intTypePromotion=3

Tiểu luận Triết học số 12 - Quy luật quan hệ sản xuất

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:17

0
85
lượt xem
19
download

Tiểu luận Triết học số 12 - Quy luật quan hệ sản xuất

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận triết học, triết học Mac Lenin, quy luật quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, quy luật vận động, chủ nghĩa duy vật lịch sử,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 12 - Quy luật quan hệ sản xuất

  1. A. LỜI NÓI ĐẦU Quy luật quan hệ  sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ  phát  triển của lực lượng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc   xây dựng đất nước của mỗi quốc gia. Sự  mâu thuẫn hay phù hợp giữa   quan hệ  sản xuất và lực lượng sản xuất đều có  ảnh hưởng rất lớn tơí   nền kinh tế. Sự  tổng hoà mối quan hệ  giữa lực lượng sản xuất và quan   hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo  theo một quan hệ sản xuất phát triển.  Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và  trình độ  của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để  phát triển   một nền kinh tế.  Do vậy, nghiên cứu  về  quy luật này sẽ  giúp cho mỗi sinh viên  chúng ta, đặc biệt là sinh viên khối kinh tế, có thêm những hiểu biết ban  đầu và sâu sắc hơn về  sự  phát triển của nước ta cũng như  trên thế  giới;   hiểu được quy luật vận động của nền kinh tế từ đó có thể góp một phần  nhỏ bé của mình vào sự nghiệp xây dựng nước nhà sau này. Do thời gian còn hạn hẹp và sự hiểu biết các vấn đề chưa sâu sắc,   chắc chắn bài viết còn có rất nhiều thiếu sót. Bởi vậy em mong được sự  chỉ  bảo, phê phán của thầy để  có thể  sửa chữa, khắc phục những mặt  kiến thức còn yếu của mình và để bài viết có thể hoàn thiện hơn.  1
  2. B. NỘI DUNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ Với tính cách là phạm trù của chủ  nghĩa duy vật lịch sử  phương   thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất  vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Dưới  sự  vận động của lịch sử  loài người, cũng như   sự  vận động của mỗi xã   hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự  thay   đổi có tính chất cách mạng. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã   hội được chuyển sang một chất mới. Phương thức sản xuất là cái mà nhờ  nó người ta có thể phân biệt được sự  khác nhau của những thời đại kinh   tế  khác nhau. Mà phương thức sản xuất chính là sự  thống nhất giữa lực  lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.   đo cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình  độ phát triển của lực lượng sản xuất. Do vậy, quy luật trên trước hết là quy luật kinh tế  nhưng hơn thế  nữa nó con là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ  đời sống xã hội của lịch   sử nhân loại bởi vì nó là quy luật của bản thân phương thức sản xuất. Sự  tác động của quy luật này dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất   và kéo theo sự thay đôỉ cua toàn bộ đời sống xã hội. Với những lý do trên, quy luật quan hệ  sản xuất phù hợp với tính  chất và trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa hết sức to   lớn. Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản,  nhận biết được một quan hệ  sản xuất có phù hợp với tính chất và trình   độ phát triển của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc   2
  3. vào thực tiễn của sản xuất và kinh nghiệm bản thân. Với những chính  sách, đường lối và chủ  trương đúng đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng   và nhà nước, nền kinh tế, đặc biệt là kinh nhiều thành phần đã phát triển  mạnh mẽ, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển thành   nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh nền kinh tế  nước nhà đi sang một hướng khác, sánh vai cùng các nước trong khu vực  và trên thế giới.  II­ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ KHÁI NIỆM VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT QUAN HỆ SẢN XUẤT  VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ  TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT A/ KHÁI NIỆM VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT:  1/ Lực lượng sản xuất:  Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất   và kỹ  thuật nhất định. Tổng thể  các nhân tố  đó là lực lượng sản xuất.  Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người v ới t ự nhiên.  Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người trinh phục tự  nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình suức mạnh đó được chủ  nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất. Trình  độ  lực lượng sản xuất  biểu hiện trình độ  chinh phục tự  nhiên của con  người. Lực lượng sản xuất  nói lên năng lực thực tế của con người trong   quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự  phát triển của  con người. Lực lượng sản xuất  bao gồm người lao động và kỹ năng lao động   và tư  liệu sản xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ  lao động tác động  vào đối tượng lao động để  tạo ra của cải vật chất thì tư  liệu lao động  3
  4. được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao. Còn trong tư  liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để  tác động vào đối tượng lao động thì công cụ  lao động là yếu tố  quan  trọng nhất linh hoạt nhất. Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình   độ  tin học hoá được tự  động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng.  Trong mọi thời đại công cụ  sản xuất luôn là yếu tố  đông nhất của lực  lượng sản xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng  của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất.   Trình độ  phát triển công cụ  lao động là thước đo trình độ  chinh phục tự  nhiên của con người. Tuy nhiên LêNin viết:  “Lực lượng sản xuất hàng  đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động” có thể  cói yếu  tố  quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người. Trong  thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở  thành nguyên nhân  trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở  thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa  thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi   về chất cho lực lượng sản xuất.  Khoa học và công nghệ  hiện đại chính là đặc điểm thời đại của  sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện   đại. 2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất:  Để  tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối  quan hệ  với nhau. Tổng thể  những mối quan hệ  này gọi là quan hệ  sản  xuất. Nói cách khác quan hệ  sản xuất là quan hệ  giữa người với người   trong sản xuất.  Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn  hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ  nhất định với nhau để  4
  5. trao đổi hoạt động sản xuất cũng như  kết quả  lao động những quan hệ  sản xuất này mang tính tất yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người   tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào   ý muốn của bất kỳ ai. Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất  tự nó đã là vấn đề  có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự  vận động  xã hội.  Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc  vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính   vật chất của đời sống xã hội. Quan hệ  sản xuất là hình thức xã hội của  lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.  Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:  ­ Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với   tư  liệu sản xuất. Tính chất của quan hệ  sản xuất trước hết  được quy  định bởi quan hệ  sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế  độ sở hữu. trong hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư  liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác.  Trong các hình thái kinh tế  xã hội mà loài người đã từng trải qua,  lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối   với tư  liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở  hữu công cộng. Sở  hữu công   cộng là loại hình mà trong đó tư  liệu sản xuất thuộc về  mọi thành viên   của cộng đồng. Do tư  liệu sản xuất là tài sản chung của cả  cộng đồng  nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung   trở  thành quan hệ  hợp tác giúp đỡ  nhau. Ngược lại trong các chế  độ  tư  hữu do tư  liệu sản xuất chỉ  nằm trong tay một số người nên của cải xã  hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan hệ xã   hội do vậy bất bình đẳng.  5
  6. ­ Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ  giưuã người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải.   Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý  sản xuất là các quan hệ có khả  năng quyết định một cách quy mô tốc độ  hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ  quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu  ảnh hưởng tiêu  cực đến kinh tế xã hội.  Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ  chặt trẽ với  nhau cùng mục tiêu chung là sử  dụng hợp lý và có hiệu qủa tư  liệu sản  xuất để  làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản   xuất mở  rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động. Bên cạnh các quan  hệ về mặt tổ chức quản lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ  về  mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố  có ý nghĩa   hết sức to lớn đối với sự  vận động của toàn bộ  nền kinh tế. Quan hệ  phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược  lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội Nêu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính  chất sở  hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác   trong mỗi hình thái kinh tế  xã hội nhất định quan hệ  sản xuất thống trị  bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải  biến chúng để chẳng những chung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho  sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới.  B/ QUY LUẬT VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT  VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT:  1/ Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:  a/ Tính chất: 6
  7. Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tu liệu sản xuất  và lao động. Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình  độ  phổ  thông, lực lượng sản xuất chủ  yếu mang tính chất cá nhân. Khi  trình độ  sản xuất đạt tới trình độ  cơ  khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi  phải được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn  hoá. Tính chất tự  cấp tự  túc cô lập của nền sản xuất nhỏ  lúc đó phải   được thay thế bởi tính chất xã hội hoá. b/ Trình độ của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là yếu tố  có tác dụng quyết định đối với sự  phát triển của phương thức sản xuất: Trình độ  của lực lượng sản xuất   trong từng giai đoạn của lịch sử  loài người thể hiện trình độ  chinh phục   tự  nhiên của loài người trong giai đoạn đó. Khái niệm trình độ  của lực   lượng sản xuất nói lên khả  năng của con người thông qua việc sử  dụng   công cụ  lao động thực hiện quá trình cải biến tự  nhiên nhằm đảm bảo   cho sự  sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ  lực lượng sản xuất thể  hiện ở:  Trình độ  công cụ  lao động, trình độ  quản lý xã hội trình độ  ứng   dụng khoa học kỹ  thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ  năng của con  người và trình độ phân công lao động.  Trên thực tế  tính chất và trình độ  của lực lượng sản xuất không  tách biệt nhau  B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất: Quan hệ  sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương  thức sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ  sản xuất biểu hiên mối quan hệ  mang tính chất biện chứng. Chính sự  thống nhất và tác động giữa quan hệ  sản xuất và lực lượng sản xuất đã   7
  8. hình thành nên quy luật về  sự  phù hợp giữa quan hệ  sản xuất với tính  chất và trìng độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển.   Ngược lại quan hệ  sản xuất thường có tính  ổn định trong một thời gian  dài.  Sự biến đội của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân:  ­ Bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không  ngừng tích luỹ và tăng lên.  ­ Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng  sản xuất trực tiếp.  ­ Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể  sản xuất được.  Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới  hạn nhất định sẽ  đặt ra nhu cầu xoá bỏ  quan hệ  sản xuất cũ và hiện có.  Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới   cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự  ra  đời của một phương thức sản xuất mới. Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ  sản xuất hiện có không phải là tự  thân mà phải thông qua một phương  thức chính trị  và pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực tiếp.   Những quan hệ  sản xuất cũ và hiện có từ  chỗ  là hình thức kinh tế  cần   thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ  đây trở thành những hình thức kìm hãm sự  phát triển đó như  CácMác đã  nhận định “Từ  một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng  sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện  có trong đó từ  trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát  triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những   quan hệ   ấy trở  thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi   8
  9. đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội”Đó cũng chính là nội  dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển   nhất định của lực lượng sản xuất. Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể  phát triển  khi có một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó. quan hệ sản  xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả  tạo cũng sẽ  kìm hãm   sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản   xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng  còn lực lượng sản xuất người không phát hiện được cũng như mâu thuẫn  được phát hiện mà không giải quyết được hoặc giải quyết một cách sai   lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá   hoại đối với lực lượng sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của  lực lượng sản xuất mà bỏ  qua sự  tác động trở  lại của quan hệ  sản xuất   đối với nó khi giữa chúng có sự  phù hợp. Đôi khi sự  phát triển chệch  hướng của quy luật quan hệ  sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải  do tính chất đặc thù của quy luật đó.  Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực  lượng sản xuất đối với quan hệ  sản xuất song nó cũng chỉ  rõ rằng quan   hệ sản xuất  bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng  sản xuất. Quan hệ  sản xuất tác động trở  lại lực lượng sản xuất , nó là  yếu tố quyết định là tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù  hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nó làm nhiệm vụ chỉ  ra mục tiêu bước đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt  động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động phát huy  9
  10. tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố  quan trọng và quyết định  trong lực lượng sản xuất.  Sở  dĩ quan hệ  sản xuất có thể  tác động mạnh mẽ  trở  lại đối với   lực lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ  thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội   quy định phân phối và phần   của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó tạo ra   những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ  sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao  động.  C/ Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở  Việt Nam: Sự  nghiệp đã đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ  giữa   những năm 80 và được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó   đến nay. Quá trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng  thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan  hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ  phát triển của lực lượng   sản xuất vào việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ  là cơ  sở  hết  sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự  nghiệp đổi  mới, cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việt Nam đã xây dựng chủ  nghĩa xã hội được hơn 30 năm ở  miền  Bắc và hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt  đầu đổi mới. Ngôi nhà xã hội chủ  nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có   thể  có nhiều đặc trưng, nhưng có hai đặc trưng chất lượng quan trọng   nhất mà dứt khoát chúng ta phải đặt đến, đó là vừa giàu có hơn, vừa công  bằng hơn so với trong chủ nghĩa tư  bản. Tuy nhiên trong quá trình đi lên   chủ  nghĩa xã hội thì nền kinh tế  sản xuất của nước ta lại chậm phát   triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sự khó khăn này  có thể  10
  11. có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ  một trong những nguyên nhân quan  trọng nhất là: không nắm vững quy luật quan hệ  sản xuất phù hợp với  tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm: Nền kinh tế  phát triển chưa vững chắc, hiệu quả  và sức mạnh  tranh chấp. Nhịp độ  tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp  độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập   khẩu… không đạt chỉ  tiêu đề  ra. Nhìn chung, năng xuất lao động thấp,   chất   lượng  sản  phẩm  chưa  tốt,  giá  thành  cao.  Nhiều  sản   phẩm  nông  nghiệp, công nghiệp, thủ  công nghiệp thiếu thị  trường tiêu thụ  trong cả  nước và nước ngoài. Hệ  thống tài chính­ngân hàng còn yếi kém và thiếu  lành mạnh. Cơ  cấu kinh tế  chuyển dịch chậm. Cơ cấu đầu tư  chưa hợp   lý, đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ  thu hút đầu  tư  trực tiếp của nước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công tác  này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót. Quan hệ  một số  mặt chưa phù   hợp. Kinh tế  nhà nước chưa được củng cố  tương xứng với vai trò chỉ  đạo, chưa có chuyển biến đáng kể  trong việc sắp xếp, đổi mới và phát   triển doanh nghiệp nhà nước. Một số vấn đề  văn hoá­xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải   quyết. Tỷ  lệ  thất nghiệp  ở  thành thị  và nông thôn còn  ở  mức cao. Các  hoạt động khoa học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự  nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cơ  chế  chính sách không đồng bộ  và chưa tạo động lực mạnh để  phát triển. Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát  với cuộc sống, thiếu tính khả  thi. Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa   đổi những quy định về  quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ  sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực  11
  12. lượng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ  đi lên chủ  nghĩa xã hội từ  một xã   hội tiền tư bản  chủ nghĩa, nhà nước ta đã không thấy rõ bước đi có tính   quy luật trên con đường tiến lên chủ  nghĩa xã hội nên đã tiến hành ngay  cuộc cải tạo xã hội chủ  nghĩa đối với nền kinh tế  quốc dân và xét về  thực chất là theo đường lốiđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan   hệ  sản xuất đi trước mở  đường cho lực lượng sản xuất phát triển. điều  đó có nghĩa là đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc  đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với  quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ  phát triển của lực lượng   sản xuất. để   khắc phục những mâu thuẫn có thể  phát sinh đòi hỏi phải  thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp   và trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất.Những chính sách mới của  đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế  nước ta phát triển một cách  mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã  hội chủ  nghĩa đã đưa nền kinh tế  nước ta sang một bước đi mới. Mọi   người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh doanh hợp   tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước pháp luật…Tất cả  đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà. Để làm rõ hơn về nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ, chúng   ta sẽ  đi phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. tại đại  hội lần thứ VI, Đảng ta đã nhận định:"…Lực lượng sản xuất bị kìm hãm   không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ  sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình   độ của lực lượng sản xuất ( Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội   đại biểu toàn quốc lần thứ  VI. Nxb sự  thật, HN, 1987, tr.57)Trong quá   trình tiến lên chủ  nghĩa xã hội phải kể  đến yếu tố  chủ  quan của việc  đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực xã hội của quần chúng  12
  13. bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nước vốn có của họ. Tuy   nhiên, theo nhận định trên của đảng, ta thấy rằng, không thể  cho rằng  những yếu tố  tiên tiến của quan hệ  sản xuất mãi là tiền đề  sự  thúc đẩy   phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ  sản xuất. Chúng chỉ  tác  động tích cực trong một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ  quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của  lực lượng sản xuất. Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian  chuẩn bị  vào những năm đầu bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện   đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của đảng. Tại  thời điểm đó nền sản xuất nông nghiệp không ổn định, nhiều nơi, nhiều  vùng nông thôn bị  đói kém. Khi đó có người cho rằng, nguyên nhân sản   xuất chậm phát triển là do giữa lực lượng sản xuất và quan hệ  sản xuất  có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó thể hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển   hơn nữa của lực lượng sản xuất  theo hướng tất yếu chuyển t ừ s ản xu ất   nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở hữu phân tán. Theo một số  nhà nhận định, đây là mâu thuẫn vốn có và mâu thuẫn là phổ  biến trong   các nền sản xuất. Khi nền sản xuất xã hội phát triển đến trình độ cao thì   tự  bản thân chế  độ  tư  hữu nhỏ  không thể  nào tồn tại như  cũ, nó buộc   phải thay đổi. Nhìn lại quá trình chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ở nước ta   trước đây Đảng ta đã rút ra được sự  cần thiết của quy luật quan hệ sản   xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: "Cần phải nhân rộng mô hình  hợp tác, liên kết Công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và  kinh tế  hộ  nông thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mô phù hợp   trên từng địa bàn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu   toàn quốc lần thứ IX, Nxb chính trị  quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 32). Trong  13
  14. sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ  chế  quản lý với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với  những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng và nhờ  đó, tạo ra sự  biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông nghiệp trên cả  ba mặt của quan   hệ  sản xuất. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan  hệ  sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ  phát triển của lực lượng  sản xuất. Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để  khẳng định rằng quan hệ  sản  xuất phù hợp với trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất. Trước hết   sự phù hợp đó thể hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau   cao hơn năm trước), mặc dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh   hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế  trong khu vực và trên thế  giới.  Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản   xuất không thể  không nhìn vào đời sống của nông dân, thực tế  cho thế  qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề  ra, đời sống của   nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà  ở  và học tập của con   em nông dân cũng khá hơn trước. Như  vậy thực trạng nền kinh tế  có phát triển không? Lực lượng  sản xuất có phát triển không đó chính là tiêu thức để đánh giá sự phù hợp   của quan hệ  sản xuất vào tính chất và trình độ  của lực lượng sản xuất.   Một quy luật có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh  tế của mỗi quốc gia. III/ KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP  1/ KẾT LUẬN:  Quy luật của quan hệ  sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến. Tuy nhiên  14
  15. không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy, phải nắm bắt   tốt quy chúng ta có thể  áp dụng vào từng trường hợp cụ  thể. Quy luật   quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất còn là quy luật   phổ biến trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển  đi lên của lịch sử  loài người từ  chế  độ  công xã nguyên thuỷ  qua chế  độ  chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã  hội cộng sản tương lai là do sự  tác động của hệ  thống các quy luật xã   hội, trong đó quy luật quan hệ  sản xuất phù hợp với trình độ  phát triển   của lực lượng sản xuất là quy luật cơ  bản nhất. Lực lượng sản xuất là  nhân tố  thường xuyên biến đổi, ngược lại quan hệ  sản xuất lại thường   có tính ổn định song sự ổn định đó chỉ là tạm thời và cũng cần có sự  thay  đổi cho phù hợp. Nếu quan hệ  sản xuất không có những sự  thay đổi cho  phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Như vậy, trong việc xác lập hoàn thiện, thay đổi quan hệ sản xuất  cần phải căn cứ  vào thực trạng của các lực lượng sản xuất hiện có về  mặt tính chất và trình độ  của chúng (đây là cơ  sở  lý luận trực tiếp của   việc xác định cơ  cấu kinh tế  nhiều thành phần  ở  nước ta hiện nay của   quá trình cải cách của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay). 2/ GIẢI PHÁP: Cải tạo xã hội chủ  nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của  quá trình tiến từ  sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ  nghĩa là quan  hệ  sản xuất và lực lượng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy  nhau cùng phát triển. Phải coi trọng những hình thức kinh tế  trung gian,   quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Trên mỗi bước đi   phải đẩy mạnh xây dựng cơ  sở  vật chất kỹ  thuật, tạo ra lực lượng sản   xuất mới trên cơ  sở  đó tiếp tục đưa quan hệ  sản xuất lên hình thức, quy   mô thích hợp để cho lực lượng sản xuất phát triển.  15
  16. Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: " Cần phải" nhân rộng mô  hình hợp tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà  nước và kinh tế  hộ  nông thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy  mô phù hợp trên từng địa bàn những hình thức kinh tế  hộ  nông dân ngày   càng được mở  rộng, các hình thái kinh tế  hợp tác  ở  nông thôn, kinh tế  trang trại, mở  mang nhanh công nghiệp chế  biến nông sản theo nhiều   trình độ quy mô công nghệ. Với kiến thức của một sinh viên em chỉ phần nào đề cập được một   số  khía cạnh của vấn đề. Em mong có sự  góp ý của thầy cô nhằm giúp  em hiểu rõ hơn về vấn đề này. Cuối cùng em xin cam kết tất cả những gì   em viết trên đây là những hiểu biết của em. Những phần tham khảo đều  được chú thích ở dưới. Em xin cảm  ơn thầy Trần Ngọc Linh đã giúp em   hoàn thành tiểu luận này. 16
  17. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ­ Giáo trình triết học Mác­LêNin (Nhà xuất bản Chính trị  quốc  gia). ­ Tạp trí triết học (2002). ­ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VI. ­ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII. ­ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX.   17

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản