intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiêm mỡ tự thân qua phẫu thuật nội soi, phối hợp luyện âm sau phẫu thuật điều trị phục hồi giọng nói do liệt dây thanh một bên

Chia sẻ: Hạnh Thơm | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

52
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Liệt dây thanh một bên gây hở thanh môn làm rối loạn giọng nói, mất tiếng, khàn tiếng, hụt hơi khi phát âm, điều trị liệt dây thanh có nhiều phương pháp từ luyện âm cho đến có sự can thiệp ngoại khoa, giúp bệnh nhân phục hồi giọng nói... Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị phục hồi giọng nói do liệt dây thanh một bên bằng tiêm mỡ, sợi mô liên kết tự thân vào dây thanh qua nội soi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiêm mỡ tự thân qua phẫu thuật nội soi, phối hợp luyện âm sau phẫu thuật điều trị phục hồi giọng nói do liệt dây thanh một bên

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> TIÊM MỠ TỰ THÂN QUA PHẪU THUẬT NỘI SOI, PHỐI HỢP LUYỆN ÂM  <br /> SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI GIỌNG NÓI  <br /> DO LIỆT DÂY THANH MỘT BÊN <br /> Trần Việt Hồng* <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Đặt vấn đề: Liệt dây thanh một bên gây hở thanh môn làm rối loạn giọng nói, mất tiếng, khàn tiếng, hụt <br /> hơi khi phát âm. Điều trị liệt dây thanh có nhiều phương pháp, từ luyện âm cho đến có sự can thiệp ngoại khoa, <br /> giúp bệnh nhân phục hồi giọng nói. Tiêm mỡ tự thân vào dây thanh trên thế giới đã ứng dụng từ năm 1991. Ở <br /> Việt Nam, khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đã ứng dụng phương pháp này từ năm 2006 đến <br /> nay.  <br /> Mục  tiêu  nghiên  cứu: Đánh giá kết quả điều trị phục hồi giọng nói do liệt dây thanh một bên bằng tiêm <br /> mỡ, sợi mô liên kết tự thân vào dây thanh qua nội soi.  <br /> Đối  tượng  và  phương  pháp  nghiên  cứu: 150 bệnh nhân liệt dây thanh 1 bên gây hở thanh môn. Một <br /> nghiên cứu tiến cứu mô tả có can thiệp thực hiện từ 2006‐2013 tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Nhân Dân <br /> Gia Định. Mỡ và sợi mô liên kết lấy từ vùng bụng bệnh nhân tiêm vào dây thanh bên liệt qua nội soi.  <br /> Kết quả và bàn luận: Mỡ và sợi mô liên kết tiêm cho 112 bệnh nhân bị liệt dây thanh (T) và 38 bệnh nhân <br /> bị liệt dây thanh (P), theo dõi sau phẫu thuật từ 1‐3 tháng, 6‐12 tháng, 5‐6 năm. Kết quả phục hồi giọng nói <br /> đánh giá theo các tiêu chuẩn khách quan, chủ quan và theo thời gian thành công từ 95,3%‐100%.  <br /> Kết  luận: Tiêm mỡ và sợi mô liên kết tự thân vào dây thanh là phương pháp sinh lý, an toàn, giá thành <br /> thấp, hiệu quả cao và ổn định lâu dài. <br /> Từ khóa: Liệt dây thanh.  <br /> <br /> ABSTRACT <br /> AUTOGENOUS FAT INJECTION UNDER ANDOSCOPY, FOLLOWED BY POST‐OPERATIVE VOICE <br /> THERAPY IN REHABITUAL TREATMENT OF UNILATERAL VOCAL PARALYSIS <br /> Tran Viet Hong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 262 – 266 <br /> Background:  Unilateral  vocal  paralysis  causes  glottis  patency  and  speech  disorder,  such  as  aphony, <br /> hoarseness, speech exhaustion. There are many treatment styles of vocal paralysis, from speech therapy to surgical <br /> intervention in order to recover speech. Autogenous fat injection into vocal fold was performed in the world since <br /> 1991. In Vietnam, Nhan Dan Gia Dinh hospital applied this surgery from 2006 up to now.  <br /> Objectives:  To  evaluate  effectiveness  of  autogenous  fat  and  elastic  tissue  injection  into  vocal  fold  via <br /> endoscopy in treatment of unilateral vocal paralysis.  <br /> Method:  150 patients of unilateral vocal paralysis with glottis patency. A clinical trial is performed from <br /> 2006 to 2013, at ENT Department, Nhan Dan Gia Dinh hospital. Autogenous fat and elastic tissue which are <br /> harvested from abdominal fat are injected into paralytic vocal fold via endoscopy.  <br /> Result‐ Discussion: Autogenous fat and elastic tissue were injected into 112 left and 38 right vocal folds. <br /> Postoperative follow‐up was performed  at 1, 3, 6, 12 months and 5‐6 years. Success rate of speech recovery which <br /> was assessed by objective, subjective, timing criteria was 95.3‐ 100%.   <br /> * Khoa Tai Mũi Họng ‐ Bệnh viện Nhân Dân Gia Định  <br /> Tác giả liên hệ:  TS.BS.  Trần Việt Hồng  ĐT: 0913904736<br /> <br /> 262<br /> <br /> Email: drhongentbvgd@gmail.com<br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Conclusion: Autogenous fat and elastic tissue injection into vocal fold via endoscopy is a physiologic, safe, <br /> low costed, highly effective, long stabilized method. <br /> Key word: Vocal cord paralysis.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ <br /> Liệt  dây  thanh  quản  ngày  càng  tăng  do <br /> nguyên  nhân  gây  ra  bệnh  ngày  càng  đa  dạng. <br /> Có  rất  nhiều  nguyên  nhân  gây  liệt  dây  thanh <br /> như: sau phẫu thuật tuyến giáp, các phẫu thuật <br /> ở vùng cổ, trung thất, sọ não… và nhiều nguyên <br /> nhân khác như sau chấn thương, vết thương cổ, <br /> tai biến mạch máu não và các bệnh lý nội khoa <br /> khác. Liệt dây thanh quản một bên tư thế đường <br /> ngoài hay trung gian gây hở thanh môn, không <br /> có  sóng  rung  niêm  mạc,  làm  cho  bệnh  nhân  bị <br /> khàn tiếng hụt hơi khi  phát  âm,  ảnh  hưởng  tới <br /> công việc và sinh hoạt hàng ngày. <br /> Điều  trị  liệt  dây  thanh  một  bên  giúp  phục <br /> hồi  giọng  nói  trên  thế  giới  đã  áp  dụng  nhiều <br /> phương pháp từ luyện âm cho đến có can thiệp <br /> ngoại  khoa  như  tiêm  các  vật  liệu(1,3)  vào  dây <br /> thanh, Thyroplasty type I mở cánh sụn giáp đẩy <br /> dây  thanh  vào  đường  giữa,  nối  dây  thần  kinh <br /> thanh  quản  với  nhánh  của  dây  thần  kinh  XII. <br /> Tiêm  mỡ  tự  thân  điều  trị  liệt  dây  thanh  được <br /> báo  cáo  đầu  tiên  bởi  Mikaelian(7)  năm  1991.  Ở <br /> Việt Nam có một số tác giả có làm một vài bệnh <br /> nhân nhưng chưa có thông báo chính thức trên <br /> mẫu lớn về nghiên cứu đánh giá sự thành công <br /> theo  dõi  lâu  dài  kết  quả  điều  trị.  Từ  năm  2006 <br /> đến  nay  khoa  TMH  Bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia <br /> Định  chúng  tôi  đã  tiến  hành  nghiên  cứu  tiêm <br /> mỡ, kết hợp sợi mô liên kết tự thân điều trị các <br /> bệnh  lý  hở  thanh  môn  trong  đó  có  bệnh  nhân <br /> liệt dây thanh một bên(10). <br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> Tiêu chuẩn chọn bệnh <br /> Tất cả bệnh nhân bị khàn tiếng, nói hụt hơi, <br /> ăn  uống  hay  bị  sặc  đến  khám  tại  phòng  khám <br /> TMH Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. <br /> Bệnh nhân được xác định chẩn đoán liệt dây <br /> thanh  quản  tư  thế  đường  ngoài  gây  hở  thanh <br /> môn qua nội soi và soi hoạt nghiệm thanh quản <br /> (Stroboscopy) <br /> <br /> Tiêu chuẩn loại trừ <br /> ‐ Bệnh nhân bị liệt tư thế khép, liệt một bên <br /> tư thế trung gian và bất động một bên dây thanh <br /> do khối u. <br /> <br /> Dụng cụ nghiên cứu <br /> ‐ Bộ phẫu thuật nội soi ống cứng 0o, 30o, 70o, <br /> 120  dài 24cm, đường kính 5.0; camera có zoom <br /> của hãng Karl‐Storz <br /> o<br /> <br /> ‐ Bộ nội soi chẩn đoán ống mềm, ống cứng <br /> ‐  Máy  soi  hoạt  nghiệm  thanh  quản  Karl‐<br /> Storz <br /> ‐ Bộ soi treo thanh quản, bộ dụng cụ vi phẫu <br /> và bộ xử lý mỡ, kim tiêm, súng bơm mỡ <br /> ‐ Phòng ghi âm, máy vi tính phần mềm ghi <br /> âm và phân tích âm. <br /> <br /> Phương pháp tiến hành <br /> ‐ Mỡ và mô liên kết lấy từ vùng bụng cạnh <br /> rốn của bệnh nhân, sau đó đem xử lý tạo chất sệt <br /> có tế bào mỡ kết hợp sợi mô liên kết. <br /> ‐ Bệnh nhân được gây mê nội khí quản qua <br /> mũi, soi treo thanh quản qua hệ thống máy nội <br /> soi  hình  ảnh  dây  thanh  và  thanh  môn  được <br /> quan sát rõ trên màn hình tivi(11). <br /> ‐  Mỡ sau khi được xử lý cho vào bơm tiêm <br /> lắp vào kim và súng bơm mỡ. Mỡ được tiêm vào <br /> hai vị trí 1/3 sau và 1/3 giữa dây thanh bên liệt <br /> cho phồng qua đường giữa <br /> ‐  Lượng  mỡ  bơm  vào  tùy  bệnh  nhân  được <br /> phẫu  thuật  viên  đánh  giá  trước  qua  nội  soi  và <br /> soi Stroboscopy. <br /> ‐ Bệnh nhân được xuất viện trong ngày hoặc <br /> hôm sau. <br /> ‐  Tất  cả  bệnh  nhân  đều  được  ghi  âm  giọng <br /> nói 1 ngày trước phẫu thuật và sau phẫu thuật 1 <br /> tuần, 1‐3 tháng, 6‐12 tháng, 5‐6 năm. <br /> ‐  Bệnh  nhân  được  phối  hợp  luyện  âm  sau <br /> phẫu thuật 15 ngày. <br /> <br /> Đánh giá kết quả điều trị <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> 263<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> ‐ Bệnh nhân được đánh giá kết quả điều trị <br /> sau  phẫu  thuật  bằng  nội  soi,  soi  hoạt  nghiệm <br /> thanh  quản,  tự  đánh  giá  chất  lượng  giọng  nói <br /> của mình và qua ghi âm phân tích giọng nói. <br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU <br /> ‐ Từ 2006‐2013 chúng tôi thực hiện trên 150 <br /> bệnh nhân trong đó nam chiếm 46,1%, nữ 53,9% <br /> có tuổi đời từ 21 đến 76, trung bình là 38. <br /> ‐ Số bệnh nhân bị liệt dây thanh một bên tư <br /> thế đường ngoài bên trái là 112/50 (74,7%), bệnh <br /> nhân  bị  liệt  dây  thanh  bên  phải  là  38/150 <br /> (25,3%). <br /> ‐ Nguyên nhân gây liệt: <br /> +  Sau  mổ  tuyến  giáp,  vùng  cổ,  trung  thất: <br /> 101/150 (67,3%). <br /> + Do chấn thương vùng cổ sau tai nạn giao <br /> thông: 5/150 (3,3%). <br /> + Do các bệnh lý nội khoa khác (lao, tai biến <br /> mạch máu não, xạ trị vùng cổ…): 15/150 (10%). <br /> + Không rõ nguyên nhân: 29/150 (19,4%). <br /> Có  30  bệnh  nhân  được  luyện  âm  sau  phẫu <br /> thuật. <br /> <br /> Đánh giá kết quả trước và sau phẫu  thuật <br /> 1‐3 tháng <br /> Triệu chứng chủ quan <br /> Trước phẫu thuật <br /> ‐  Bệnh  nhân  bị  khàn  tiếng  và  nói  hụt  hơi <br /> 100% trong đó có các mức độ khác nhau. <br /> Bảng 1: Mức độ khan tiếng, hụt hơi. <br /> Mức độ bệnh<br /> Khàn tiếng và hụt hơi (nhẹ)<br /> Khàn tiếng và hụt hơi (vừa)<br /> Khàn tiếng và hụt hơi (nặng)<br /> Tổng số<br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 35<br /> 55<br /> 50<br /> 150<br /> <br /> Tỉ lệ %<br /> 23,3%<br /> 36,7%<br /> 40%<br /> 100<br /> <br /> Sau phẫu thuật. <br /> Bệnh nhân hết khàn tiếng, giảm khàn tiếng, <br /> nói hết hụt hơi và tự đánh giá mức độ hài lòng <br /> sau phẫu thuật. <br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 112<br /> 31<br /> 7<br /> 150<br /> <br /> Tỉ lệ %<br /> 74%<br /> 20%<br /> 4,7%<br /> 100%<br /> <br /> Đánh  giá  kết  quả  qua  nội  soi  và  soi  hoạt <br /> nghiệm thanh quản <br /> ‐  Trước  phẫu  thuật:  100%  bệnh  nhân  bị  hở <br /> thanh môn không có sóng rung niêm mạc <br /> ‐ Sau phẫu thuật: đánh giá mức độ khép kín <br /> thanh môn và sóng rung niêm mạc <br /> “rất tốt”: thanh môn khép kín hoàn toàn, có <br /> sóng rung niêm mạc khi phát âm <br /> “tốt”:  thanh  môn  khép  kín,  có  sóng  rung <br /> niêm mạc nhẹ khi phát âm. <br /> “không tốt”: thanh môn còn hở nhẹ, khi phát <br /> âm có sóng rung nhẹ. <br />  Đánh  giá  mức  độ  khép  kín  thanh  môn  và <br /> sóng rung niêm mạc. <br /> Bảng 3: Đánh giá qua nôi soi <br /> Mức độ<br /> Rất tốt<br /> Tốt<br /> Không tốt<br /> Tổng số<br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 110<br /> 35<br /> 5<br /> 150<br /> <br /> Tỉ lệ %<br /> 73,3%<br /> 23,4%<br /> 3,3%<br /> 100%<br /> <br /> Đánh  giá  qua  phân  tích  âm  các  chỉ  số  Jitter, <br /> Shimmer, HNR <br /> Về  gần  bình  thường  so  với  nhóm  chứng  là <br /> 143/50 bệnh nhân (95,3%). <br /> Đánh giá 30 bệnh nhân đến luyện âm sau phẫu <br /> thuật  <br /> Có  25  bệnh  nhân  luyện  được  5  lần,  5  bệnh <br /> nhân luyện 7 lần tại bệnh viện, còn lại tự luyện <br /> tập tại nhà. Kiểm tra qua soi hoạt nghiệm thanh <br /> quản sau luyện âm thấy dây thanh bên liệt có độ <br /> căng, có sóng rung niêm mạc, thanh môn khép <br /> kín  khi  phát  âm  sớm  hơn  bệnh  nhân  không <br /> luyện âm. <br /> Kết quả tổng hợp đánh giá hiệu quả điều trị <br /> sau 1‐3 tháng các tiêu chuẩn khách quan và chủ <br /> quan thành công là 95,3%. <br /> <br /> Đánh giá kết quả theo dõi sau 6 ‐12 tháng   <br /> <br /> Bảng 2:  Đánh giá mức độ hài lòng: <br /> <br /> 264<br /> <br /> Mức độ hài lòng giọng nói<br /> Cao<br /> Vừa<br /> Không hài lòng<br /> Tổng số<br /> <br /> Trên  110  bệnh  nhân  cũng  bằng  các  tiêu <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013 <br /> chuẩn  về  mức  độ  hài  lòng,  nội  soi  và  soi  hoạt <br /> nghiệm  thanh  quản,  phân  tích  âm  cho  kết  quả <br /> thành công là 100%. <br /> <br /> Có  40  bệnh  nhân  được  theo  dõi  sau  5‐6 <br /> năm điều trị  <br /> Đạt  kết  quả  100%,  không  có  bệnh  nhân  bị <br /> khàn, mất tiếng trở lại và phải tiêm mỡ lần thứ <br /> 2. <br /> <br /> BÀN LUẬN <br /> Điều  trị  phục  hồi  rối  loạn  giọng  nói  do  liệt <br /> dây  thanh  hiện  nay  trên  thế  giới  có  nhiều <br /> phương  pháp  điều  trị.  Một  phương  pháp  đơn <br /> giản là luyện âm giúp dây thanh bên lành chồm <br /> qua  bù  trừ  để  khép  thanh  môn  khi  phát  âm. <br /> Đồng  thời  với  phương  pháp  luyện  âm  các  tác <br /> giả  thế  giới  cũng  báo  cáo  những  phương  pháp <br /> cần  có  can  thiệp  ngoại  khoa  như  tiêm  vật  liệu <br /> Telfom, Silicon, collagen…, mỡ tự thân vào dây <br /> thanh giúp đẩy dây thanh ra đường giữa. Tiêm <br /> mỡ  tự  thân  vào  dây  thanh  qua  nội  soi  là  thủ <br /> thuật dễ áp dụng, đáp ứng sinh học tốt, chi phí <br /> thấp  và  hầu  như  không  có  tai  biến  gì  trong  và <br /> sau mổ so với các vật liệu ngoại lai có tỉ lệ nguy <br /> cơ biến chứng cao. <br /> Trong  các  báo  cáo  Brandenburg  JH(2)  trước <br /> đây  những  bệnh  nhân  bị  hở  thanh  môn  do  liệt <br /> dây thanh bằng phương pháp tiêm mỡ tự thân <br /> cho kết quả rất tốt  Shaw GY(9) và cộng sự điều <br /> trị 22 bệnh nhân bị hở thanh môn trong đó có 11 <br /> bệnh nhân bị liệt dây thanh, tác giả đã theo dõi <br /> trung  bình  12  tháng  bằng  các  triệu  chứng  chủ <br /> quan  và  khách  quan  cho  thấy  100%  có  kết  quả <br /> phục  hồi  giọng  nói  tốt.  Năm  2006  Hsiung(1)  và <br /> cộng sự báo cáo kết quả 101 bệnh nhân hở thanh <br /> môn  bằng  phương  pháp  tiêm  mỡ  tự  thân  vào <br /> dây thanh được theo dõi sau 1 tháng điều trị kết <br /> quả  thành  công  95%.  Theo  các  tác  giả  Hsiung, <br /> Shaw,  Sataloff.RT(8)  tiêm  mỡ  tự  thân  vào  dây <br /> thanh  là  thủ  thuật  thành  công  phục  hồi  giọng <br /> nói nhanh chóng, sinh lý, an toàn và có hiệu quả <br /> cao ổn định. Các vật liệu ngoại lai dễ bị gây dị <br /> ứng,  khi  sai  lầm  trong  bơm  vào  dây  thanh  thì <br /> không thể sửa chữa và có giá thành rất cao. Một <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> báo cáo của tác giả Sang Joo lee 11/2009(5) điều trị <br /> 27 bệnh nhân bị liệt dây thanh so sánh 13 bệnh <br /> nhân  bằng  phương  pháp  Thyroplasty  với  14 <br /> bệnh nhân được tiêm mỡ tự thân vào dây thanh, <br /> đánh  gía  theo  các  tiêu  chuẩn  khách  quan  và <br /> phân  tích  âm  các  chỉ  số  Jitter,  Shimmer,  HNR <br /> cho kết luận tiêm mỡ tự thân vào dây thanh cho <br /> cải  thiện  giọng  nói  tốt  hơn,  sớm  hơn  phương <br /> pháp thyroplasty.  <br /> So sánh với kết quả của chúng tôi theo dõi <br /> sau  phẫu  thuật  1‐3  tháng  tỉ  lệ  thành  công <br /> 95,3%.  Sau  1  năm  và  5‐6  năm  phẫu  thuật  kết <br /> quả  thành  công  đạt  100%  chứng  tỏ  mỡ  và  sợi <br /> mô  liên  kết  được  cấy  vào  dây  thanh  có  tác <br /> dụng  ổn  định  và  lâu  dài.  Kết  quả  lý  tưởng  là <br /> bệnh  nhân  hài  lòng  với  chính  giọng  nói  của <br /> mình  sau  phẫu  thuật.  Có  bệnh  nhân  hài  lòng <br /> ngay  sau  khi  tiêm  1‐2  ngày  thấy  hết  hụt  hơi <br /> ngay và nói được thành tiếng, nhưng cũng có <br /> những  bệnh  nhân  sau  1  tuần  mới  thấy  giọng <br /> nói được phục hồi. Tuy nhiên giọng nói để bớt <br /> khàn  và  trong  lại  như  bình  thường  phải  chờ <br /> trong  khoảng  2  tuần‐1  tháng.  Sự  theo  dõi  của <br /> chúng  tôi  lâu  dài  đến  5‐6  năm  cho  thấy  số <br /> bệnh nhân vẫn giữ ổn định giọng nói của mình <br /> được  phục  hồi  không  có  bệnh  nhân  nói  khàn <br /> tiếng, hụt hơi tái phát và phải tiêm mỡ lần 2. <br /> Về phối hợp luyện âm sau phẫu thuật là hỗ <br /> trợ  thêm  cho  dây  thanh  được  căng  chắc  và  tạo <br /> sóng  rung  niêm  mạc  sớm  hơn,  mức  độ  khép <br /> thanh  môn  được  nhiều  hơn,  tuy  nhiên  bệnh <br /> nhân thường không có thời gian đi luyện tập và <br /> sau khi phẫu thuật thấy có hiệu quả bệnh nhân <br /> không muốn đi luyện âm tiếp nữa. <br /> Tuy  nhiên  theo  một  số  tác  giả  trên  thế  giới <br /> và kinh nghiệm của chúng tôi sự thành công hay <br /> thất bại của phương pháp tiêm mỡ tự thân vào <br /> dây  thanh  phụ  thuộc  rất  nhiều  vào  phương <br /> pháp  xử  lý  mỡ  và  kỹ  thuật  tiêm  mỡ  vào  dây <br /> thanh, đòi hỏi phải có sự luyện tập nhiều và có <br /> kinh  nghiệm  rút  ra  từ  từng  bệnh  nhân  mỗi  lần <br /> tiêm mỡ mới có hiệu quả điều trị tốt. <br /> <br /> KẾT LUẬN <br /> Tiêm mỡ và sợi mô liên kết tự thân vào dây <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br /> 265<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 6 * 2013<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> thanh điều trị hở thanh môn do liệt dây thanh 1 <br /> bên  là  phương  pháp  an  toàn,  sinh  lý,  hiệu  quả <br /> cao  ổn  định  lâu  dài,  chi  phí  thấp,  tuy  nhiên  sẽ <br /> đòi  hỏi  phải  có  trang  thiết  bị  phù  hợp,  và  PTV <br /> phải có kinh nghiệm luyện tập nhiều mới có kết <br /> quả tốt. <br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO <br /> 1.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> 3.<br /> <br /> 4.<br /> <br /> 5.<br /> <br /> Boyce RG, Nuss DW, Kluka EA (1994): The use of autologous <br /> fat,  fascia,  and  nonvascularized  muscle  grafts  in  the  head  and <br /> neck. Otolaryngol Clin North Am. 27. 39‐68.<br /> Brandenburg  JH,  Kirkham  W,  Kroshkee  D  (1992):  Vocal  cord <br /> Augmentation  with  autogenous  fat      Laryngoscope  102.  495‐<br /> 500. <br /> Ford  CN,  Bless  DM  (1986):  Clinical  experience  with  injectable <br /> collagen  for  vocal  ford  augmentation.  Laryngoscope  96.  863‐<br /> 869. <br /> Hsiung MW, Pai Lu (2006): “Autogenous fat injection for glottic <br /> insufficiency :  Analysis  of  101  cases  and  correlation  with <br /> patients, self‐assessment” Acta Oto‐Laryngologica. 126, 191‐196. <br /> Lee SJ (2009). Copariron of vocal outcome after autologous fat <br /> injection and medialization thyroplasty for unilateral vocal cord <br /> paralysis.  Department  of  Otorhinolaryngology‐head  &  Neck <br /> Surgery,college  of  Medicine,  dankook  University,  Cheonan, <br />  <br /> <br /> 266<br /> <br /> Korea.  XIII  Asean  ORL  &  HNS  Congress  November  2009.  Tr: <br /> 90‐92. <br /> 6. Mattioli F (2011) the role of eraly voice therapy in the Incidence <br /> of motility recovery In unilateral vocal fold  paralysis,  logoped <br /> phoniatr vocol; Apr: 36 (1): 40‐7. <br /> 7. Mikaelian DO, Lowry LD, Sataloff RT (1991): Lipoinjection for <br /> unilateral vocal cord paralysis. Laryngoscope;101:465‐468. <br /> 8. Sataloff  RT,  SpiegelJR,  Hawkshaw  M,  Rosen  DC,  Heuer  RJ <br /> (1997):  Autologous  fat  implantation  fopr  vocal  ford  scar:  a <br /> preliminary report . J voice;11:238‐246. <br /> 9. Shaw  GY,  Szewczyk  MA,  Searle  J,  Woodroof  J  (1997). <br /> Autologous  fat  injection  into  the  vocal  fold:  technical <br /> considerations  and  long  –term  follow  up.  Laryngoscope;107: <br /> 177‐186. <br /> 10. Trần Việt Hồng (2011) : Vi phẫu thuật thanh quản người lớn qua <br /> nội  soi  ống  cứng.  Luận  án  tiến  sĩ  y  khoa.  ĐHYD‐TP.Hồ  Chí <br /> Minh.  Tr : 72‐86. <br /> 11. Trần Việt Hồng, Huỳnh Khắc Cường (2001): “Ứng dụng kỹ thuật <br /> nội soi ống cứng vào vi phẫu thanh quản”, y học TP HCM phụ <br /> bản số 4, tập 5 – 2003. <br /> <br /> Ngày nhận bài báo: 15/8/2013 <br /> Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/8/2013 <br /> Ngày bài báo được đăng: 10/12/2013 <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Nhân Dân Gia Định năm 2013  <br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2