intTypePromotion=1

Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường theo thang đo SDQ ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội, năm 2015

Chia sẻ: ViHani2711 ViHani2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
3
lượt xem
1
download

Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường theo thang đo SDQ ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội, năm 2015

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần học đường tại TP. Hà Nội, qua đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp kịp thời.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường theo thang đo SDQ ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội, năm 2015

  1. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN HỌC ĐƯỜNG THEO THANG ĐO SDQ Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI, NĂM 2015 Vũ Thị Loan*, Lương Xuân Hiến*, Lê Thanh Hải**, Thành Ngọc Minh**, Đỗ Mạnh Hùng** TÓM TẮT Mục tiêu: Tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần học đường tại TP. Hà Nội, qua đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp kịp thời. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng thang đo SDQ trên 1118 học sinh THCS tại trường THCS Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn và trường THCS Cát Linh, quận Đống Đa, TP. Hà Nội từ tháng 11-12 năm 2015. Kết quả: Điểm trung bình về dấu hiệu cảm xúc là 3,94±2,29, vấn đề cư xử là 2,04±1,69, tăng động giảm chú ý là 3,29±1,77, quan hệ đồng lứa là 2,75±1,74, hành vi tiền xã hội 6,57± 2,14, điểm tác động là 0,71 ± 1,42. Tổng điểm RLTT là 12,02±5,35. Kết luận: Tỷ lệ rối loạn tâm thần: Rối loạn cảm xúc 13,69%, rối loạn cư xử 8,94%, rối loạn tăng động giảm chú ý 3,76%, có vấn đề trong quan hệ đồng lứa 7,60%, có vấn đề hành vi tiền xã hội 15,92%, bị tác động 17,35%, tổng điểm khó khăn 9,3%. Từ khóa: Sức khỏe tâm thần, cảm xúc, cư xử, tăng động giảm chú ý. ABSTRACT REALITY OF MENTAL HEALTH OF HANOI SECONDARY STUDENTS ACCORDING TO SDQ SCALE IN 2015 Vu Thi Loan, Lương Xuan Hien, Le Thanh Hai, Thanh Ngoc Minh, Do Manh Hung .* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 22 - No 4- 2018: 266 – 272 Objectives: In order to investigate the reality of mental health of secondary students in Hanoi and to give interventional solutions. Methods: We conducted a cross-sectional study, using SDQ scale on 1118 secondary students at Hong Ky secondary school and Cat Linh school (Hanoi) from November to December, 2015. Results: Meandian emotional symptoms score was, 3.94±2.29, conduct problems score was 2.04±1.69, hyperactivity and attention deficit score was 3.29±1.77, peer problems score was 2.75±1.74, prosocial score was 6.57± 2.14, impact score was 0.71 ± 1.42. Total scores were 12.02±5.35. Conclusions: Rate of mental disorder: emotional disorder rate was 13.69%, conduct problem rate was 8.94%, hyperactivity and attention deficit rate was 3.76%, peer problems rate was 7.60%, prosocial problems rate were 15.92%, impact rate was 17.35%, total difficulties rate: 9.3%. Keywords: Mental health, emotional, conduct, hyperactivity and attention deficit. ĐẶT VẤN ĐỀ questionnaire) là một bộ câu hỏi về hành vi được thiết kế nhằm đánh giá sự điều chỉnh tâm thần Được phát triển bởi Robert Goodman năm của học sinh và vị thành niên (Goodman 1997, 1997, SDQ (Strengths and difficulties *Đại học Y Dược Thái Bình, **Bệnh viện Nhi Trung Ương. Tác giả liên lac: TS.BS Đỗ Mạnh Hùng Email: hungdm.nip@gmail.com ĐT: 0913304075. 266
  2. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 Nghiên cứu Y học Goodman 1998). Bộ câu hỏi gồm 25 câu được ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU chia thành các lĩnh vực dấu hiệu cảm xúc, vấn đề Đối tượng nghiên cứu cư xử, tăng động giảm chú ý, vấn đề quan hệ với bạn đồng lứa và hành vi tiền xã hội(2,4). Nhiều Học sinh nội thành hoặc ngoại thành, có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội và hiện đang học tập nghiên cứu trên thế giới sử dụng thang đo SDQ trên địa bàn thành phố Hà Nội, độ tuổi từ 11 đến cho thấy các rối loạn tâm thần học đường là khá phổ biến ở học sinh. Các nghiên cứu cho thấy tỷ 16 tuổi tại Trường THCS Cát Linh, Quận Đống lệ rối loạn tâm thần học đường từ 1,83% theo Đa và Trường THCS Hồng Kỳ Huyện Sóc Sơn, Cury CR, Golfeto JH (2003) đến 34,9% theo TP. Hà Nội. Gómez (2006)(4,8). Có 5 rối loạn tâm thần theo Thời gian nghiên cứu thang đo SDQ, trong đó rối loạn cư xử chiếm từ Được tiến hành từ 11 đến tháng 12 năm 2015. 8,25% theo Cury CR, Golfeto JH (2003)(4) lên đến Cỡ mẫu nghiên cứu cao nhất là 34,7% theo. Arman S (2012)(2). Tỷ lệ ADHD giao động từ 8,25% được đánh giá bởi Z(21 / 2) p(1 p) * N giáo viên của tác giả Cury CR, Golfeto JH n (2003)(4), đến 23% theo Arman S (2012)(2). Vấn đề d 2 (N 1)  Z(21 / 2) p(1 p) trong quan hệ đồng lứa chiếm từ trên 10% trong Trong đó: nghiên cứu của. Glazebrook C (2003)(7) lên đến N= 330.531 là số học sinh THCS trên địa bàn TP. 25,4% học sinh trong nghiên cứu của Arman S Hà Nội. (2012)(2). Vấn đề hành vi tiền xã hội các nghiên P=0,1 theo Xin Gao (2013) trong đó sử dụng cứu cho thấy chiếm từ khoảng 3,1% theo SDQ cho thấy tại Nhật là 10%, Anh 10%, Trung Hashemi MS (2012)(9) lên đến 5,7% theo Arman S Quôc 11%(5). (2012)(2). Bị tác động khó khăn nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ chiếm từ 4,58% theo Z = 1,96 (α = 0,05, độ tin cậy 95%, thu từ bảng nghiên cứu của Cury CR & Golfeto JH (2003)(4) Z). lên 68,4% theo tác giả Hashemi MS (2012)(9). d= 0,02, là sai số tuyệt đối, lấy mức 0,02. Tổng điểm khó khăn tỷ lệ mắc chiếm từ 8,25% n= 863 khi thay các các giá trị trên trên ta theo tác giả CR, Golfeto JH (2003)(4) lên đến 26% được số học sinh tham gia nghiên cứu tối thiểu theo Arman S (2012)(2). Mặc dù tỷ lệ rối loạn tâm cần là 863 học sinh. Tuy vậy, dự phòng 20% các thần là phổ biến, tuy vậy việc đánh giá sức khỏe trường hợp bỏ cuộc, thực tế chúng tôi thu thập tâm thần học đường còn chưa nhiều, đặc biệt được 1.118 học sinh. chưa có đánh giá nào tại Hà Nội sử dụng thang Tiêu chuẩn chẩn đoán đo SDQ. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Thang đo SDQ là thang đo sàng lọc sức khỏe đề tài: “Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường tâm thần tại cộng đồng của nhóm tác giả theo thang đo SDQ ở học sinh trung học cơ sở tại Goodman(2,4). Thang đo SDQ được sử dụng sàng Thành phố Hà Nội năm 2015”. Kết quả nghiên cứu lọc sức khỏe tâm thần bao gồm đánh giá các biểu với mong muốn nhằm góp phần tìm hiểu thực hiện cảm xúc, rối loạn cư xử, tăng động giảm trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp kịp thời. chú ý. Mục tiêu nghiên cứu KẾTQUẢ Tìm hiểu thực trạng sức khỏe tâm thần học Điểm SDQ dấu hiệu cảm xúc là 3,94±2,29, đường tại thành phố Hà Nội, qua đó đánh giá vấn đề cư xử là 2,04±1,69, tăng động giảm chú ý thực trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp là 3,29±1,77, quan hệ đồng lứa là 2,75±1,74, hành kịp thời. 267
  3. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 vi tiền xã hội 6,57± 2,14, điểm tác động là 0,71 ± Như vậy, tỷ lệ học sinh có vấn đề hành vi 1,42. Tổng điểm RLTT là 12,02±5,35 (Hình 1). tiền xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất với 15,92%, tiếp Học sinh nam có điểm về rối loạn cư xử, tăng đến là rối loạn cảm xúc với 13,69%, rối loạn cư động, giảm chú ý, quan hệ đồng lứa cao hơn trẻ xử chiếm 8,94%, rối loạn tăng động, giảm chú ý nữ, trong khi đó trẻ nữ có điểm biểu hiện cảm chiếm tỷ lệ thấp nhất với 3,76%; bị tác động khó xúc và hành vi tiền xã hội là cao hơn trẻ nam. Sự khăn chiếm 17,35%, nghi ngờ 11,99%. Tổng điểm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
  4. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 Nghiên cứu Y học BÀN LUẬN Điểm tăng động giảm chú ý (ADHD) ADHD khi mắc có thể có các vấn đề về tập Sức khỏe tâm thần học đường theo thang điểm trung, kiểm soát hành vi bắt buộc (có thể hành SQD động mà không suy nghĩ về những gì kết quả sẽ Điểm rối loạn cảm xúc mang lại), hoặc là tích cực quá mức. Nghiên cứu Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm của chúng tôi cho thấy điểm ADHD theo SDQ là SQD về dấu hiệu cảm xúc là 3,94±2,29, ở nam 3,29±1,77, trong đó điểm tăng động, giảm chú ý 3,55±2,24 thấp hơn ở nữ 4,32±2,27, sự khác biệt nam là 3,50±1,76 cao hơn ở nữ 3,08±1,75. Nghiên giữa nam và nữ (p
  5. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 2,14. Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn khi so cảm xúc, kết hợp hai thang đo SDQ cho thấy sánh với tác giả Giannakopoulos G (2009)(6), hành có 7,14% rối loạn cảm xúc. vi tiền xã hội 8,1±1,8. Nghiên cứu chúng tôi thấp hơn Arman Cũng trong nghiên cứu của chúng tôi điểm (2012)(2) tỷ lệ rối loạn cảm xúc theo SDQ lứa tuổi hành vi tiền xã hội HS nam là 6,36±2,25 và nữ là 6-18 là 24,5%. Mặc dù vậy nghiên cứu của chúng 6,77±2,00, tương tự khi so sánh với tôi cao hơn của nghiên cứu của Hashemi MS Giannakopoulos G (2009)(6) trong đó nữ cao hơn (2012)(9) nghiên cứu tại Iran cho thấy tỷ lệ rối loạn nam, ở độ tuổi 11-14 HS nam là 7,9±2,0, HS nữ cảm xúc theo SDQ do cha mẹ đánh giá là 8,4% 8,4±1,6, độ tuổi 15-17 HS nam 7,5±2,1, HS nữ măc và 6,3% nghi ngờ. 8,2±1,8. Hành vi tiền xã hội là hành vi cần được Tỷ lệ rối loạn cư xử khuyến khích thúc đẩy ở trẻ, qua đó góp phần Rối loạn cư xử trong nghiên cứu của chúng giúp cho xã hội được tốt hơn về khía cạnh văn tôi lệ mắc 8,94%, nghi ngờ là 10,02%; Nghiên cứu hóa, đạo đức. của chúng tôi thấp hơn của Glazebrook C. Điểm tác động những khó khăn (2003)(7) tỷ lệ rối loạn cư xử theo SDQ với quần Điểm tác động trải nghiệm những khó khăn thể cộng đồng tỷ lệ mắc ở nam 15,1% và nghi về cảm xúc ở trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi ngờ là 11,5%; tỷ lệ mắc ở nữ là 10,3%, nghi ngờ điểm khó khăn theo thang đo SDQ là 0,71±1,42, 10,4%; thấp hơn Arman S (2012)(2), đối tượng 6-18 trong đó nam là 0,87 ±1,65, nữ là 0,55±1,14. Kết tuổi tỷ lệ rối loạn cư xử theo SDQ là 34,7%, thấp quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn khi so hơn khi so sánh với nghiên cứu của tác giả Cury sánh với Bevaart F và Mieloo CL (2014)(3), nghiên CR, Golfeto JH (2003)(4) nghiên cứu ở HS, ở thang cứu HS độ tuổi 5-8 tuổi, cho thấy điểm SDQ về đo SDQ phiên bản dành cho cha mẹ HS 17,7% tác động do cha mẹ đánh giá là 0,82±1,54, do giáo rối loạn cư xử, với bộ câu hỏi SDQ được trả lời viên đánh giá là 1,2±1,4. bởi giáo viên có 8,25% rối loạn cư xử, kết hợp hai Tổng điểm RLTT theo SDQ được tính bằng thang đo SDQ cho thấy có, 9,82% rối loạn cư xử. điểm biểu hiện cảm xúc, rối loạn cư xử, rối loạn Nghiên cứu của chúng tôi tương tự với tăng động giảm chú ý và mối quan hệ đồng lứa Hashemi MS(9) nghiên cứu tại Iran cho thấy tỷ lệ tuổi, không bao gồm hành vi tiền xã hội. Kết quả rối loạn cư xử theo SDQ do cha mẹ đánh giá là nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tổng điểm 10,6 mắc và 10,4 nghi ngờ. RLTT là 12,02±5,35. ADHD Tỷ lệ các rối loạn tâm thần học đường Trong nghiên cứu của chúng tôi ADHD có tỷ Tỷ lệ rối loạn cảm xúc lệ là 3,76, nghi ngờ 5,99%; nghiên cứu của chúng Rối loạn cảm xúc trong nghiên cứu của tôi thấp hơn nhiều so sánh nghiên cứu của tác chúng tôi rối loạn cảm xúc tỷ lệ mắc là 13,69%, giả Cury CR, Golfeto JH (2003)(4) sử dụng thang nghi ngờ 9,48%. Nghiên cứu của chúng tôi cao đo SDQ thì có 16,8% ADHD, với bộ câu hỏi được hơn của Glazebrook C. (2003)(7) tỷ lệ rối loạn trả lời bởi giáo viên theo SDQ có 8,25% ADHD. cảm xúc theo SDQ với quần thể cộng đồng là ở Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nam 10,7% mắc và 7,0% nghi ngờ, nữ là 12,1 Arman S (2012)(2), lứa tuổi 6-18 tuổi tỷ lệ mắc, 8,6% nghi ngờ. Nghiên cứu của chúng tôi ADHD theo SDQ là 23%. Nghiên cứu chúng thấp hơn của tác giả Cury CR, Golfeto JH tôi thấp hơn. Glazebrook C (2003)(7), tỷ lệ (2003)(4) nghiên cứu ở HS, ở thang đo SDQ ADHD ngoài cộng đồng theo SDQ ở nam là phiên bản dành cho cha mẹ HS tỷ lệ 30,8% rối 19,5% mắc và 9,1% nghi ngờ; ở nữ là 9,9% mắc loạn cảm xúc, tuy vậy với bộ câu hỏi SDQ và 5,7% nghi ngờ. được trả lời bởi giáo viên chỉ có 1,83% rối loạn Nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp hơn 270
  6. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 Nghiên cứu Y học Hashemi MS (2012)(9) tại Iran cho thấy ADHD Bị tác động bởi khó khăn theo SDQ do cha mẹ đánh giá là 15,04% mắc và Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đánh giá 11,03% nghi ngờ. tỷ lệ bị sự tác động ở trẻ theo thang đo SDQ có Mặc dù vậy nghiên cứu của chúng tôi tương 17,35% mắc và 11,99% nghi ngờ. So sánh với tự với nhận định của DSM, theo DSM-5 hiện có nghiên cứu của tác giả Cury CR & Golfeto JH 5% số trẻ mắc ADHD(1). Tại Mỹ theo CDC tỷ lệ (2003)(4) nghiên cứu học sinh độ tuổi 6-11 tuổi có ADHD luôn tục tăng từ 7,8% năm 2003 đến 9,5% tỷ lệ bị tác động theo thang đo SDQ với việc cha năm 2007 và 11% năm 2011(6). mẹ đánh giá là 10,2%, do giáo viên đánh giá là Vấn đề quan hệ đồng lứa tuổi 4,58%. Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Arman S (2012)(2), nghiên cứu tại Iran độ tuổi 6-18 tuổi sử Nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc là 7,60%, dụng thang đo SDQ cho thấy tỷ lệ HS bị tác tỷ lệ nghi ngờ 21,74%. So sánh với nghiên cứu động khó khăn là 5,7%. của tác giả Cury CR, Golfeto JH (2003)(4) nghiên cứu ở HS, ở thang đo SDQ phiên bản dành cho Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều cha mẹ HS 14% có vấn đề trong tương tác các khi so sánh với Hashemi MS (2012)(9) nghiên cứu mối quan hệ. tại Iran cho thấy đánh giá theo SDQ do cha mẹ đánh giá tỷ lệ bị tác động khó khăn 68,4% mắc và Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn hi so 3,5% nghi ngờ. sánh với Arman S (2012)(2), lứa tuổi 6-18 tuổi tỷ lệ ADHD theo SDQ là 23%. Nghiên cứu của chúng Tổng điểm khó khăn về cảm xúc hành vi tôi thấp hơn nhiều so với Arman S (2012)(2), Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ măc là nghiên cứu tại Iran độ tuổi 6-18 tuổi tỷ lệ vấn đề 9,30%, tỷ lệ nghi ngờ là 14,49%, kết quả của trong quan hệ đồng lứa theo SQQ là 25,4%(5). chúng tôi cao hơn khi so sánh với nghiên cứu Nghiên cứu của chúng tôi cũng thấp hơn khi so của tác giả Cury CR, Golfeto JH (2003) nghiên sánh với Glazebrook C (2003)(7), tỷ lệ quan hệ cứu ở HS, ở thang đo SDQ phiên bản dành cho đồng lứa ngoài cộng đồng theo SDQ ở nam là cha mẹ HS 8,25% có vấn đề khi đánh giá chung 13,4% mắc và 10,4% nghi ngờ; ở nữ là 10,1% mắc về tổng điểm(4). Kết quả nghiên cứu của chúng và 10,2% nghi ngờ (6). tôi cũng tự với Gao X (2013)(5) trong đó sử dụng Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn khi so SDQ cho thấy tại Nhật là 10%, Anh 10%, Trung Quốc 11%. Kết quả này thấp hơn so với nghiên sánh với Hashemi MS (2012)(9) cho thấy tỷ lệ vấn cứu của Arman S (2012)(2), nghiên cứu tại Iran độ đề quan hệ đồng lứa theo SDQ là 16,1% mắc và tuổi 6-18 tuổi sử dụng thang đo SDQ cho thấy tỷ 19,4% nghi ngờ. lệ HS mắc là 26%. Nghiên cứu của chúng tôi Vấn đè hành vi tiền xã hội tương tự với đánh giá của Hashemi MS (2012)(9) Học sinh có vấn đề hành vi tiền xã hội theo thang đo SDQ do cha mẹ đánh giá tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc là là 9,6% mắc và 9,7% nghi ngờ. 15,92%, nghi ngờ 12,97%. Nghiên cứu của Như vậy, khi so sánh kết quả nghiên cứu chúng tôi thấp hơn nhiều so với Arman S của chúng tôi với các tác giả khác cùng sử (2012)(2), nghiên cứu tại Iran độ tuổi 6-18 tuổi dụng thang đo có sự khác biệt ở những quần sử dụng thang đo SDQ cho thấy tỷ lệ HS có thể khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Điều vấn đề hành vi tiền xã hội là 5,7%. Tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn khi so sánh này cũng có thể là do sự khác biệt các điều với Hashemi MS (2012)(9) nghiên cứu tại Iran kiện kinh tế, xã hội, các chuẩn mực xã hội và đánh giá theo thang đo SDQ tỷ lệ vấn đề hành lối sống của học sinh. vi tiền xã hội mắc là 3,1% nghi ngờ là 4,4%. 271
  7. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018 3. Bevaart F (2014). Ethnicity, socioeconomic position and severity KẾT LUẬN of problems as predictors of mental health care use in 5- to 8- Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng sức year-old children with problem behaviour.Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol.;49(5):p.733-42. khỏe tâm thần học đường ở học sinh trung học 4. Cury CR, Golfeto JH (2003). Strengths and difficulties cơ sở tại thành phố Hà Nội qua điểm trung bình questionnaire (SDQ): A study of school children in Ribeirão và tỷ lệ mắc, tỷ lệ nghi ngờ theo thang đo SDQ. Preto. Rev Bras Psiquiatr ;25(3):p.139-45. 5. Gao X (2013). Results of the parent-rated Strengths and Tỷ lệ rối loạn tâm thần: Rối loạn cảm xúc 13,69%, Difficulties Questionnaire in 22,108 primary school students rối loạn cư xử 8,94%, rối loạn tăng động giảm from 8 provinces of China. Shanghai Archives of Psychiatry, Vol. 25, No. 6; p.29. chú ý 3,76%, có vấn đề trong quan hệ đồng lứa 6. Giannakopoulos G (2009). The factor structure of the Strengths 7,60%, có vấn đề hành vi tiền xã hội 15,92%, bị and Difficulties Questionnaire (SDQ) in Greek adolescents. tác động 17,35%, tổng điểm khó khăn 9,3%. Annals of General Psychiatry, p.8:20. 7. Glazebrook C, Hollis C, Heussler H, Goodman R, Coates L Nghiên cứu cho thấy các rối loạn tâm thần (2002). Goodman§ and L. Coates. Detecting emotional and học đường là phổ biến ở học sinh trung học cơ behavioural problems in paediatric clinics. Child Care Health Dev.;29(2):p.141-9. sở. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy vấn đề sức 8. Gómez-Beneyto M, et al (2013). Psychometric behaviour of the khỏe tâm thần học đường là vấn đề cần thiết strengths and difficulties questionnaire (SDQ) in the Spanish được quan tâm và cần có các biện pháp cấp thiết national health survey 2006. BMC Psychiatry,p.13:95. 9. Hashemi MS (2015). Prevalence of Mental Health Problems in trong việc can thiệp nhằm giảm tỷ lệ các rối loạn Children and Its Associated Socio-Familial Factors in Urban tâm thần ở học sinh. Population of Semnan, Iran (2012). Iran J Pediatr; 25(2):e175. 10. Visser S, Danielson M, Bitsko R (2013). Trends in the Parent- TÀI LIỆU THAM KHẢO Report of Health Care Provider-Diagnosis and Medication 1. American Psychiatric Association (2013). Diagnostic and Treatment for ADHD disorder: United States, 2003–2011. J Am Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth edition: DSM-5. Acad Child Adolesc Psychiatry; p.45-47. Washington. http://dsm.psychiatryonline.org/doi/book/10.1176/appi.books.978089 Ngày nhận bài báo: 11/04/2018 0425596. 2. Arman S (2012). Epidemiological Study of Youth Mental Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/05/2018 Health Using Strengths and Difficulties Questionnaire (SDQ). Ngày bài báo được đăng: 30/06/2018 Iran Red Crescent Med J; 14(6):p.371-375. 272

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản