
Yết Kiêu
Yết Kiêu (1242-1301) là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần,
người có công giúp Nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII với biệt tài
thủy chiến. Ông là người bơi lặn giỏi, đã sử dụng tài của mình để đục thuyền của quân
xâm lược Nguyên Mông.
Xuất thân
Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, con trai của Phạm Hữu Hiệu và bà Vũ Thị
Duyên.
Yết Kiêu quê tại làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Yết
Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Có nhiều truyền thuyết trong dân gian về cuộc
đời và những chiến tích của ông. Theo đó, Yết Kiêu sinh ra trong một gia đình nghèo,
cha mất sớm. Từ nhỏ, ông đã phải lăn lộn trên sông nước để kiếm sống và nuôi mẹ.
Ông là gia nô trung thành và cận vệ đắc lực cho Trần Hưng Đạo.

Tương truyền, ông nhà nghèo, hằng ngày ông phải đi mò cua bắt ốc, bắt cá đem
bán lấy tiền đong gạo nuôi thân. Ông có sức khỏe và dũng cảm lạ thường. Một hôm
thấy hai con trâu trắng đang húc nhau trên bãi cát, ông dùng đòn gánh phang, cả hai
con trâu chạy biến xuống nước. Ông mới biết hai con trâu mình vừa đánh là trâu thần,
sờ lại đầu đòn gánh thì thấy còn dính vài cọng lông, ông liền nuốt lấy, từ đó mà ông
bơi lặn giỏi. Ông lội nước hàng mấy dặm như đi trên đất và thường lặn lội bắt cá, mò
trai cả ngày dưới nước.
Hiện nay vẫn còn đền thờ Yết Kiêu, gọi là đền Quát, thuộc tả ngạn sông Đò
Đáy, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Tên của ông được đặt tên cho một
phố ở Hà Nội, nơi có trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội mà thường được biết đến với
tên gọi Mỹ thuật Yết Kiêu.
Tên gọi
Theo chú thích trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, tên gọi Yết Kiêu là tên một loài
chó săn ngắn mõm. Cách dùng tên thú đặt tên cho người nói lên địa vị làm "nô" thấp
kém của họ.[1] Yết Kiêu là đại diện cho lực lượng nô tỳ, có vài trò lớn trong cuộc
kháng chiến chống Nguyên.
Cuộc đời và truyền thuyết
Can gián
Giữ thuyền ở Bến Tân
“Yết Kiêu cùng với Dã Tượng là hai gia nô trung thành của Hưng Đạo Vương.
Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân (trên sông Lục Nam), Dã Tượng

đi theo Hưng Đạo Vương. Khi quân Việt thua chạy, thủy quân bị tan cả. Hưng Đạo
Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:
- Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền.
Hưng Đạo Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó, vui mừng
nói:
- Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu
chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.
Nói xong chèo thuyền đi, kỵ binh Nguyên đuổi theo không kịp. Hưng Đạo
Vương rút về Vạn Kiếp, chia quân đón giữ ở Bắc Giang.[2]”
Ý Trần Hưng Đạo muốn nói: người tướng tài giỏi, nổi tiếng phần lớn cũng là
nhờ những người chung quanh mình ra sức làm việc, phò tá, nếu chỉ có một cá nhân
mình thì không sao có thể làm nên sự nghiệp lớn.
Dùi đắm thuyền giặc
Bấy giờ, giặc Nguyên kéo mấy trăm chiếc thuyền theo đường biển vào đánh
chiếm Đại Việt. Yết Kiêu không quản mùa đông giá rét, đêm đêm lặn xuống biển,
nằm dưới đáy thuyền, lấy dùi sắt nhọn đục thủng thuyền. Thuyền giặc bị nước biển
chảy ồ vào, chìm ngay. Quân giặc sợ lắm. Lúc đầu chúng không hiểu vì lẽ gì. Sau giặc
chăng lưới vây bắt được Yết Kiêu. Chúng hỏi ông:
- Nước mày có bao nhiêu người có tài bơi lặn như mày?
Ông đáp:

- Nước Nam có rất nhiều người có tài bơi lặn như tôi. Hiện nay họ vẫn ẩn nấp ở
dưới biển để đục thuyền, chỉ một mình tôi chẳng may bị bắt. Nếu các ông tha tôi ra tôi
sẽ dẫn các ông đến chỗ họ ẩn nấp, tha hồ cho các ông bắt.
Bọn giặc hí hửng vì tưởng bở, chúng lấy một chiếc thuyền nhẹ chở ông đi.
Thừa lúc giặc sơ ý và không nhìn thấy, ông nhảy tùm xuống biển, lặn trốn về doanh
trại quân ta, tiếp tục cùng quân dân ta đánh giặc cứu nước. Quân giặc đành trơ mắt
nhìn nhau căm tức.
Yết Kiêu với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” đã lập nhiều công
lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân.
Về huyện Gia Lộc, cách thị trấn khoảng 3 km về phía tây, đi qua những cánh
đồng lúa đang trổ bông đón gió, ta sẽ đến Đền Quát, tại Hạ Bì (vốn là một làng chài ở
tả ngạn sông Đáy), nơi thờ Yết Kiêu, một danh tướng tài đức song toàn, đặc biệt là tài
thuỷ chiến trời Trần.
Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, con ông Phạm Hữu Hiệu, người thôn Hạ
Bì và bà Vũ Thị Duyên, người huyện Thanh Hà. Cha làm nghề chài lưới bên sông
Quát, mẹ bán hàng nước ở bến đò.
Cuộc sống bần hàn của một gia đình ngư dân nghèo khó và sớm mồ côi cha đã
khiến Phạm Hữu Thế rất vất vả, phải chài lưới, cào hến giúp mẹ kiếm ăn ngay từ nhỏ.
Cuộc sống trên sông nước đã khiến ông bơi lội rất giỏi.

Tương truyền, năm 15 tuổi, vào một buổi sáng tinh mơ, Phạm Hữu Thế ra sông
gánh nước. Sương trắng mù mịt nổi khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu
trắng húc nhau liền dùng đòn ống đánh đuổi, can ngăn. Hai con trâu biến mất, Hữu
Thế thấy còn hai chiếc lông còn dính vào đòn ống, đặt xuống nước, nước rẽ ra làm
đôi.
Cho đây là lông trâu thần, ông liền nuốt vào bụng. Từ đấy, Phạm Hữu Thế có
thân thể hùng cường, trí lực, bơi lội tài giỏi, đi trong nước như ở trên đất bằng vậy.
Sự lạ lùng ấy ứng với bức hoành phi trong đền Quát “Thiên cổ dị nhân” (từ
trước tới nay mới có người lạ thường như vậy). Thực ra, đây là một cách lý giải tài bơi
lội của Phạm Hữu Thế để làm tăng thêm tính phi thường của viên tướng xứ Đông này,
khẳng định tài bơi lội của ông như do thần linh mang lại.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai và lần ba, Phạm
Hữu Thế với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” (đi dưới nước ung dung, tự
tại như trên đất bằng) đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ
nhất đô soái thuỷ quân. Ông đã được nhân dân và vua quan nhà Trần gọi là Yết Kiêu
(tên một loài cá lớn ngày xưa).
Nhiệm vụ của Yết Kiêu là tìm cách đục thuyền của giặc trong đêm. Khi màn
đêm buông xuống, Yết Kiêu tìm cách vượt qua hàng lính bảo vệ thuyền giặc rồi nhẹ
nhàng đục thuyền giặc. Mỗi thuyền phải đục khoảng trên 20 lỗ, đục được lỗ nào lại

