intTypePromotion=1
ADSENSE

SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 7

Chia sẻ: Ashfjshd Askfaj | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

90
lượt xem
15
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cải thiện các điều kiện sống (tắm và giặt). Sốt nổi gai ốc (sất địa phương, sôt do bọ chép Tác nhân chính: Rickettsia typhi (Rickettsia mooseri) Cách thức lây truyền: lây nhiễm qua bọ chết ở chuột (thường là Xenophylla cheopsis), chúng truyền rickettsia trong lúc hút máu và nhiễm qua các vết cắn và các vết thương ở da. Tác động lên cơ thể. tiến trình của bệnh sốt nổi gai ốc tuân theo cách bệnh sốt phát sinh từ chấy rận nhưng nhẹ hơn. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 7

  1. điều kiện chấy rận. Cải thiện các điều kiện sống (tắm và giặt). Sốt nổi gai ốc (sất địa phương, sôt do bọ chép Tác nhân chính: Rickettsia typhi (Rickettsia mooseri) Cách thức lây truyền: lây nhiễm qua bọ chết ở chuột (thường là Xenophylla cheopsis), chúng truyền rickettsia trong lúc hút máu và nhiễm qua các vết cắn và các vết thương ở da. Tác động lên cơ thể. tiến trình của bệnh sốt nổi gai ốc tuân theo cách bệnh sốt phát sinh từ chấy rận nhưng nhẹ hơn. Giai đoạn ấp trứng: thường từ 10 đến 12 ngày; thay đổi từ 6 đến 21 ngày. Chuối lây nhiễm: vật chủ -> tác nhân chính -> ve Các biện pháp kiểm soát: ngăn chặn sự tiếp xúc với các con ve truyền bệnh bằng biện pháp phòng ngừa các tác nhân chống lại vectơ truyền bệnh, bằng cách giặt quần áo và chăn với hoá chất diệt khuẩn (benzyl benzoate) và áp dụng thuốc trừ rệp. Phun lindane hoặc malathion. Muỗi Muỗi gây sốt vàng da (Aedes aegypti) Các bệnh lây truyền: bệnh sốt vàng da đô thị, bệnh sốt xuất huyết, viêm não, bệnh giun chỉ, giun đất. Các đặc tính sinh học: có 4 giai đoạn trong cuộc đời của tất cả các loài muỗi: trứng, nhộng, ấu trùng và trưởng thành với 3 giai đoạn đầu xảy ra trong nước. Muỗi bán thuần chủng có thể sinh sản trong các thùng nhân tạo xung quanh nơi sống của con người. Trứng được đẻ từng quả một trên bề mặt các thùng chứa trong hoặc trên các rãnh nước và có khả năng chịu đựng điều kiện khô trong vòng vài tháng. Chúng ấp trứng rất nhanh trước khi các thùng chứa bị đầy 189
  2. nước trở lại. Việc ấp trứng có thể diễn ra trong 2 hoặc 3 ngày nếu như nhiệt độ cao. Các ấu trùng có thể hoàn toàn phát triển trong 6 đến 10 ngày hoặc có thể biến đổi lâu hơn 3 tuần. Nhận dạng: loài nhỏ và sẫm với hình dáng đàn lia, các đường trắng bạc ở trên ngực và các dải trắng ở trên các đoạn xoắn. Môi trường thích nghi: ưa thích nhiệt độ ẩm. Rất dễ bị ảnh hưởng bởi lạnh và thường không sống sót được qua mùa đông miền bắc Mỹ. Được tìm thấy trong thùng chứa nhân tạo ở xung quanh nơi ở của con người, chẳng hạn như: lọ hoa, thùng thiếc, bình, lọ, xăm lốp xe ôtô, nhà vệ sinh không sử dụng nữa, bể chứa nước, thùng nước mưa, máng nước trên mái nhà, và các lỗ trên cây. Các biện pháp kiểm soát từ lâu loài muỗi này thích sống gần nơi ở của con người, giữ sạch nơi sống và dọn quang là biện pháp khống chế sự sinh sản của muỗi. Can, chai lọ, bể nước cho chim tắm, các máng nước, lốp cũ, xe ô tô, chỗ trũng bẫy cá, thùng tưới nước và các dụng cụ cũ nên được dời đi để ngăn chặn muỗi làm nơi đẻ trứng. Nếu trứng không ấp thì tất yếu sẽ không có muỗi trưởng thành. Muỗi gây đênh sốt rét.(Anopheles quadrimaculatus) Đây là loài rất quan trọng đối với việc lây truyền bệnh sốt rét ở nhiều nước. Các bệnh lây truyền: sốt rét; được phát hiện thấy sự lây nhiễm với các virus viêm não và có thể có vai trò trong việc làm lây lan bệnh giun chỉ. Các đặc tính sinh học: trứng của muỗi anophel luôn được đẻ từng quả một trên bề mặt nước và được hỗ trợ bởi một vật như chiếc phao. Muỗi cái đẻ trứng một đợt 100 quả hoặc hơn. Trứng 190
  3. được ấp trong khoảng từ 2 đến 6 ngày; giai đoạn ấu trùng cuối cùng từ 6 đến 7 ngày cho tới vài tuần, phụ thuộc vào loài và các điều kiện môi trường, đặc biệt nhiệt độ nước. Hầu hết muỗi anophel hút máu người trước khi đẻ trứng vào mùa đông thường vượt qua bởi việc ngủ đông, muỗi cái ngủ đông có thể tồn tại từ 4 đến 5 tháng. Một con muỗi cái có thể đẻ tới 3000 trứng trong 12 lần đẻ. Nhận dạng: khá to, nâu sẫm với 4 chấm đen gần giữa cánh. Xúc tu và xương cổ chân hoàn toàn đen. Môi trường thích nghi: việc sinh sản chủ yếu trong các bể nước sạch các ao và nơi nước cạn. Loài này thể hiện sự ưa thích nước sạch và tĩnh đó là nước trung tính cho tới kiềm nhẹ. Các nơi cư trú thường là các ao ngâm nước vôi, lỗ đào, vũng nước mưa, bãi lầy, nhánh sông, các dòng lờ đờ, các bờ cạn, và các nơi nước đọng của các bể chứa và hồ. Sự sinh sản lớn nhất trong nước ở các cây mọc dưới nước hoặc các cành trôi nổi, vỏ cây và lá cây. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển từ 80 đến 900F. Một cái ao được xây dựng không thích hợp có thể là môi trường thích hợp đối với loài muối nay. Các biện pháp kiểm soát: sự thay đổi môi trường tạo ra môi trường không thích hợp, theo đó phương thức sinh sản của muỗi bị thay đổi, các phương thức đó là những cách kiểm soát muỗi: Kiểm soát tự nhiên - việc lấp các hố sâu, chỗ lún, đầm lầy và vũng lầy bằng đất hoặc chất khác. Đào sâu hơn các rãnh mương... làm cho nước chảy. Sự thay đổi bất thường của mực nước ao, bể chứa nước và sự ngăn nước khác cũng được sử dụng. Đây là cách thức để kiểm soát muỗi ở các hồ TVA. Muỗi nhà phương bắc (Culex pipiens) và muỗi nhà phương 191
  4. nam (Culex pipines quinquefasciatus) Các bệnh lây truyền: viêm não St.Louis, bệnh giun chỉ. Các đặc tính sinh học: đẻ trứng thành từng đám từ 50 đến 400 quả. Những đám này được biết là số lượng lớn, trôi nổi trên bề mặt nước. Trứng được ấp 1 hoặc 2 ngày trong thời tiết ấm, 8 đến 10 ngày thì hoàn thiện giai đoạn ấu trùng và nhộng. Loài này có thể tồn tại và đẻ trứng mà không cần hút máu. Chỉ hoạt động vào ban đêm. Nhận dạng: màu nâu có kích thước trung bình với các vạch ngang màu trắng ở trên bụng nhưng không có vết nổi bật. Môi trường thích nghi: những loài này phát triển đẻ nhiều trong các thùng đựng nước mưa, lớp, thùng, bình thiếc, và hầu như trong tất cả các thùng chứa nhân tạo. Chúng sống trong các hố ga, các rãnh nước tàn trên đường phố, các bể chìm bị ô nhiễm và các hầm chứa phân. Sản phẩm nặng thường được phát hiện trong nước với hàm lượng hữu cơ cao. Môi trường ẩm thích nghi cho sự phát triển nhanh. Các biện pháp kiểm soát: cũng giống như các biện pháp đối với loài Aedes. Con ve Ve chó châu Mỹ (Dermacentor variabilis) và ve gỗ (Dermacentor andersoni) Các bệnh lây truyền: sốt lốm đốm (sốt sinh ra do con tích), sốt do con tích Colorado, sốt Q, tê liệt. Các đặc tính sinh học: có 4 giai đoạn phát triển trong cuộc đời: trứng, ấu trùng có 6 chân, nhộng 8 chân, trưởng thành. Loài ve thường cộng sinh chặt chẽ với các động vật chủ. Con cái đẻ trên bề mặt đất. Con cái đẻ một lượng lớn trứng đôi khi lên đến 192
  5. hàng nghìn quả; nó chết sau khi đẻ trứng. Trứng ấp trong hai tuần tới vài tháng phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, và các nhân tố môi trường khác ấu trùng, hoặc "ve giống" có 6 chân và không thể phân biệt giới tính. Cơ hội ký sinh trên vật chủ là tạm thời, đôi khi được tạo được sự kéo dài một cách cưỡng bức. Sau khi hút máu, các ấu trùng no máu thường rơi vào đất và rụng lông chuyển thành giai đoạn nhộng 8 chân: Giai đoạn này phải chịu đựng một thời kỳ chờ đợi tới hạn đối với vật chủ thích hợp. Mặc dù chu trình sống của loài ve có thể hoàn thiện ít hơn một năm, nhưng nó có thể đòi hỏi hai năm hoặc lâu hơn. Cả hai con đực và cái đều là những kẻ hút máu và cả hai đều đòi hỏi được chăm sóc một vài ngày trước khi giao phối. Sau khi ve đực no đủ, nó thường giao phối với một hoặc nhiều ve cái rồi chết. Sau quá trình giao phối, ve cái rơi trên mặt đất. Sau một vài ngày để trứng phát triển ve cái bắt đầu đẻ trứng. Sau khi đẻ một vài ngày ve cái cũng chết. Nhận dạng: ve có một tấm chắn lưng và được vuốt thon về phía trước Môi trường thích nghi: các yếu tố khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ, là những yếu tố quan trọng đối với hoạt động và phát triển của ve. Một vài loài ve thì cực kỳ dễ thay đổi các chức năng của chúng để chống lại tính khắc nghiệt của nhiệt độ, một số tồn tại qua mùa đông lạnh lẽo như loài trưởng thành, nhộng và ấu trùng ngủ đông, các con khác tồn tại được ở nhiệt độ cao và điều kiện khô. Trong hầu hết các loài, nhiệt độ cao hơn ở mùa xuân và mùa hè làm tăng sự phát triển và hoạt động của chúng. Các biện pháp kiểm soát (cho người): giữ quần áo ngay ngắn, cho ống quắn vào trong tất và cho đuôi áo vào trong quần. Tránh 193
  6. ngồi trên nền đất và trên các miếng gỗ ở các khu vực rậm rạp. Kiểm tra định kỳ cơ thể. Phát quang và đốt các bụi cây dọc bên đường, duy trì việc cắt cỏ để tạo ra những khu vực làm giảm khả năng phá hoại của ve. Trong các khu vực gần dân cư cắt cỏ sẽ giúp cho việc kiểm soát cả các vật chủ gặm nhấm nhỏ bé của chúng. Sử dụng thuốc diệt ve trên da là không hiện thực; tuy nhiên, trong quân đội có sử dụng quần áo tẩm thuốc diệt chúng. Các biện pháp kiểm soát (cho động vật): sử dụng bắt bọ chét và ve" (có thể không có hiệu quả đối với các con chó lớn). Ronnel, một loại thuốc cơ photpho tiêu diệt côn trùng (dạng viên thuốc) có thể được được chấp nhận bởi bác sỹ thú y. Ve được kiểm soát trong các khu vực sinh trưởng bằng thuốc diệt chúng (bụi hoặc phun). Chúng có thể được kiểm soát bằng việc di chuyển các vật chủ như chó. Ve ký sinh trên gia súc có thể được kiềm chế bằng việc luân chuyển các đồng cỏ. Các loại ký sinh trên hươu nai (Bonnelia bungdonferi) làm lây lan bệnh bạch huyết. Con ghẻ Bệnh ngứa hoặc bệnh ghẻ (Sarcoptes scabiei) Các bệnh lây truyền: bệnh ghẻ. Bệnh nấm vảy ở cừu, bệnh ghẻ Texas của gia súc, bệnh lở ở chó và ngựa, bệnh sốt xuất huyết, bệnh đậu mùa rickettsial, bệnh viêm não, bệnh viêm da, bệnh huỷ hoại phổi, các bệnh về đường ruột và tiết niệu. Các đặc tính sinh học: cái ghẻ đẻ trứng và ấp trứng thành ấu trùng trải qua 2 hoặc nhiều hơn các giai đoạn nhộng và cuối cùng trưởng thành ấu trùng có một cặp chân trong khi giai đoạn nhộng có 4 cặp. Ghẻ cái đào lỗ bên dưới phía ngoài của lớp da và đẻ trứng trong những đường ống ngoằn ngoèo mà chúng đào. 194
  7. Trứng được ấp thành ấu trùng. Một số tác giả tin tưởng rằng ghẻ đực chỉ có giai đoạn nhộng và hoàn thành chu trình sống trong từ 9 đến 11 ngày; ghẻ cái có 2 giai đoạn nhộng và mất từ 14 đến 17 ngày - có lẽ lâu hơn trong thời tiết lạnh để hoàn thiện chu trình sống. Ghẻ trưởng thành sống được khoảng 1 tháng. Nhận dạng: cơ thể của chúng không phân chia thành từng khúc rõ ràng. Ghẻ cái trung bình dài từ 0,2 đến 0,4 tâm và ghẻ đực thì nhỏ hơn. Cơ thể giống như chiếc túi ovan; bề mặt cơ thể có các nếp nhăn mịn; lông mao dài. Môi trường thích nghi: cái ghẻ thường xuất hiện ở những nơi trú ngu nhỏ bé, đặc biệt trong các màng chân giữa các ngón và khe của lớp da ở cổ tay. Các biện pháp kiểm soát: bẫy hoặc đánh thuốc độc các loài gặm nhấm để loại trừ nguồn thức ăn cẩn thiết cho việc nuôi dưỡng và sản sinh ghẻ. Cách lý chúng khỏi nơi để rác, lương thực được để trong các thùng chứa chống chuột. Di dời các khu vườn gần nhà, cắt tỉa các bụi rậm sao cho cách ít nhất các toà nhà 1 yard (0,914 m). Thay đổi điều kiện môi trường cho phép ánh sáng và không khí được lưu thông, do đó sẽ làm khô ráo các nơi ẩm ướt. Sunphua cũng đã được sử dụng nhiều năm như là một loại thuốc diệt côn trùng. Ruồi Ruồi nhà (Musca domestica) Các bệnh lây truyền: bệnh khuẩn ly, bệnh ỉa chảy ở trẻ em, bệnh sốt thương hàn, bệnh phó thương hàn, dịch tả, khuẩn amip, giun kim, giun vòng, giun đũa. Các đặc tính sinh học: giai đoạn phát triển của ruồi nhà bao gồm trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Các giai đoạn này 195
  8. đòi hỏi từ 8 đến 20 ngày trong điều kiện bình thường. Ruồi cái bắt đầu đẻ trứng trong vòng từ 4 đến 20 ngày sau khi trưởng thành. Trứng có hình ovan, màu trắng và nhỏ, có chiều dài khoảng 1 mm. Ruồi cái đẻ từ 5 hoặc 6 lần trong vòng đời của nó, mỗi lứa đẻ từ 75 tới 150 trứng. Trứng thường được đặt trong các khe nứt và khe hở cách xa ánh sảng. Quá trình ấp trứng diễn ra trong vòng từ 12 đến 24 giờ trong mùa hè. Giai đoạn ấu trùng cuối cùng từ 4 đến 7 ngày trong điều kiện thời tiết ấm. Khi sẵn sàng phát triển thành nhộng, ấu trùng thu nhỏ lại cho tới khi hình thành vỏ bọc giống như viên thuốc dài khoảng 6 mm. Giai đoạn nhộng thường kéo dài từ 4 đến 5 ngày. Khi giai đoạn nhộng hoàn thiện, ruồi phá vỡ lớp vỏ và kết thúc giai đoạn nhộng và thực hiện các công việc của mình bên ngoài. Cánh được mở ra và thân được mở rộng, khô ráo và dần cứng lại. Những đòi hỏi này mất khoảng 1 giờ trong các điều kiện mùa hè. Tuổi trưởng thành ban đầu đạt được trong khoảng 15 giờ. Việc kết giao có thể được diễn ra. Mỗi tháng có hai thế hệ hoặc nhiều hơn được sản sinh trong điều kiện thời tiết ấm. Nhận dạng: loài bé, ngực và bụng xám dài 6 đến 9 mm. Ngực có 4 dải tối theo chiều dọc, cạnh bụng thường có màu xanh xám cơ bản, vân cánh thứ 4 có góc rực rỡ, kết thúc trước đầu cánh. Râu có ích cu lông mịn giống như lông chim. Môi trường thích nghi hầu hết bất cứ kiểu khí hậu ấm nào, vật liệu hữu cơ ẩm cũng có thể cung cấp nguồn thức ăn cho ấu trùng ruồi nhà. Phân động vật và rác rưởi là những vật trung gian nuôi dưỡng lý tưởng. Ruồi không hoạt động ở nhiệt độ dưới 450F và bị tiêu diệt ở nhiệt độ thấp dưới 320F, hoạt động hoàn thiện xảy ra khi nhiệt độ đạt đến khoảng 700F. Ruồi là bức 196
  9. tranh của vùng nhiệt đới. Các biện pháp kiểm soát: vệ sinh nơi lưu giữ rác và thu dọn thường xuyên. Kiểm soát phân của các động vật máu nóng. Hạn chế việc mở các đống rác. Vệ sinh bãi chôn lấp. Sử dụng máy nghiền rác và làm đông rắn. Sử dụng các lò đốt. Đổ thải chất thải công nghiệp và rác thải đúng quy cách. Loại trừ việc tích trữ các chất hữu cơ làm duy trì điều kiện ẩm kéo dài tạo điều kiện sản sinh ruồi. Loại trừ cỏ dại khi có thể, sử dụng điện để diệt ruồi (thường rất tốn kém), hoặc các phương pháp hoá học như thuốc diệt ấu trùng, bả ruồi, phun thuốc v.v... Ruồi ngựa đen (Tabanus atratus) Các bệnh lây truyền: ruồi ngựa đen làm lây lan một số bệnh nghiêm trọng đối với con người và động vật, gây ra bởi các virus (bệnh viêm miệng, bệnh tả ở lợn, bệnh viêm não Califomia), vi khuẩn (bệnh than), các sinh vật giống như rickettsia (bệnh sốt Q), trùng (bệnh xura) và giun chỉ. Ruồi ngựa đen là kẻ thù chính của gia súc và ngựa. Các đặc tính sinh học: nhiều loài đẻ trứng trên cây gần nước và ấu trùng của chúng phát triển trong đất ẩm ướt và nước. Loại ruồi này có thể mất từ 2 đến 3 năm để phát triển. Ruồi ngựa là những kẻ cắn hút nguy hiểm, các vết thương gây ra có thể ngứa rất nhiều ngày. Chỉ ruồi cái mới hút máu; ruồi đực ăn mật hoa. Nhận dạng: kích thước lớn; có 5 ô đặt ở phía sau trên cánh và 3 râu chia đoạn. Môi trường thích nghi: đất ẩm, trong bóng tối của cây, trong các bãi cỏ khô và thưa thớt, nơi hiếm khi nước đọng hoặc chẳng khi nào có. Một vài ấu trùng phát triển trong đất cỏ khô. Ruồi chuồng ngựa (Stomoxvs calcitrans) 197
  10. Các bênh lây truyền: có thể là một vectơ của bênh sung (bệnh trùng của ngựa và la) và lây truyền bệnh thiếu máu (virus bệnh của ngựa) ấu trùng ruồi chuồng ngựa là nguyên nhân gây bệnh viêm tuỷ ở ngựa và động vật nội địa. Bởi vì tập tính hút máu của chúng, chúng thì bị nghi ngờ bởi việc truyền một số lớn bệnh tật. Các đặc tính sinh học: nó không sản sinh từ phân người và thường không bị thu hút bởi phân và rác. Do đó, nó ít có khả năng mang mầm mống của bệnh ỉa chảy và các bệnh đường ruột khác ấu trùng phát triển mất một thời gian từ 8 đến 30 ngày hoặc hơn, phụ thuộc vào nhiệt độ. Nhận dạng: ngực dài 5 đến 6 mm với màu xám và có 4 dải tối xếp theo chiều dọc và đốm xanh ở phía sau đầu, bụng nhuộm màu xám với các chấm tối. Cả con đực và cái là những kẻ cắn hút rất nguy hiểm. Nó tiêu biểu cho tất cả các giống ruồi nội địa bởi có vòi chích thò ra giống như lưỡi lê ở phía trước đầu. Môi trường thích nghi: con cái đẻ trứng trong những cây mục hơn là trong phân, trong thân rơm rạ, trong đống cỏ lên men, đám cỏ, cỏ lạc, hoặc phân chuồng ngựa đã phối trộn đều với rơm hay cỏ lạc Các biện pháp kiểm soát: bỏ thải cẩn thận đối với các cây mục, kiểm soát các đống cỏ lên men, cỏ lạc khô, kiểm soát nơi mà phân được phối trộn vơi rơm, thực hiện vệ sinh môi trường tốt. Ruồi đen (Simulium venustum) Các bệnh lây truyền: một số loài ruồi đen truyền động vật nguyên sinh tới vịt và gà tây. Các đặc tính sinh học: cả hai giới đều hút mật hoa và hầu hết 198
  11. con cái hút máu. Trứng được đẻ gần các dòng nước, ấu trùng và nhộng thì được tìm thấy kèm với đá ngầm, que, hoặc cây cối. Tuổi trưởng thành từ giai đoạn nhộng trong các kén chìm dưới nước và trôi trên mặt trong những bọt khí. Nhiều loài đã kết đôi ngay sau khi sinh ra. Các vết cắn của ruồi đen đầu tiên không đau, nhưng sau đó trở nên sưng phồng, cứng lại, và đau, đôi khi gây nhiễm trùng từ vết xước da. Chúng bu lại thành đàn trên những phần trần của cơ thể, đặc biệt trên đầu, đi vào mũi, mắt, tai và mồm. Nhận dạng: dài từ 2 đến 5 mm, cơ thể rắn chắc với những chiếc râu ngắn, cánh có những vân ở phía trong khá phát triển, và một cái ngực gù. Chúng thường được gọi bằng một cái tên “ruồi trâu”. Môi trường thích nghi: đá chìm trong các dòng nước, cây là những vật có thể làm nơi bám của trứng, ấu trùng. Các biện pháp kiểm soát: tạo ra một môi trường không thích hợp cho ruồi, sử dụng các loại thuốc diệt côn trung, tìm kiếm kẻ thù tự nhiên của chúng. Ruồi nai Các bệnh lây truyền: ở nhiều nước ruồi nai quan trọng trong việc truyền bệnh có tính địa phương đã được biết đến ở miền Tây như bệnh sốt. Chúng mang vi khuẩn bệnh than từ động vật nội địa đến người. Nhận dạng: có chiều dài trung bình từ 6 đến 12 mm, thường có cánh đốm khoang. Rất giống với các đặc tính của ruồi ngựa. Môi trường thích nghi: đất ẩm, trong bóng tối của cây, trong điều kiện khô ráo của các bãi cỏ thưa nơi hiếm khi có nước đọng hoặc không bao giờ xuất hiện. Một số ấu trùng phát triển trong 199
  12. điều kiện khô của các bãi cỏ. Các biện pháp kiểm soát: việc kiểm soát rất khó khăn - thuốc diệt ruồi chưa có hiệu quả . Chấy rận Bản thân (Pediculus humanus humanus) Các bệnh lây truyền: bệnh sốt, bệnh sốt chiến hào, bệnh sốt hồi quy do chấy rận. Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn trong vòng đời: trứng, nhộng, trưởng thành. Trứng có màu nâu nhạt, chiều dài 0,8 mm và chiều rộng 0,3mm. Trứng (được gọi là "trứng chấy") được gắn kết thành sợi trong quần áo lớt. Trứng được ấp bởi nhiệt từ cơ thể và ấp trong khoảng 1 tuần. Sau khi phát triển từ trứng, nhộng rụng lông 3 lần trước khi trở thành con trưởng thành về giới tính. Toàn bộ chu trình hoàn thiện vòng đời của chúng khoảng 18 ngày. Cơ thể chấy rận trưởng thành khác không nhiều so với nhộng ngoại trừ kích thước và độ trưởng thành của giới tính. Con đực nhỏ hơn con cái. Sự kết giao xuất hiện thường xuyên và bất cứ lúc nào trong đời sống trưởng thành, từ 10 giờ đầu cho tới lúc già. Chấy rận có thể đẻ 9 đến 10 trứng mỗi ngày với tổng số từ 270 đến 300 trứng trong suất cuộc đời. Chúng có thể di chuyển khá nhanh từ vật chủ này sang vật chủ khác hoặc từ người tới bộ đồ thường. Nhận dạng: có chiều dài 2 đến 4 mm, bụng kéo dài, không phát triển lông bên, chân có 3 cặp tương đương nhau, có màu trắng xám nhạt và chân có vuốt giống như móc. Môi trường thích nghi: loài chấy rận này phát triển mạnh ở mặt trong của quần áo, tiếp đến là cắn hút máu. Chúng sống dựa vào máu người làm nguồn thức ăn. Rất khó tìm phương thức 200
  13. cách lý chúng khỏi người. Các biện pháp kiểm soát: kiểm tra quần áo dọc theo các nếp gấp và đường may nổi. Thường xuyên giặt bằng nước nóng. Giặt khô có thể được sử dụng để tiêu diệt chấy rận trên quần áo len. Sử dụng xà phòng và chất tẩy rửa. Rắc bột diệt côn trùng. Tắm với nồng độ sữa cao (đòi hỏi một đơn thuốc của bác sỹ). Chấy rận ở đầu (Pediculus humanus capitis) Các bệnh lây truyền: bệnh chấy rận Các đặc tính sinh học: sự biến thái giống như chấy rận trên người. Loài này sống trên đầu và vùng cổ. Trứng được gắn kết với tóc của da đầu. Mắn đẻ, đẻ khoảng 4 trứng mỗi ngày với tổng số 88 trứng trong toàn bộ cuộc đời. Nhận dạng: dài 1 đến 2 mm, bụng kéo dài không có sự phát triển của lông bên; có 3 đôi chân tương tự nhau; có màu trắng xám với mép màu tối. Môi trường thích nghi: hầu hết phổ biến ở phía sau cổ và sau tai. Chúng ưa thích nhiệt độ và phổ biến ở trẻ em. Ruồi nai Các bệnh lây truyền: ở nhiều nước ruồi nai quan trọng trong việc truyền bệnh có tính địa phương đã được biết đến ở miền Tây như bệnh sốt. Chúng mang vi khuẩn bệnh than từ động vật nội địa đến người. Nhận dạng: có chiều dài trung bình từ 6 đến 12 mm, thường có cánh đốm khoang. Rất giống với các đặc tính của ruồi ngựa. Môi trường thích nghi: đất ẩm, trong bóng tối của cây, trong điều kiện khô ráo của các bãi cỏ thưa nơi hiếm khi có nước đọng hoặc không bao giờ xuất hiện. Một số ấu trùng phát triển trong điều kiện khô của các bãi cỏ. 201
  14. Các biện pháp kiểm soát: việc kiểm soát rất khó khăn - thuốc diệt ruồi chưa có hiệu quả. Chấy rận Rận thân (Pediculus humanus humanus) Các bệnh lây truyền: bệnh sốt, bệnh sốt chiến hào, bệnh sốt hồi quy do chấy rận. Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn trong vòng đời: trứng, nhộng, trưởng thành. Trứng có màu nâu nhạt, chiều dài 0,8 mm và chiều rộng 0,3mm. Trứng (được gọi là "trứng chấy") được gắn kết thành sợi trong quần áo lót. Trứng được ấp bởi nhiệt từ cơ thể và ấp trong khoảng 1 tuần. Sau khi phát triển từ trứng, nhộng rụng lông 3 lần trước khi trở thành con trưởng thành về giới tính. Toàn bộ chu trình hoàn thiện vòng đời của chúng khoảng 18 ngày. Cơ thể chấy rận trưởng thành khác không nhiều so với nhộng ngoại trừ kích thước và độ trưởng thành của giới tính. Con đực nhỏ hơn con cái. Sự kết giao xuất hiện thường xuyên và bất cứ lúc nào trong đời sống trưởng thành, từ 10 giờ đầu cho tới lúc già. Chấy rận có thể đẻ 9 đến 10 trứng mỗi ngày với tổng số từ 270 đến 300 trứng trong suốt cuộc đời. Chúng có thể di chuyển khá nhanh từ vật chủ này sang vật chủ khác hoặc từ người tới bộ đồ thường. Nhận dạng: có chiều dài 2 đến 4 mm, bụng kéo dài, không phát triển lông bên, chân có 3 cặp tương đương nhau, có màu trắng xám nhạt và chân có vua giống như móc. Môi trường thích nghi: loài chấy rận này phát triển mạnh ở mặt trong của quần áo, tiếp đến là cắn hút máu. Chúng sống dựa vào máu người làm nguồn thức ăn. Rất khó tìm phương thức cách lý chúng khỏi người. 202
  15. Các biện pháp kiểm soát: kiểm tra quần áo dọc theo các nếp gấp và đường may nổi. Thường xuyên giặt bằng nước nóng. Giặt khô có thể được sử dụng để tiêu diệt chấy rận trên quần áo len. Sử dụng xà phòng và chất tẩy rửa. Rắc bột diệt côn trùng. Tắm với nồng độ sữa cao (đòi hỏi một đơn thuốc của bác sỹ). Cháy rận ở đầu (Pediculus humanus capitis) Các bệnh lây truyền: bệnh chấy rận Các đặc tính sinh học: sự biến thái giống như chấy rận trên người. Loài này sống trên đầu và vùng cổ. Trứng được gắn kết với tóc của da đầu. Mắn đẻ, đẻ khoảng 4 trứng mỗi ngày với tổng số 88 trứng trong toàn bộ cuộc đời. Nhận dạng: dài 1 đến 2 mm, bụng kéo dài không có sự phát triển của lông bên; có 3 đôi chân tương tự nhau; có màu trắng xám với mép màu tối. Môi trường thích nghi: hầu hết phổ biến ở phía sau cổ và sau tai. Chúng ưa thích nhiệt độ và phổ biến ở trẻ em. Các biện pháp kiểm soát: cắt tóc; gội đầu; không chia sẻ các sở hữu cá nhân chẳng hạn như lược và bàn chải; sử dụng DDT nơi cho phép hoặc 1% lindane; kiểm tra trẻ em thường xuyên. Con chấy Con rận Hình 8 203
  16. Loài chấy rận thường phát hiện thấy ở người Rận (Pthirus pubis) Các bệnh lây truyền: bệnh chấy rận Các đặc tính sinh học: chu trình sống tương tự như chấy rận trên thân và trên đầu; trứng dính vào tóc. Không biết rõ chúng đẻ được bao nhiêu trứng, nhưng một con rận cái có thể đẻ được 26 trứng, trung bình 3 trứng mỗi ngày. Có 3 giai đoạn nhộng. Trong một số mẫu vật đã được nghiên cứu, thì chúng mất 13 đến 17 ngày để trưởng thành. Giai đoạn trưởng thành sau cùng ít hơn một tháng. Chân chúng phỏng theo những chiếc lông lớn bám víu và trưởng thành phát triển thành lông có sự mở rộng lớn. Loài này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nếu cách xa vật chủ bởi vì chúng là vật hút máu. Nhận dạng: kích thước nhỏ từ 0,8 tới 1,2 mm, có màu trắng xám với một cái bụng ngắn mang một chòm lông ở bên, đôi chân thứ hai và thứ ba to. Môi trường thích nghi: thường phát hiện thấy trong tóc và khu vực hậu môn. Có thể phát hiện thấy trên lông của vùng ngực và vùng bụng: Các biện pháp kiểm soát: cạo râu và cắt tỉa để di dời các con trưởng thành, giai đoạn non nớt, và trứng dính trên tóc. Phun lindane hoặc malathion 1%. Vệ sinh phòng ngủ, giường và bản thân. Gián Gián châu Mỹ (thường được gọi là "rêu nước”) (Periplaneta americana). Các bệnh lây truyền: gián có thể mang các sinh vật gây ra các bệnh (ỉa chảy, lỵ, thương hàn, bệnh dịch tả và ngộ độc thức- ăn). 204
  17. Loài gián này có thể mang nhiều giống vi khuẩn salmonella và khuẩn cầu chùm là nguyên nhân : gây ra ngộ độc thức ăn. Chúng thường tiếp xúc với cống rãnh, thùng rác và thức ăn của con người. Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn trong chu trình sống của loài gián này: trứng, nhộng và trưởng thành. Trứng được đẻ trứng bao trứng có hình dáng giống như vỏ con trai. Nhộng không có cánh và rất nhỏ. Sự phát triển xảy ra trong giai đoạn rụng lông liên tiếp trong đó cơ thể được bảo vệ và một vài lớp vỏ bên trong mất đi. Các đặc tính mới, chẳng hạn như đầu cánh và cuối cùng là cánh sẽ xuất hiện sau sự rụng lông này. Các con đực trưởng thành nhanh hơn con cái và có sự rụng lông trong một vài giai đoạn phát triển. Trung bình mất 1 năm để trưởng thành từ trứng. Con cái đẻ 14 đến 16 trứng mỗi lần. Nhận dạng: loài có kích thước lớn, có chiều dài từ 35 đến 40 mm, có màu hơi đỏ và nâu thẫm với một sự biến đổi màu vàng nhạt Môi trường thích nghi: chúng phân bố hầu như rộng khắp thế giới và ưa thích khí hậu ấm, môi trường ẩm, như trong cống rãnh, phòng hơi, tầng hầm và bếp - và trong các khe nứt của nhà, Cũng có thể phát hiện thấy trên cây rỗng, đống gỗ và nơi để rác rưởi. Chúng ăn keo hồ và tinh bột, huỷ hoại sách và tranh ảnh. Các biện pháp kiểm soát: vệ sinh cơ bản đây đi của chúng thức ăn, nước và nơi ở). Bảo quản rác thích hợp (cho vào túi) và kiểm soát rác (làm sạch rác). Bảo quản thức ăn hợp lý. Sử dụng thuốc tiêu diệt chúng. Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn phát triển trong chu trình sống của loài gián này: trứng, nhộng và trưởng thành. Giai 205
  18. đoạn phát triển từ trứng đến trưởng thành trong 2 đến 3 tháng. Con cái của loài này khác với hầu hết các con cái của các loài khác bởi sự mang trứng thò ra bên ngoài ở bụng cho đến trước khi con non được sinh ra. Những con non được sinh ra từ trứng thậm chí trước khi nó được sinh ra từ bụng con cái. Con trưởng thành có thể bay nhưng rất hiếm khi. Con cái đẻ 37 đến 44 trứng mỗi lần. Nhận dạng: kích thước nhỏ, dài từ 10 đến 15 mm có màu xám nhạt với hai vạch màu đen nhạt trên lớp phủ ở đầu. Môi trường thích nghi: rất nhiều ở trong bếp và những nơi để thức ăn, nhưng nó thường xuất hiện trong phòng tắm và đôi khi trong khắp các toà nhà. Loài này thường đi vào nhà trong các hộp bìa cứng đựng các chai nước uống hoặc tủ. Các biện pháp kiểm soát: vệ sinh cơ bản (lấy đi của chúng thức ăn, nước và nơi ở). Bảo quản rác thích hợp (cho vào túi) và kiểm soát rác (làm sạch rác). Bảo quản thức ăn hợp lý. Sử dụng thuốc tiêu diệt chúng. 5.4 Các bệnh lây truyền qua hệ tiêu hoá của động vật Cho đến khoảng năm 1950, các bệnh truyền nhiễm như sốt thương hàn, kiết lỵ, dịch hạch, các loại sốt phát ban và bệnh lao là nguyên nhân chính gây chết người ở một số nước trên thế giới. Nhờ những thành công về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, sức khoẻ môi trường và những thành tựu về y học ở các nước phát triển trên thế giới những căn bệnh này đã được kiểm soát ở một số nơi. Tuy nhiên, những thành công đã đạt được thường đem lại những thách thức cho tương lai. Khi tuổi thọ của con người được kéo dài - sẽ phải đối mặt với các vấn đề về sức khoẻ khác, các bệnh thoái hoá mãn tính. Các bệnh được gọi là mãn 206
  19. tính vì chúng kéo dài và được gọi là thoái hoá vì chúng ngày càng phá huỷ dần các tế bào của con người. Trong khi những bệnh có khả năng lây lan bắt đầu một cách đột ngột thì các bệnh mãn tính lại bắt đầu rất từ từ. Những nguyên nhân gây bệnh nhiều khi không rõ ràng, không thường xuyên, chúng thường phát triển trong một thời gian dài, thông thường các bệnh mãn tính làm giảm chức năng của cơ thể trong một thời gian dài và việc chữa trị là rất tốn kém vì chúng cần có thời gian chăm sóc. Quay lại thế kỷ này, một trong bảy bệnh là bệnh tim hay chứng đột quỵ. Hiện nay ở một số nước, bệnh tim và bệnh mãn tính cùng với bệnh ung thư là 3 nguyên nhân chính gây chết người. Các bệnh mãn tính và bệnh truyền nhiễm khác khác nhau ở một số khía cạnh. Thứ nhất là nguyên nhân. Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến 2 loại bệnh này, chẳng hạn: các yếu tố di truyền, dinh dưỡng, kinh tế và xã hội. Điểm khởi đầu của bệnh truyền nhiễm là từ một tác nhân sinh học, chẳng hạn như một virus. Trái lại các nguyên nhân chính của bệnh mãn tính thường bắt nguồn từ lối sống, mức độ hoạt động, lượng muối, sử dụng thuốc lá và rượu. Trong những năm gần đây, con người đã hiểu rằng môi trường, đặc biệt là môi trường nghề nghiệp, đóng một vai trò quan trọng trong sự khởi đầu và làm trầm trọng hơn những bệnh mãn tính. Mức độ thứ 2 về sự khác biệt giữa bệnh truyền nhiễm và mãn tính là thời gian. Bệnh truyền nhiễm thường trắm trọng và xuất hiện đột ngột và tồn tại trong một thời gian ngắn. Trái lại, bệnh mãn tính thường xuất hiện chậm và tiềm ẩn và tồn tại trong thời gian dài. Mức độ thứ 3 là sự gây ra hai bệnh. Bệnh truyền nhiễm thường do một tác nhân sinh học hoặc cùng với một vài triệu 207
  20. chứng rõ rệt. Tuy nhiên, bệnh mãn tính thường không phải do một tác nhân đơn lẻ mà tổng hợp nhiều nguyên nhân. Sự khác nhau cuối cùng giữa bệnh truyền nhiễm và bệnh mãn tính là kết quả sau khi điều trị. Sau khi đưa chữa trị, hầu hết những người mắc bệnh truyền nhiễm hồi phục sức khoẻ trong thời gian ngắn. Trái lại, hầu hết những người bị bệnh mãn tính thì bị yếu trong một thời gian dài - thường là suốt quãng đời còn lại của họ. Chính vì bệnh mãn tính liên quan đến lối sống do đó càng khó kiểm soát hơn so với các bệnh lây lan khác. Các chuyên gia về sức khoẻ, đặc biệt là các thầy thuốc cố gắng khuyến khích cộng đồng thay đổi lối sống của họ để nâng cao sức khoẻ. Họ nhấn mạnh lợi ích của việc đi bộ, đi xe đạp, kiểm soát stress, ngừng hút thuốc và giảm uống rượu. Hiện nay, tác nhân gây các bệnh mãn tính là do môi trường bị ô nhiễm hoặc môi trường làm việc cùng với lối sống là một thách thức nổi bật ở các nước phát triển. Tuy nhiên, các bệnh truyền nhiễm vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước chậm phát triển. 208
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2