên. Chùa Cổ Vân trông gần như là với tay được. Đã nghe rõ tiếng mõ
thủng thẳng, đều đều vọng ra. Đã ngửi thấy mùi thơm của hương trầm. Đã chạm đầu vào
vệt mây mỏng giăng ngang. Nhà văn Đỗ Thân tự nhủ "Lên chùa nghỉ một thể". Ông vịn
tay vào vách đá để chuẩn bị cho bước lên tiếp theo.
Cuối cùng nhà văn Đỗ Thân cũng đã tới đích. Sau khi bước qua cổng chùa ở lối dành cho
du khách, ông dừng lại đưa mắt nhìn bao quát khoảng sân chùa thông thoáng được lát đá.

Những phiến đá xanh được đục đẽo vuông vức lát sân chùa thành hình chữ nhất, chứng tỏ
những ngươi xây dựng ngôi chùa đã ý thức về sự tròn vẹn của nơi tôn nghiêm này. Nó
còn cho những ai lên tới đây một thứ cảm giác phải suy nghĩ nên thường so mình lại.
Cảm giác ấy muốn nói lên rằng: Tới cửa thiền cần điều chỉnh hành vi cho hợp lẽ. Tuy
không rộng lắm nhưng sân chùa Cổ Vân cũng đủ tạo nên không gian đầy đặn cho ngôi
chùa. Khác hẳn khi đứng từ chân núi Thúy ngước trông lên chùa Cổ Vân giờ tọa giữa sân
chùa nhìn không còn thấy chênh vênh nữa. Từ đây lại có một tầm nhìn khá xa và rộng.
Nếu nhìn về bên trái và vào bữa trời trong ta sẽ thấy những thửa ruộng trông đẹp như bàn
cờ. Cái bàn cờ ấy luôn đổi màu trong ngày. Buổi sáng, xanh mơn mởn. Tầm trưa, anh ánh
vàng. Và về chiều, sâm sẫm xanh đen. Nhìn chính diện, khi phóng tầm mắt qua đoạn
sông Vân chảy ngang ta bắt gặp dãy Thiên Trường xa xa, lúc mờ, lúc rõ tùy thuộc vào
những đám mây lờ lững trôi vắt ngang. Dãy Thiên Trường chập chờn lẩn khuất giữa mây
bay và gió thổi trông như một con trăn khổng lồ phập phồng nằm thở. Còn nhìn về bên
phải, ta lại thấy điệp trùng của biển với đường chân trời thẳng ngang như phân vạch trời -
nước một cách rành mạch. Nhà văn Đỗ Thân đảo mắt nhìn, tầm này không còn cho phép
nhìn xa được nữa, bóng tối gần như đã bưng bọc quanh chùa. Cái nhìn của nhà văn Đỗ
Thân chợt gặp dòng chữ "Cổ Vân Tự" khi ông quay người nhìn vào chùa. Dòng chữ sáng
kỳ lạ và hư ảo, nó lung linh giữa bóng tối vây quanh. Nhà văn Đỗ Thân kinh ngạc về điều
này và ông đã cho rằng nếu ai đó cách xa cả mười ki lô mét cũng thấy dòng chữ đó. Điểm
này nghe có vẻ có lý, bởi từ rất lâu người dân ở tận sát dãy Thiên Trường về đêm cũng
thấy một quầng sáng trên đỉnh núi Thúy. Một đồn mười, mười đồn năm mươi... chùa Cổ
Vân bỗng chốc trở nên huyền bí. Và chính ba trăm sáu mươi nhăm bậc đá đã gây ấn
tượng mạnh cho những ai một lần đặt chân tới đây. Ở đây ranh giới giữa thiên và mệnh
gần như không có. Cứ qua từng bậc đá và rồi khi lên tới sân chùa ta sẽ thấy như mình vừa
rũ bỏ được một điều gì đấy. Lòng thanh thản lạ, nhà văn Đỗ Thân chậm rãi bước chân
vào tiền sảnh cửa tam quan chùa. Ông hít một hơi thở dài và sâu. Cửa chùa chợt mở ra
lung linh những ngọn nến đang cháy. Không thấy thắp hương nhưng mùi thơm cứ quanh
quẩn đâu đây. Nhà văn Đỗ Thân sau một hồi đứng lặng trước ban nghiên để chuẩn bị tinh
thần. Xung quang đều vắng vẻ, chỉ duy nhất trên chiếc chiếu hoa to trải ngay ngắn dưới

nền nhà một ni cô đang thư thái tựa như đang thiền. Ông nhận ra đó là một ni cô nhờ
chiếc khăn màu nâu mà người ấy quấn trên đầu và nhất là giọng nữ lầm rầm đọc kinh. Ni
cô vừa tụng kinh vừa thong thả điểm từng nghịp mõ. Tiếng mõ nghe lạnh nhưng chắc
từng nghịp gõ. Nhà văn Đỗ Thân đứng hơi khom người, ông cố gắng không cử động để
không làm phiền ni cô. Hai bàn tay ông chắp vào nhau và như vô tình ông cũng lẩm
nhẩm theo cho dù ông không biết là mình đang lẩm nhẩm câu gì. Hồi lâu, khi thấy ni cô
đã đọc xong trang cuối của cuốn kinh ông khẽ lên tiếng "Bạch thày". Ông ngừng lời để
đoán định câu chào của mình đã được ni cô nghe thấy chưa. Rồi như cảm được câu chào
đã tới người được chào, nhà văn Đỗ Thân lên tiếng tiếp: "Xin lỗi, tôi muốn được hỏi".
Tiếng mõ đang đều đều rồi chậm dần, chậm dần và dừng lại. Ni cô không hề giật mình
cho dù câu chào có vẻ đường đột, bà cũng không ngoái đầu mà bình thản chào đáp: "A di
đà phật". Bà đưa tay cuốn vạt áo, đặt chiếc dùi mõ cạnh chiếc mõ rất từ tốn rồi mới đứng
dậy, ánh mắt vẫn chưa để ý tới người khách lạ. Ni cô tiến đến ban thờ châm tiếp một
ngọn nến rồi mới quay người nhìn khách vừa tới. Bà chợt hoảng và phát ra tiếng nói "mô
phật" trong cuống họng khi thấy vẻ quen quen của người đàn ông đứng trước mặt. Ni cô
nửa muốn trốn chạy nửa còn ngờ vực. Đôi mắt ni cô nhíu lại suy nghĩ. Bà lại mở to mắt
nhìn kỹ hơn người khách, bàn tay ni cô vừa rờ rờ vừa bấu vào mép bàn lại bước như giật
lùi. Nhà văn Đỗ Thân cũng thấy sững sờ, gương mặt ni cô còn vảng vất nét thanh tú quen
thuộc ngày nào. Ông há hốc mồm bởi sự hội ngộ đến không ngờ. Hồi sau nhà văn Đỗ
Thân mới khó nhọc nói: "Bạch... thưa....bà à cô... thưa ni cô là... là...". Ni cô sau giây
phút ngỡ ngàng đã trấn tĩnh lại. Bà cúi đầu đi khép nghiêng, bước ý tứ về phía bộ tràng
kỷ kê bên gian dành cho khách. Ni cô nói đủ nghe: "Mời thí chủ sang bên này uống nước
cho ấm". Ni cô bâng quơ đưa tay cầm mảnh giẻ lau, bà lau mặt bàn một cách không chủ
đích chứng tỏ vẫn chưa hết bất ngờ. Nhà văn Đỗ Thân đã ngồi xuống ghế. Mặt ghế thiếu
hơi người ngồi nên nó ẩm mát khiến ông hơi e ngại. Ni cô vẫn cúi đầu không nhìn khách,
bàn tay cứ lau đi lau lại mặt bàn. Nhà văn Đỗ Thân cất tiếng phá tan khung cảnh nặng nề
giữa hai người: "Bạch thày... Cô... cô vẫn mạnh khỏe?". Ni cô bây giờ mới nhìn thẳng
vào mặt nhà văn Đỗ Thân, bà hỏi lại: "Làm thế nào ông tìm được tới đây?". Nhà văn Đỗ

Thân thấy không khí đã cởi mở hơn, ông cười nói đỡ: "Thì cũng có gì xa xôi đâu". Bên
ngoài sân chùa trời đã tối hẳn nhưng trong chùa bừng sáng và ấm một cách dễ chịu.
***
Lý do để nhà văn Đỗ Thân tìm đến chùa Cổ Vân, với sứ mệnh của người kiếm giải bắt
đầu từ buổi sáng cách đây đúng ba hôm. Hôm ấy trời vừa mới sáng. Thứ ánh sáng tiết
cuối thu của buổi đầu ngày nhờn nhợt và dường như đã hết sức khi nó phải xuyên qua lớp
sương sớm nằng nặng hơi nước. Nhà văn Đỗ Thân đang thong thả tưới nước rửa sương
mai cho đám cây hoa trước cửa nhà thì chú chó Nhật chạy rối rít quanh chân ông. Nó vừa
sủa bằng tiếng sủa nghe 'ắc ắc" vừa dúi mõm cọ cọ bàn chân chủ. Cử chỉ ấy báo hiệu hình
như có người đang chờ ngoài cổng. Nhà văn Đỗ Thân ngừng tay nhìn ra. Bên ngoài cánh
cổng chưa kịp khóa có một bóng người lọ cọ đi đi lại lại. Hình như ông ta đứng đợi ở đó
đã khá lâu. Vừa hay lúc nhà văn Đỗ Thân vẩy những giọt nước cuối cùng, người khách lạ
lên tiếng:
- Chào ông.... thưa... ông là nhà văn Đỗ Thân.
Thoáng giật mình, nhà văn Đỗ Thân ngước cặp mắt qua tròng kính lão ngờ vực trả lời:
- Vâng. Ông là...
- Thưa.... Tôi mới ở tù ra sáng qua. Tôi tới thẳng đây tìm ông. Hy vọng ông...
Người khách nói giọng ấp úng nhưng cũng liền mạch và không giấu giếm. Nhà văn Đỗ
Thân tròn mắt kinh ngạc, gần như cả đời ông ông có quen thân ai bị tù tội đâu. Ông ta là
ai, và tìm đến có việc gì? Lòng đầy phân vân, nhà văn Đỗ Thân luống cuống đặt bàn tay
vào cánh cổng sắt. Ông lưỡng lự giữa đóng chặt lại hay mở nó ra cho người khách không
mời kia. Lúc đó trong đầu ông thoáng chút sợ hãi, trong nhà chỉ có mình ông những đứa
con cháu đều đã ra khỏi nhà từ sớm. Dường như đọc được vẻ băn khoăn đầy nghi hoặc
của nhà văn Đỗ Thân, người khách lạ nở nụ cười gây thiện cảm và nói lấy lòng.

- Ông yên tâm. Tôi đã quá ... quá ngấm tù tội rồi để không có ý hại người khác.
- Mời ông vào nhà.- Nhà văn Đỗ Thân khẽ đẩy cánh cổng sắt - Không hiểu tôi giúp gì
được ông?
Ông đã bình tĩnh vả lại người khách kia tuy xưng là kẻ ra tù song bộ dạng không có vẻ gì
hại người khác như ông ta đã nói. Người khách lạ nhún đầu để cúi mình khi bước qua
cánh cổng cho dù cánh cổng khá cao ông ta có ưỡn thẳng người cũng không thể chạm
đầu. Cung cách ấy chứng tỏ những ngày trong tù người khách kia phải nhún mình quá
nhiều nên thành thói quen. Nhà văn Đỗ Thân bây giờ mới có cảm giác hình như đã gặp
người này ở đâu? Ông vừa dẫn khách vào nhà vừa cố nghĩ. Cả hai im lặng và khó hiểu
bước vào phòng khách. Họ đưa mắt nhìn nhau và đều tự giác ngồi xuống ghế. Sau hồi
đắn đo chính người khách lên tiếng trước.
- Tôi ngồi tù chẵn hai mươi năm. Hai mươi năm tôi ngẫm ra nhiều điều... vâng, tôi muốn
tìm lại vợ tôi. Xin lỗi, tôi cho rằng ông giúp được.
- Tôi già rồi - Nhà văn Đỗ Thân rào đón - Trí nhớ dạo này tệ quá. Ông vui lòng cho biết
quý danh.
- Phúc Thiện đây - Người khách cao giọng - Cả đến Phúc Thiện ông cũng không còn nhớ
sao?
Nhà văn Đỗ Thân khẽ "á" lên một tiếng. Ông vỗ vỗ tay vào trán và ngả mình vào thành
ghế. Giờ thì ông không phải lo kẻ không mời mà đến kia có thể gây hại cho mình, mà ông
lại lo sẽ đối đáp thế nào với người vừa xưng danh là Phúc Thiện. Ông đã nhận ra đó là ai
và trong đầu ông những con người ngoài đời thật được hoá thân vào cuốn tiểu thuyết
"Phận tôi" lần lượt hiện ra. Và một trong những con người ấy bằng xương bằng thịt ấy
đang im lặng chờ đợi sự cảm thông và theo dõi thái độ của nhà văn Đỗ Thân. Cái im lặng
bao trùm đến gai người. Nhà văn Đỗ Thân chợt nghĩ hay là người này đến đòi ông món
nợ đời. Trời mới sáng, sương đêm còn lạnh hay chính cảm giác phải đối phó với tình
huống bất ngờ khiến nhà văn Đỗ Thân sởn da gà. Ông nhìn thẳng vào Phúc Thiện hỏi nhỏ
như để trấn tĩnh mình:

