intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

TIỂU LUẬN: TỔNG QUAN MÔ HÌNH CAMELS

Chia sẻ: Tulip_12 Tulip_12 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:19

0
186
lượt xem
81
download

TIỂU LUẬN: TỔNG QUAN MÔ HÌNH CAMELS

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS là một phương pháp hoặc một công cụ dùng để phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của ngân hàng. Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa theo sáu yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng : đó là Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị trường ( viết tắt bằng tiếng anh là CAMELS)....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: TỔNG QUAN MÔ HÌNH CAMELS

  1. TIỂU LUẬN TỔNG QUAN MÔ HÌNH CAMELS 1
  2. I. NHỮNG TIẾP CẬN VỀ MÔ HÌNH CAMELS Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS là một phương pháp hoặc một công cụ dùng để phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của ngân hàng. Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa theo sáu yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng : đó là Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị trường ( viết tắt bằng tiếng anh là CAMELS). 1. Capital Adequacy – Mức độ an toàn vốn Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro (ví dụ như trong phạm vi một danh mục cho vay) thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn. * chỉ tiêu sử dụng để phân tích vốn:  Cơ cấu vốn  Chất lượng cổ đông có ảnh hưởng lớn  Hệ số đòn bẩy tài chính L = tổng nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu  Hệ số tạo vốn nội bộ  Chất lượng và khả năng tài chính của các cổ đông… 2. Asset Quality – Chất lượng tài sản vốn có Chất lượng tài sản có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ ngân hàng. Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho vay – cả trước kia cũng như hiện nay. Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn 2
  3. hạn của ngân hàng, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng. 3. Management – Quản lý Các chính sách về quản lý con người, các chính sách quản lý chung của tổ chức, các hệ thống thông tin, các chế độ kiểm soát và kiểm toán…đều được xem xét một cách riêng rẽ để phản ánh toàn bộ chất lượng của hoạt động quản lý. Nhiều nhà phân tích chuyên nghiệp coi quản lý là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống phân tích CAMELS, bởi vì quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công trong hoạt động của ngân hàng. Đặc biệt, các quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trự tiếp đến những yếu tố như:  Chất lượng tài sản có  Mức độ tăng trưởng của tài sản có  Mức độ thu nhập  Khả năng lập kế hoạch… 4. Earnings – Lợi nhuận Đây là nhân tố quan trọng của việc phân tích doanh thu và chi phí, bao gồm cả mức độ hiệu quả của hành động và chính sách lãi suất cũng như các kết quả hoạt động tổng quát được đo lường bằng các chỉ số. Cụ thể hơn, lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại. Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai từ phía các nhà đầu tư. Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy đủ. Bốn nguồn thu nhập chính của ngân hàng là:  Thu nhập từ lãi 3
  4.  Thu nhập từ lệ phí, hoa hồng  Thu nhập từ kinh doanh, mua bán  Thu nhập khác 5. Liquidity – Thanh khoản Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng. Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn. Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự. Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn. Thanh khoản ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay. Thanh khoản kém, chứ không phải là chất lượng tài sản có kém, mới là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng. Nói chung có thể đánh giá mức độ thanh khoản dựa trên khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động của mình. Những yếu tố cần xem xét bao gồm mức độ biến động của tiền gửi, mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro, khả năng sẵn có của những tài sản có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt, khả năng tiếp cận đến thị trường tiền tệ, mức độ hiệu quả nói chung của chiến lược, chính sách quản lý tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng, tuân thủ với các chính sách thanh khoản nội bộ ngân hàng, nội dung, quy mô và khả năng sử dụng dự kiến của các cam kết cấp tín dụng. * Khả năng thanh khoản: 4
  5.  Tỷ lệ thanh toán của tài sản = tài sản thanh khoản/ tổng tài sản (20- 30%)  Hệ số đảm bảo tiền gửi = tài sản thanh khoản/ tổng tiền gửi (30-45%)  Hệ số thanh khoản ngắn hạn = tài sản thanh khoản/ tổng nợ ngắn hạn (30%)… 6. Sensitivity to Market Risk – Mức độ nhạy cảm với rủi ro của thị trường Phân tích S nhằm đo lường bằng mức độ ảnh hưởng của của thay đổi về lãi suất hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần. Phân tích S quan tâm đến khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra những dấu hiệu, chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung. TÓM TẮT VỀ CAMELS Hệ thống phân tích CAMEL được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. An toàn được hiểu là khả năng của ngân hàng bù đắp được mọi chi phí và thực hiện được các nghĩa vụ của mình. Tiêu chí an toàn được đánh giá thông qua đánh giá mức độ đủ vốn, chất lượng tín dụng (tài sản có) và chất lượng quản lý. Khả năng sinh lời là việc ngân hàng có thể đạt được một tỷ lệ thu nhập từ số tiền đầu tư của chủ sở hữu hay không. Thanh khoản là khả năng đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn theo kế hoạch hoặc bất thường. Cần luôn luôn lưu ý là các báo cáo tài chính không thể cung cấp đầy đủ mọi thông tin mà người phân tích muốn có để đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. Do đó, cần kết hợp việc phân tích theo CAMEL với những đánh giá định tính của ngân hàng để có thể thu đuợc kết quả phân tích ngân hàng kỹ lưỡng và hữu ích. 5
  6. II. ỨNG DỤNG CAMELS TRONG CÔNG TÁC THANH TRA TRÊN CƠ SỞ RỦI RO VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG MỘT KHUNG NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT TỪ XA TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA,GIÁM SÁT NGÂN HÀNG Điều kiện tiên quyết cho một hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả, được Ủy ban BASEL xác định ngay tại nguyên tắc thứ nhất trong bộ 25 nguyên tắc cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng, đó là: “Một hệ thống phân định trách nhiệm và có mục tiêu rõ ràng đối với từng bộ phận tham gia trong quá trình giám sát các ngân hàng. Mỗi bộ phận đó phải có nguồn lực hoạt động độc lập và phù hợp. Phải có một khung pháp lý phù hợp cho việc giám sát nghiệp vụ ngân hàng, bao gồm cả các điều khoản liên quan đến quyền hạn của các tổ chức ngân hàng và công tác giám sát hiện nay của chính họ”. Tinh thần cơ bản của nguyên tắc này cho thấy, một hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả cần 2 yếu tố quan trọng đó là: một khuôn khổ nghiệp vụ (hay còn gọi là một khung nghiệp vụ) và một khuôn khổ pháp lý. Nhưng khuôn khổ nghiệp vụ phải là yếu tố tiên quyết, trên cơ sở khuôn khổ nghiệp vụ của từng bộ phận tham gia trong quá trình thanh tra, giám sát mà xây dựng một khuôn khổ pháp lý. Đối với hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng không thể làm ngược lại là xây dựng một khuôn khổ pháp lý trước khi chưa có một khuôn khổ nghiệp vụ. Khuôn khổ nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng là toàn bộ các yếu tố tạo nên cấu trúc nghiệp vụ cho hệ thống thanh tra, giám sát, là mục tiêu cho tất cả các thanh tra hướng tới khi tham gia vào quá trình thanh tra giám sát dưới bất kỳ hình thức nào. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chủ yếu đề cập tới một khung nghiệp vụ thuộc hoạt động giám sát từ xa, tất nhiên là một khuôn khổ nghiệp vụ giám sát từ xa đặt trong mối liên hệ với thanh tra 6
  7. tại chỗ. Chúng tôi cho rằng, cần ưu tiên trước hết cho việc xây dựng một khung nghiệp vụ giám sát từ xa vì: - Chức năng của giám sát từ xa là thu thập, xử lý thông tin liên tục và cảnh báo nên giám sát từ xa là trung tâm của quá trình thanh tra, giám sát. Vì vậy, một khuôn khổ nghiệp vụ cho hoạt động giám sát từ xa cũng đồng thời là định hướng cho các hoạt động thanh tra tại chỗ. - Do không phải tổ chức đoàn thanh tra, hoạt động giám sát từ xa có tính độc lập tương đối không bị hạn chế bởi các quy định của Luật Thanh tra, nên có thể xây dựng một khung nghiệp vụ giám sát từ xa theo hướng đổi mới - một khung nghiệp vụ có thể bao hàm được các yêu cầu của chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng, làm nền tảng cho đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát. - Khuôn khổ nghiệp vụ hoạt động giám sát từ xa, còn là cơ sở để thiết lập hệ thống thông tin quản lý cho toàn bộ hoạt động thanh tra, giám sát. Nghĩa là chúng ta không thể xây dựng một hệ thống thông tin cho hoạt động thanh tra, giám sát khi chưa có một khuôn khổ nghiệp vụ. Từ khuôn khổ nghiệp vụ, chúng ta có thể xây dựng cơ sở dữ liệu cho từng phần riêng nhưng vẫn đảm bảo tính kế thừa cho việc kết nối thành hệ thống trong tương lai. 1- Khuôn khổ nghiệp vụ giám sát từ xa trong mối quan hệ với thanh tra ngân hàng trên cơ sở rủi ro 7
  8. Có thể nói, rủi ro trong hoạt động ngân hàng đang dần được nhận thức đầy đủ hơn. Các ngân hàng thương mại đã biết chấp nhận rủi ro và từng bước có biện pháp phòng ngừa nhằm giảm thiểu rủi ro để thu được lợi nhuận tối đa ngay trong các hoạt động có nhiều rủi ro nhất. Và chính từ nhận thức được rủi ro mà trên thế giới đã hình thành nên xu hướng thanh tra dựa trên cơ sở rủi ro trong hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng. Cùng với thanh tra trên cơ sở rủi ro, các thanh tra ngân hàng tại một số quốc gia đã thực hiện mô hình giám sát ngân hàng theo CAMELS. Điển hình là cơ quan giám sát ngân hàng Mỹ, CAMELS được các thanh tra sử dụng trong quá trình giám sát để tạo nên hệ thống cảnh báo và xếp hạng ngân hàng còn gọi là “CAMELS rating System”. Câu hỏi đặt ra là, thanh tra trên cơ sở rủi ro và giám sát ngân hàng theo CAMELS có quan hệ với nhau như thế nào? Có phải thanh tra trên cơ sở rủi ro thuộc hoạt động thanh tra tại chỗ, còn giám sát ngân hàng theo CAMELS thuộc hoạt động giám sát từ xa? Điều đó cần được giải đáp cụ thể trong thực tiễn hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay. Chúng tôi cho rằng, trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng thì thanh tra trên cơ sở rủi ro là phương pháp - một phương pháp mới, khác hoàn toàn với phương pháp cũ là thanh tra tuân thủ. Phương pháp mới, cung cấp cho các thanh tra cái nhìn toàn diện về rủi ro trong hoạt động ngân hàng một cách bài bản có cơ sở lý luận rõ ràng, còn CAMELS là khuôn khổ nghiệp vụ để các thanh tra hướng tới. CAMELS không phải là tiêu chuẩn, mà chỉ là khung nghiệp vụ để thanh tra viên áp dụng các tiêu chuẩn vào đó để đánh giá về một tổ chức tín dụng (TCTD), chẳng hạn như tiêu chuẩn đánh giá về vốn, tiêu chuẩn đánh giá về tài sản Có... CAMELS có thể chứa đựng đầy đủ các yếu tố về rủi ro trong hoạt động của TCTD, nhưng là khuôn khổ nghiệp vụ; bản thân CAMELS tự nó không phản ánh được các tiêu chuẩn đánh giá về một ngân hàng, mà cần được tiến hành thông qua quá trình 8
  9. thanh tra, giám sát bằng phương pháp thanh tra mới, thay thế cho phương pháp thanh tra tuân thủ - một phương pháp đã bộc lộ những khiếm khuyết, không còn đáp ứng được yêu cầu cho hoạt động thanh tra, giám sát hiện nay. Sơ đồ 1 biểu diễn mối quan hệ giữa thanh tra trên cơ sở rủi ro và giám sát ngân hàng theo CAMELS trong quá trình thanh tra, giám sát đối với TCTD. Sơ đồ 1 Theo sơ đồ 1, quá trình thanh tra, giám sát là quá trình lượng hóa rủi ro bao gồm các yếu tố định tính và định lượng, cũng chính là quá trình thu thập và xử lý thông tin của giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ. Giám sát ngân hàng theo CAMELS, không chỉ là hoạt động riêng lẻ của giám sát từ xa hay thanh tra tại chỗ, mà đòi hỏi có sự kết hợp giữa hai bộ phận với nhau mới có thể đánh giá được toàn diện về TCTD; sự kết hợp đó phải được thiết lập thành quy trình và trở thành kỹ năng thành thục của mỗi thanh tra viên. Theo BASEL, sự kết hợp giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ là điều kiện không thể thiếu trong việc tạo nên hiệu quả hoạt động của thanh tra, giám sát ở bất kỳ quốc gia nào, nhất là đối với những quốc gia tổ chức 2 bộ phận giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ riêng biệt như Cơ quan Thanh tra, giám 9
  10. sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay thì điều đó lại càng là vấn đề cấp thiết. Do yêu cầu tiết kiệm nguồn nhân lực và tăng cường hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ mà trên thế giới có quốc gia khi thành lập Cơ quan Thanh tra, giám sát, trên cơ sở cơ cấu lại bộ máy, họ không tổ chức hai bộ phận giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ riêng biệt, mà chỉ tổ chức một bộ phận thực hiện cả hai nhiệm vụ. Các thanh tra viên, sau khi kết thúc cuộc thanh tra ở TCTD là tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giám sát từ xa. Sự phối hợp giữa hai bộ phận giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ như thế nào trong quá trình thanh tra, giám sát khi 2 bộ phận này được tổ chức riêng biệt đòi hỏi được giải quyết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, trên cơ sở một khuôn khổ nghiệp vụ với sự phân định trách nhiệm rõ ràng. 2- Khuôn khổ nghiệp vụ giám sát từ xa ngân hàng theo CAMELS Nói đến giám sát ngân hàng theo CAMELS là nói đến cảnh báo, nói đến xếp hạng ngân hàng và đó cũng là mục tiêu cuối cùng của CAMELS. Nhưng cảnh báo và xếp hạng theo quy trình như thế nào trong thực tiễn hoạt động giám sát từ xa hiện nay còn rất nhiều vấn đề thuộc các chi tiết phải giải quyết, trong khi các tài liệu về CAMELS được giới thiệu mới chỉ đưa ra dưới dạng chung nhất, đôi khi còn rất sơ lược và chưa được rõ ràng. Giám sát ngân hàng theo khuôn khổ CAMELS là thực hiện giám sát đối với các TCTD theo 6 yếu tố là: Đủ vốn (C); Chất lượng tài sản Có (A); Quản trị điều hành (M); Khả năng sinh lời (E); Khả năng thanh khoản (L); Sự nhạy cảm với thị trường (S). Dựa trên cơ sở 6 yếu tố của CAMELS người ta tiến hành xây dựng nên các chỉ tiêu tương ứng bao gồm cả chỉ tiêu định lượng và định 10
  11. tính (chỉ tiêu tài chính và phi tài chính) để tiến hành giám sát, đưa ra cảnh báo và xếp hạng đối với TCTD. Nhưng để áp dụng thành công khuôn khổ nghiệp vụ CAMELS vào thực tiễn hoạt động giám sát của các thanh tra ngân hàng là cả một chặng đường rất xa với rất nhiều vấn đề phải giải quyết. Từ thực tiễn hoạt động giám sát từ xa, về mặt logic chúng tôi cho rằng, việc xây dựng khuôn khổ CAMELS cần chia làm 2 phần. Thứ nhất, phân chia quá trình giám sát thành các kỳ giám sát gắn với nội dung cảnh báo; thứ hai, lập các báo cáo giám sát và xếp hạng đối với các TCTD. Hai phần nghiệp vụ này cũng là hai phần chính tạo nên quy trình làm việc của các thanh tra trong quá trình thanh tra, giám sát. a- Kỳ giám sát và nội dung cảnh báo Giả định rằng, hoạt động giám sát từ xa thực hiện giám sát đối với TCTD hàng tuần thì kỳ giám sát được xác định là: tuần, tháng, quý, năm. Đối với những TCTD trong diện kiểm soát đặc biệt, kỳ giám sát có thể là ngày, (trong giới hạn bài viết, chúng tôi chỉ đưa ra khuôn khổ chung với kỳ giám sát là tuần). Căn cứ vào kỳ giám sát trên, các thanh tra viên xác định thông tin cần thu thập, xử lý và trong quá trình xử lý thông tin, các thanh tra viên đưa ra những cảnh báo khi thấy có dấu hiệu bất thường trong hoạt động của TCTD tới các bộ phận liên quan. Việc thu thập, xử lý thông tin theo từng kỳ giám sát là quá trình giám sát liên tục và hệ thống cảnh báo phát sinh từ chính quá trình giám sát này. Như vậy, đối với hoạt động giám sát ngân hàng từ xa, nội hàm của khái niệm cảnh báo sớm chính là phát hiện ra những dấu hiệu bất thường của TCTD trong quá trình giám sát của thanh tra viên, để kịp thời có biện pháp xử lý. Trên thế giới, cũng có những mô hình cảnh báo được xây dựng trên cơ sở tích lũy số liệu về TCTD từ 5 đến 7 năm; trong mô hình này, người ta thiết lập nên các phép toán và giải các bài toán 11
  12. bằng chương trình máy tính để tìm ra ngân hàng có khả năng vỡ nợ trong tương lai. Chúng tôi cho rằng, mô hình cảnh báo đó chỉ thích hợp cho nghiên cứu về cảnh báo đối với kinh tế vĩ mô, không thể áp dụng vào việc cảnh báo trong hoạt động giám sát từ xa của Thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay. Căn cứ vào các kỳ giám sát trên, việc xử lý thông tin theo khuôn khổ CAMELS được tiến hành như sau: Hàng tuần: Giám sát tuần, các thanh tra viên tập trung vào 2 vấn đề đó là khả năng thanh khoản (L) và nhạy cảm với thị trường (S). Bằng các kênh khác nhau tùy theo điều kiện của công nghệ, giám sát từ xa nhận thông tin về vấn đề thanh khoản của TCTD mà trong đó, các thanh tra viên phải có bảng phân tích thời lượng tài sản Có và tài sản Nợ của TCTD. Thông tin tiếp theo là tình hình trạng thái ngoại tệ của TCTD đối với những ngoại tệ chủ yếu. Từ thông tin nhận được, thanh tra viên xác định những TCTD có vấn đề về khả năng thanh khoản và thiếu hụt trong đảm bảo trạng thái ngoại tệ sẽ đưa ra cảnh báo, trước hết là cảnh báo cho bộ phận thanh tra tại chỗ có liên quan để có biện pháp xử lý. Trong tương lai, giám sát từ xa nên hướng tới việc nhận thông tin trực tiếp từ hệ thống quản trị thanh khoản và quản lý trạng thái ngoại tệ của TCTD, để đáp ứng được tính kịp thời của cảnh báo. Hàng tháng: Giám sát tháng, các thanh tra viên xử lý thêm thông tin về vốn (C) và về chất lượng tài sản Có (A). Về vốn, các thanh tra viên thiết lập nên một số chỉ tiêu đánh giá về đủ vốn, chất lượng vốn của TCTD. Hiện tại, đã có rất nhiều tài liệu đưa ra các chỉ tiêu để đánh giá về vốn, cũng như các chỉ tiêu CAMELS nói chung, nên chúng tôi không thống kê các chỉ tiêu giám sát trong bài viết. Nhưng trong giám sát về vốn, các thanh tra viên phải thu thập cả thông tin về tài sản Nợ của TCTD, vì tài sản Nợ cùng với vốn của TCTD đều thuộc về nguồn vốn. Khi đánh giá về nguồn vốn, thanh tra 12
  13. viên xem cơ cấu của nguồn vốn có hợp lý không? Các nguồn vốn lớn có đảm bảo tính bền vững không? Để có thông tin về nguồn vốn, TCTD cung cấp cho thanh tra viên tài liệu về chiến lược huy động vốn của mình, cùng thông tin về những biến động của các nguồn vốn lớn. Đối với chất lượng tài sản Có, thanh tra viên xây dựng các chỉ tiêu như cơ cấu của các khoản mục đầu tư, các khoản mục đầu tư nhạy cảm như chứng khoán, bất động sản, chất lượng nợ vay, dự phòng và dự trữ... Từ thông tin nhận được, các thanh tra tiến hành xử lý và đưa ra cảnh báo cho thanh tra tại chỗ. Như vậy, ở kỳ giám sát tháng, các thanh tra viên đã xử lý thông tin trong bốn thành phần của CAMELS là CALS về TCTD. Kỳ giám sát quý: Kỳ giám sát quý, các thanh tra viên tiếp tục thu thập, xử lý thông tin về khả năng sinh lời (E) và năng lực quản lý (M) của TCTD. Đối với khả năng sinh lời, các thanh tra viên dựa trên một số chỉ tiêu truyền thống như ROE, ROA... để đánh giá, kết hợp với phân tích một số khoản mục thu chi để chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của TCTD. Riêng đối với việc đánh giá về năng lực quản lý (M), trong giới hạn của giám sát từ xa, các thanh tra viên chỉ thông qua quá trình thu thập, xử lý thông tin ở các kỳ giám sát và bằng kỹ năng tổng hợp của mình, đưa ra những vấn đề thuộc về quản trị điều hành mà TCTD cần quan tâm. Như vậy, ở kỳ giám sát quý, chúng ta đã xử lý được thông tin trong 6 thành phần của CAMELS. Sau một quý, giám sát từ xa phải nhận được những thông tin phản hồi từ phía thanh tra tại chỗ, hoặc từ chính TCTD ít nhất là đối với những TCTD có những vấn đề đã được cảnh báo. Các thanh tra viên giám sát từ xa vào sổ theo dõi, giám sát đối với TCTD vấn đề được phản hồi, làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá đối với kỳ giám sát tiếp theo. Điều đáng lưu ý là, ở kỳ giám sát quý và chúng ta không chỉ thu thập và xử lý thêm 13
  14. thông tin của 2 thành phần E và M, mà vẫn tiếp tục thu thập và xử lý thông tin của CALS ở các kỳ giám sát trước. Chẳng hạn, chỉ tiêu về khả năng thanh khoản (L) ở kỳ giám sát tuần, chỉ là khả năng thanh khoản trong ngắn hạn, còn khả năng thanh khoản bền vững trong dài hạn cần có những chỉ tiêu với những thông tin tương ứng, đòi hỏi phải tiếp tục thu thập, xử lý trong quý và năm. Kỳ giám sát năm: Kỳ giám sát quý, đã giám sát đủ với 6 thành phần CAMELS, riêng đối với quý IV chúng ta chỉ thu thập một số thông tin để làm cơ sở cho việc tính toán số liệu bình quân, mà không xem quý IV là một kỳ giám sát. Kỳ giám sát năm vẫn là CAMELS, nhưng đây là thông tin của năm nên khối lượng nhiều hơn và toàn diện hơn. Việc đánh giá một năm hoạt động của TCTD, là thông tin được nhìn nhận xuyên suốt qua tất cả các kỳ giám sát trong năm đã được tích lũy. Riêng đối với năng lực quản lý (M) của TCTD, các thanh tra viên xem xét kết hợp đánh giá các thông tin nhận được trong năm với những đánh giá, nhận xét từ phía thanh tra tại chỗ để đưa ra kết quả phản ánh chính xác nhất về năng lực quản lý của TCTD. Thông qua việc thu thập xử lý thông tin của một năm, các thanh tra viên tiến hành xếp loại đối với các TCTD; trên cơ sở kết quả xếp loại, lựa chọn những TCTD có vấn đề để phân tích và có cảnh báo đầy đủ hơn. b- Báo cáo giám sát và xếp hạng đối với TCTD Trong giám sát từ xa, cần phân biệt 2 loại báo cáo khác nhau, có thể gọi là báo cáo giám sát định kỳ và báo cáo phân tích. Báo cáo giám sát định kỳ: Báo cáo được lập theo từng kỳ giám sát. Báo cáo định kỳ, có thể chỉ là một bảng tổng hợp số liệu đối với từng TCTD 14
  15. gửi tới các bộ phận liên quan, hoặc có thể là những dấu hiệu cảnh báo về một TCTD nào đó mà thanh tra viên đưa ra trong kỳ giám sát. Chúng tôi cho rằng, báo cáo định kỳ nên lập theo mẫu, nhất là khi có sự hỗ trợ tốt của công nghệ thông tin thì báo cáo này được lập bởi chương trình máy tính. Báo cáo này được thiết kế để chứa đựng các chỉ tiêu giám sát, và không viết bằng lời mà chỉ có ghi chú kèm theo cho những khoản mục của bảng số liệu. Báo cáo phân tích: Báo cáo do thanh tra viên thực hiện phân tích đối với từng TCTD riêng biệt, không lập theo khối hoặc nhóm như hiện nay. Tùy theo yêu cầu, thanh tra viên có thể tiến hành phân tích toàn diện về một TCTD hay chỉ một vấn đề nổi cộm nào đó. Các thanh tra viên, bằng kỹ năng của mình cùng với thông tin thu thập được, tiến hành phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá về tình trạng rủi ro của TCTD, những kiến nghị đề xuất cho các bộ phận liên quan. Báo cáo phân tích cũng có thể là cơ sở để các thanh tra viên thiết lập bảng ma trận rủi ro trong quy trình thanh tra rủi ro 6 bước. Báo cáo phân tích dựa theo khuôn khổ CAMELS nhưng là kỹ năng của thanh tra viên, không xây dựng thành mẫu chung đưa vào chương trình máy tính và cũng không lập định kỳ đối với tất cả các TCTD. Báo cáo phân tích, chỉ thực hiện theo kỳ giám sát quý hoặc năm đối với những TCTD có vấn đề do thanh tra viên lựa chọn hoặc theo yêu cầu của lãnh đạo. Với số lượng TCTD ngày càng nhiều, nguồn nhân lực không cho phép chúng ta phân tích đối với tất cả các TCTD và điều đó cũng không cần thiết, bởi một trong những mục tiêu của giám sát từ xa là phát hiện ra những TCTD có vấn đề để xử lý trước khi quá muộn. Xếp hạng đối với TCTD: Kết thúc một quá trình thanh tra, giám sát, các thanh tra viên tiến hành xếp hạng đối với TCTD. Xếp hạng là quy các TCTD về từng loại, chúng ta có thể phân loại các TCTD thành 4 hoặc 5 loại 15
  16. trong xếp hạng. Nhưng vấn đề là việc kết hợp giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ như thế nào ở công đoạn xếp hạng trong quá trình giám sát, mới là điều quan trọng. Xếp hạng TCTD trong hoạt động thanh tra, giám sát là vấn đề lớn và rất phức tạp, trong phạm vi bài viết, chúng tôi không thể chuyển tải được toàn bộ nội dung cũng như yêu cầu về xếp hạng, mà cần có những chuyên đề riêng biệt cho vấn đề này. Nhưng trong bối cảnh giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ là 2 bộ phận tách rời nhau thì vấn đề xếp hạng đối với TCTD càng trở nên phức tạp và khó khăn nhất trong toàn bộ quy trình thanh tra, giám sát. Xếp hạng ngân hàng theo CAMELS không chỉ đơn giản là những phép cộng hoặc trừ của các chỉ tiêu định lượng do giám sát từ xa xây dựng. Xếp hạng TCTD đòi hỏi các thanh tra viên phải chuyển tải được toàn bộ những thông tin thu thập và xử lý trong quá trình thanh tra, giám sát, cùng những yếu tố rủi ro được rút ra từ các cuộc thanh tra tại chỗ. Từ thực tiễn của mô hình với 2 bộ phận giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ được tổ chức riêng như Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay, chúng tôi đề xuất 2 kiểu xếp hạng, đó là xếp hạng sơ bộ và xếp hạng chính thức theo quy trình mô tả (Sơ đồ 2). Sơ đồ 2: 16
  17. 1- Xếp hạng của giám sát từ xa 2- Thanh tra tại chỗ tiếp cận thông tin xếp hạng sơ bộ (nếu là thực hiện trên máy tính thì mũi tên (2) quay ngược lại – thanh tra tại chỗ tự truy cập vào hệ thống để lấy thông tin. 3- Thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa tiến hành trao đổi đánh giá các yếu tố về rủi ro. 4- Thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa thống nhất đưa ra kết quả xếp hạng chính thức. 17
  18. Trong quy trình trên, xếp hạng sơ bộ do giám sát từ xa thực hiện và chỉ xếp hạng theo kỳ giám sát năm. Bằng những kết quả thu thập, xử lý thông tin trong năm về TCTD, kết hợp với số liệu tổng hợp của các nhóm ngân hàng đồng hạng và các chỉ số bình quân trong toàn hệ thống, các thanh tra viên xây dựng nên các tiêu chí xếp hạng cho máy tính thực hiện. Bài toán đặt ra cho xếp hạng sơ bộ không nên quá phức tạp, chỉ xây dựng trên cơ sở một số chỉ tiêu chủ yếu, xác định được tiêu chuẩn rõ ràng, làm sao cho xếp hạng sơ bộ phản ánh được hình ảnh ban đầu trung thực nhất về TCTD, làm cơ sở cho thanh tra viên tiến hành xếp hạng chính thức. Sau khi có kết quả xếp hạng sơ bộ, các thanh tra viên thanh tra tại chỗ cùng giám sát từ xa tiến hành xếp hạng chính thức. Trong quy trình xếp hạng chính thức, yêu cầu các thanh tra viên đánh giá đầy đủ các mặt rủi ro của TCTD, đối chiếu các rủi ro đó với từng thành phần CAMELS, xác định mức độ tốt, xấu có thể là bằng một số điểm rồi trực tiếp ấn định loại cho TCTD. Như vậy, xếp hạng chính thức là kết quả tổng hợp của quá trình thanh tra, giám sát các mặt rủi ro của TCTD, là sự tổng hợp của việc đánh giá các yếu tố định tính và định lượng do thanh tra viên trực tiếp thực hiện, không thực hiện bởi chương trình máy tính. Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng, việc xây dựng một khung nghiệp vụ cho hoạt động giám sát từ xa là công việc cần làm trước tiên của Thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay. Một khung nghiệp vụ, với nội dung và mục đích rõ ràng là cơ sở để xây dựng một khuôn khổ pháp lý và cũng là cơ sở để thiết kế hệ thống thông tin cho hoạt động thanh tra, giám sát - một hệ thống có cấu trúc phù hợp, quy trình mạch lạc, tiết kiệm nguồn nhân lực. Trước hết, một khung nghiệp vụ, sau đó, mới đến các chỉ tiêu giám sát vì chỉ tiêu là những yếu tố động sẽ biến đổi khi chính sách thay đổi; còn 18
  19. khuôn khổ nghiệp vụ là yếu tố ít biến động, được xem như là mục tiêu để các thanh tra ngân hàng hướng tới trong hoạt động thanh tra, giám sát của mình. 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản