TÊN HỌ CỦA NGƯỜI
TÂY PHƯƠNG
Để hiểu nguồn gốc tên họ Việt Nam, ta cần hiểu nguồn gốc
tên họ tại tây phương vì tên họ tại Âu Châu mới xuất hiện
gần đây nên các học giả biết rõ tiến trình phát sinh tên họ.
Nhờ đó, ta sẽ thấy việc phát sinh tên h tại Việt Nam cũng
như Trung Quốc, không ra ngoài nguyên tắc chung của nhân
loại.
Trong mục này, ta sẽ nghiên cứu: (a) Lịch sử tên htại Âu
Châu và Do Thái. Sdĩ ta cần biết tên họ tại Do Thái vì
nhiều tên họ tây phương bắt nguồn từ tiếng Do Thái, (b) Các
nguồn phát sinh tên họ tại tây phương, (c) Số tên họ và s
phân phối tên htại một số nước tây phương, (d) Sự biến đổi
tên họ tại tây phương, tiêu biểu là Hoa K.
Lịch sử tên họ tại Châu Âu - Do Thái
1. Hệ Thống Tên Họ Của Người La Mã :
n họ tại Âu Châu xuất hiện rất sớm. Thời tiền sử, dân La
Mã có một tên như Romulus, Remus, Manius. Đến khi người
La Mã bắt đầu chia thành bộ lạc, thị tộc, gia tộc thì hệ thống
tên người La Mã dần dần có 3 thành phn mà tiếng Latin gọi
là Praenomen - Nomen - Cognomen. Theo tác phẩm Latin
Dictionay and Grammar Aid của viện đại học Notre Dame ở
Hoa K thì Praenomen là tên chính; Nomen là tên h;
Cognomen: cũng là tên hnhưng được đặt theo đặc tính để
thêm sự phân biệt. Ví dụ tên Gaius Valerius Catullus thì
Gaius: Praenomen; Valerius: Nomen; Catullus: Cognomen.
Ban đầu, chỉ tên những người thuộc gia đình quý tộc mới có
hai thành phn : Praenomen và Nomen. Còn tên của giới hạ
lưu chỉ có một thành phần : Praenomen.
Theo tác giả Varro (116-27 B.C.), số tên chính của người La
rt giới hạn, chỉ có 32 tên nhưng 18 tên là thông dụng:
Appius, Aulus, Decimus, Gaius, Gnaeus, Kaeso, Lucius,
Mamercus, Marcus, Marius, Numerius, Publius, Quintus,
Servius, Sextus, Spurius, Tiberius, Titus. Mỗi gia đình qúy
tộc chỉ được chọn một vài tên trên đây. Ví dụ gia tộc Claudii
chỉ được chọn tên chính Appius; còn gia đình Cornelli được
chọn các tên như Gnaeus, Lucius, Pubius, và Servius. Vì s
giới hạn, nên nhiều người có tên chính ging nhau, thành ra
tên Praenomen mất ý nghĩa và người ta thường viết tắt tên
này.
Tiếp theo Praenomen là Nomen. Từ Nomen trong hệ thống
tên người La Mã được Bách Khoa Từ Ðiển Britannica[74]
định nghĩa là tên gia tộc phụ hệ, tức tên họ. Như vậy, ban đầu
Nomen là tên họ. Cũng như tên chính, Nomen cũng chỉ
một số tên như Antonius, Aurelius, Claudius, Cornelius,
Fabius, Tullius. Tên Nomen dành riêng cho các gia đình quý
tộc nên dù số tên họ Nomen có giới hạn, cũng đáp ứng đủ
nhu cầu. Ðến khi xã hội La Mã có nhiu gia đình qúy tộc
hơn, thì người ta sáng chế thêm thành phần thứ ba mà họ gọi
là Cognomen.
Cognomen cũng là tên họ như Nomen, nhưng là các từ chỉ
đặc tính, giống với đặc tính tên họ mà ta thấy ngày nay tại
các nước trên thế giới, như tên họ xuất phát từ tên ngh
nghip, từ nét đặc thù trên cơ thể, từ địa danh. dụ tên h
Cicero có nghĩa là hạt đậu, Pictor: họa sĩ, Plautus: chân bằng,
Tacitus: yên lặng. Vậy trải qua thời gian, cuối cùng tên người
La Mã gồm ba thành phần: Praenomen + Nomen +
Cognomen, tức Tên Chính + Tên Gia Tộc + Tên Họ. Ví dụ
tên của văn hào Cicero là Marcus Tullius Cicero (106-43
TCN), và tên ca danh tướng Caesar là Gaius Julius Caesar
(100-44 TCN). Ðiều đáng chú ý là hệ thống tên gồm ba thành
phần trên vẫn chỉ dành cho gii qúy tộc và nó tồn tại suốt
thời đại đế quốc La Mã và các nước thuộc địa. Về sau, vào
khong thế k thứ 2 trước Công Nguyên, hthống tên của
người La Mã bị tàn dần lụi vì hai lý do:
a. Dân nô l được giải phóng: Mỗi khi người nô lệ được giải