intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

TIỂU LUẬN: XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Chia sẻ: Pham Vu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:92

0
514
lượt xem
129
download

TIỂU LUẬN: XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Làm rõ quan điểm mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  1. TIỂU LUẬN: XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  2. Làm rõ quan điểm mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về Nhà nước pháp quyền; 2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền với tư cách một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan đối với Việt Nam hiện nay; 3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thể hiện được các giá trị phổ biến, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù; 4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ Đại hội lần thứ IX, khi thông qua việc sửa đổi một số điều trong Hiến pháp năm 1992, Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về vấn đề này, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”(1).
  3. Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại một cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn hoạt động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề mới đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước. 1. Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan trọng: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Với quan niệm này, nhà nước pháp quyền đã được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Các giá trị phổ biến của nó được trình bày dưới các dạng thức khác nhau và phụ thuộc vào lập trường chính trị – pháp lý, quan điểm học thuật của mỗi người. Ngay cả cách trình bày cũng có thể khác nhau, nhưng về thực chất, đều nhấn mạnh các giá trị sau đây: - Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Theo đó, dân chủ vừa là bản chất, vừa là điều kiện, là tiền đề để xây dựng nhà nước pháp quyền. - Bộ máy nhà nước pháp quyền được tổ chức và vận hành trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức quyền lực một cách dân chủ. - Một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, cơ quan xét xử chỉ tuân theo pháp luật với một chế độ tố tụng công khai, dân chủ. Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau: - Chỉ từ khi dân chủ tư sản xuất hiện, mới có cơ hội và điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền. Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản đang được xây dựng ở hầu hết các nước tư bản phát triển và đang phát triển . - Nhà nước pháp quyền với tư cách cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội không những được xây dựng ở chế độ tư bản, mà còn được xây dựng ở chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong nhận thức lý luận cũng như trong thực tiễn, có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  4. - Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nước pháp quyền còn bao hàm các giá trị đặc thù. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố này, về thực chất, là hết sức đa dạng, phong phú và rất phức tạp, được xác định bởi các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý xã hội và môi trường địa lý của mỗi quốc gia dân tộc. Chúng không chỉ tạo ra cái đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển, mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền. Việc thừa nhận tính đặc thù của nhà nước pháp quyền có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng. Với ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù; vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc, quốc gia. Do vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp. 2. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 1946, năm 1959. năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946, được định hướng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục đẩy mạnh trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
  5. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"(2). Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hoá. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sau khi nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đòi hỏi chúng ta tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính Nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế. 3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù của riêng mình. Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, có thể khái quát trên các nét chính sau: Một là, cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo ra nét đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hai là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khối đại đoàn kết dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã
  6. hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện đảm bảo ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu chung của sự phát triển. Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền tạo khả năng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các giai tầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc nâng cao quyền làm chủ của nhân dân. 4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc trưng cơ bản, được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta và được thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước. Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật thể hiện đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân, không loại trừ đối với bất cứ ai.
  7. Bốn là, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Mục tiêu cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thể chế hoá thành luật và được Nhà nước ta tổ chức thực hiện có kết quả. Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản chủ nghĩa. Qua những nội dung trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta đã tiếp thu được những tinh hoa, những giá trị toàn nhân loại. Đó là các chế định pháp lý, như tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người như những giá trị xã hội cao quý nhất, sự ngự trị của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, tính tối cao của pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. 5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần được tiến hành đồng bộ, từ việc xác định vị trí trụ cột của Nhà nước trong hệ thống chính trị, cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hành và phát huy dân chủ đến việc đổi mới từng bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương. a) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng nâng cao chất lượng, thực hiện tốt chức năng lập pháp và giám sát tối cao. Hiến pháp năm 1992 đã xác định Quốc hội nước ta là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với 3 chức năng: lập hiến, lập pháp,
  8. quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao. Cần đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của Quốc hội trong tổng thể bộ máy nhà nước, theo đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng không phải toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về Quốc hội. Vấn đề đặt ra là, cần phải xây dựng được một Quốc hội thực quyền chứ không phải là Quốc hội toàn quyền. Đối với chức năng lập hiến và lập pháp, cần quán triệt nguyên tắc hiến định: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Để đảm bảo quyền này của Quốc hội, cần nghiên cứu để hạn chế quyền ban hành pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, tiến tới quy định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không ban hành pháp lệnh, đồng thời phân định rõ thẩm quyền lập pháp của Quốc hội với thẩm quyền lập quy của Chính phủ, từng bước hạn chế uỷ quyền lập pháp. Đối với việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, vấn đề thiết thực và quan trọng nhất là hiệu quả của sự giám sát thông qua cơ chế xử lý kết quả giám sát của Quốc hội, bảo đảm các kết luận giám sát của Quốc hội phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Để tạo lập được cơ chế giám sát tối cao một cách thực tế đối với hoạt động của nhà nước, cần tổ chức nghiên cứu để tiến tới thành lập một cơ quan bảo hiến, đảm bảo địa vị tối cao, thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của nước ta. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp. Chúng ta không những phải soạn thảo và thông qua nhiều đạo luật mới, mà còn phải rà soát, sửa đổi toàn bộ những đạo luật đã có sao cho đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. Do vậy, công tác lập pháp của nước ta trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII trở nên cấp bách hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. b) Xây dựng một Chính phủ gọn về tổ chức, rõ về chức năng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền
  9. kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ gồm hai nhóm cơ bản sau đây: - Nghiên cứu chính sách thể chế; - Điều hành mang tính chất hành chính công quyền. Để thực hiện tốt chức năng hành pháp của Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X ghi rõ: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. Luật hoá cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương"(3). Cụ thể, chính phủ cần thực hiện bốn nhóm quyền hạn và nhiệm vụ sau đây: - Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, đảm bảo cho toàn bộ hệ thống này hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đủ mạnh để hoàn thiện các chức năng của quyền hành pháp. - Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội. - Thống nhất quản lý hành chính nhà nước về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và đối ngoại. Thực hiện chính sách xã hội, trong đó cần quan tâm đến chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo. - Thi hành những biện pháp hữu hiệu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, xã hội và bảo vệ môi trường. c) Đổi mới các cơ quan tư pháp và thủ tục tư pháp theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trọng tâm của cải cách tư pháp chính là cải cách tổ chức và hoạt động của Toà án với quan điểm Toà án là trung tâm của hệ thống tư pháp và sự độc lập của Toà án trong xét xử là điều kiện cơ bản bảo đảm cho Toà án thực hiện vai trò của mình với tư cách cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã xác định: "Xây dựng hệ thống cơ quan tư
  10. pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người... Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”(4). Cần nghiên cứu để tiến tới tổ chức lại Viện Kiểm sát thành viện công tố; xác định lại vị trí, phạm vi thẩm quyền của các cơ quan điều tra. Cơ cấu lại tổ chức và quản lý việc thi hành án; nghiên cứu khả năng xã hội hoá các hoạt động bổ trợ tư pháp, như luật sư, công chứng, giám định tư pháp… Đổi mới mạnh mẽ pháp luật thủ tục về hoạt động tư pháp trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính... theo hướng chuyển các hoạt động xét xử của Toà án sang chế độ tranh tụng để thật sự bảo đảm quyền bình đẳng của các bên trong quá trình tranh tụng tại Toà án. d) Đổi mới chính quyền địa phương đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: "Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo"(5). Mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp cần bảo đảm sự thống nhất không gian kinh tế và không gian pháp lý. Quyền tự chủ của chính quyền địa phương phải đặt trong sự quản lý của Trung ương về thể chế và chính sách vĩ mô. Mỗi cấp chính quyền là một bộ phận cấu thành của hệ thống hành chính nhà nước thống nhất. Do đó, không thể coi việc đảm bảo quyền tự chủ của chính quyền địa phương như là sự thoát ly, tách rời khỏi Nhà nước Trung ương và không thể làm phát sinh tình trạng cát cứ, cục bộ địa phương, không để tạo ra sự đối lập lợi ích giữa địa phương và Trung ương. Đổi mới, cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải gắn liền với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở các cấp địa phương.
  11. e) Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh những mặt trưởng thành, đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều mặt yếu kém, điều có tính phổ biến là còn thiếu tính chuyên nghiệp. Do vậy, nhiệm vụ hiện nay cần quan tâm trước hết là xây dựng và áp dụng chức danh, tiêu chuẩn của các loại cán bộ công chức trong bộ máy hành chính, các tổ chức sự nghiệp. Tiến hành phân cấp quản lý biên chế hành chính, biên chế sự nghiệp nhà nước và thực hiện cơ chế quản lý mới đối với biên chế sự nghiệp, thực hiện cơ chế hợp đồng đối với biên chế sự nghiệp để tạo quyền tự chủ về nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu công chức, viên chức cho các đơn vị sự nghiệp. Đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, chuyển từ phương thức xét tuyển sang phương thức thi tuyển để lấy người có trình độ vào làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời chú ý đến các vùng sâu, vùng xa, đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên cần có những vận dụng phù hợp trong tuyển dụng. Đội ngũ cán bộ, công chức luôn giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với toàn bộ xã hội. Ngoài trình độ chuyên môn, đội ngũ cán bộ công chức phải tận tuỵ phục vụ nhân dân mà tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn toả sáng trong cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" do Đảng ta phát động và đang được toàn Đảng, toàn dân hưởng ứng. Thiết nghĩ, đây là dịp tốt để mọi cán bộ, công chức, viên chức liên hệ vào công việc của mình đang đảm nhiệm, tạo chuyển biến tốt để phục vụ nhân dân một cách thiết thực thì chắc chắn, Đảng và Nhà nước ta tăng thêm được uy tín của mình đối với nhân dân. Đó cũng là cách thức tốt nhất để nhân dân góp phần thiết thực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.r (*) Giáo sư, Viện sĩ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. (1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006. tr. 253.
  12. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 22. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.126 – 127. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.127. (5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.127. VĂN HÓA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VĂN HOÁ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY NGUYỄN VĂN PHÚC (*) Phân tích sự thể hiện văn hoá trong các xã hội phương Đông phong kiến và các xã hội phương Tây hiện đại, tác giả cho rằng, sự gia tăng hàm lượng văn hoá là xu thế chung của sự phát triển của quản lý nhà nước. Chính sự gia tăng hàm lượng văn hoá là nhân tố tạo nên hiệu quả của quản lý nhà nước. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, những bất cập trong quản lý nhà nước thể hiện ở cả bình diện phương thức quản lý lẫn bình diện nhân cách con người quản lý. Vì vậy, đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm hoàn thiện phương thức quản lý, nâng cao đạo đức và tính chuyên nghiệp trong hoạt động của cán bộ công chức chính là nâng cao hàm lượng văn hoá của quản lý nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay. Với sự phát triển của thực tiễn và lý luận hiện nay, văn hóa không còn bị quy giản chỉ về một số yếu tố cấu thành văn hóa, chẳng hạn, giáo dục, khoa học, nghệ thuật... Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng, là sự thể hiện và thực hiện những sức mạnh bản chất của con người trong toàn bộ các lĩnh vực hoạt động người. Do thể hiện và thực hiện những sức mạnh bản chất của con người mà văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần của xã hội và là mục tiêu, động lực của sự phát triển. Với quan niệm như vậy về phạm vi thể hiện và vai trò của văn hoá, từ Chiến lược
  13. phát triển kinh tế – xã hội 10 năm từ 2001 – 2010 đến Báo cáo Chính trị tại Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán chủ trương “nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”(1). Với tư cách một lĩnh vực, một loại hình hoạt động của xã hội, quản lý nhà nước chính là một trong những địa bàn thể hiện sức mạnh bản chất của con người, nghĩa là địa bàn thể hiện văn hoá. Đồng thời, văn hoá quản lý nhà nước là động lực, là sự đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước có hiệu quả. Với tinh thần ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý…”(2). Như chúng ta đều biết, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước vừa phụ thuộc vào phương thức quản lý (hoặc công nghệ quản lý), vừa phụ thuộc vào nhân cách (đức và tài) của các chủ thể quản lý. Vì thế, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cần phải nâng cao văn hoá của cả phương thức quản lý lẫn nhân cách người quản lý. Mặc dù chưa ý thức được đầy đủ phạm vi thể hiện và vai trò của văn hóa, nhưng không vì thế mà quản lý nhà nước trong các thời đại trước đây không ít nhiều biết đến văn hóa trong quản lý. Trong các quốc gia phong kiến phương Đông, cụ thể là Trung Hoa và Việt Nam, ở một mức độ nhất định, văn hóa đã được thể hiện khá tự giác trong quản lý nhà nước. Các nhà nước phong kiến đã sử dụng phương thức đức trị trong quản lý xã hội. Phương thức này vận hành thông qua một hệ thống những yêu cầu, những chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hoạt động của toàn bộ xã hội, và đặc biệt là hoạt động của những nhà quản lý, tức những bậc đế vương, quan lại các cấp. Hệ thống những chuẩn mực đức trị chính là hệ chuẩn mực Nho giáo với Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín... Tương ứng với các chuẩn mực đạo đức đó là nhân cách đạo đức, các phẩm chất đạo đức cá nhân của các nhà quản lý. Vua sáng, tôi hiền, những vị quan phụ mẫu là những tấm gương sáng cho mọi người noi theo... Trong tinh thần ấy, văn hóa của quản lý nhà nước trong các quốc gia Nho giáo đã được thể hiện. Cố nhiên, văn hoá này phản ánh và bảo vệ một trật tự kinh tế xã hội trì trệ. Bởi thế, tác động của nó tới sự phát triển xã hội là rất hạn chế. Hơn nữa, không phải lúc nào các nhà quản lý cũng gương mẫu thực thi đức trị. Nhưng dù sao, sự thể hiện và thực hiện văn hóa quản lý Nho giáo đã góp phần tạo nên cả một thời đại phong kiến phương Đông về cơ bản là ổn định và trường trị; cho dù sự trường trị ấy càng về sau
  14. càng mang nặng tính trì trệ. Tiến trình phát triển của quản lý nhà nước ở phương Tây hiện đại cũng cho thấy vai trò của văn hoá trong quản lý và xu thế gia tăng hàm lượng văn hóa trong quản lý. Trước những năm 30 của thế kỷ XX, thường người ta mới chỉ biết đến văn hoá của phương thức quản lý. Đó là việc sử dụng pháp luật nghiêm minh, hợp lý hóa, tinh giản bộ máy tổ chức; chú ý giải quyết một cách hợp lý quan hệ giữa trách nhiệm và quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi, kỷ luật và khen thưởng... ; đồng thời, xem việc giải quyết tốt các vấn đề đó là động lực thúc đẩy quản lý nhà nước. Việc chỉ biết đến các động lực có tính quy phạm, pháp lệnh lạnh lùng tuy có đem lại những hiệu quả nhất định nhưng không phát huy được tối đa tính tích cực xã hội của con người, của nhân viên, cấp dưới... Nghĩa vụ và quyền lợi, kỷ cương, kỷ luật và khen thưởng là những kích thích tố từ bên ngoài; chúng chỉ phát huy được tối đa tác dụng khi được chuyển hoá thành sức mạnh bên trong của các chủ thể quản lý. Trong trường hợp này, phương diện văn hóa và sự bộc lộ nó trong quản lý nhà nước cũng như vai trò động lực của nó còn hạn chế. Từ sau những năm 30 của thế kỷ XX, trong khi vẫn coi trọng tính quy phạm, kỷ cương, người ta bắt đầu chú ý đến vấn đề con người trong quản lý. Ngoài sự coi trọng hiệu quả công việc, coi trọng kiểm tra, kiểm soát, những nhà quản lý còn đồng thời quan tâm đến con người, đến nhân viên, cấp dưới, cố gắng khơi dậy tính tích cực, chủ động của họ trong công việc. Trong thời kỳ này, học giả Maikeleike với lý thuyết X, Y nổi tiếng cho rằng, cơ sở của quản lý nhà nước truyền thống là lý thuyết X. Lý thuyết X dựa trên một quan niệm sai lầm là, con người bẩm sinh vốn đã vô trách nhiệm và không thích làm việc; vì thế, trong quản lý nhà nước cần phải có một cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động của con người. Đối với lý thuyết Y, bản chất con người không phải là lười biếng và vô trách nhiệm. Nếu biết kích thích tính thiện ở con người thì tự họ sẽ biết phải hành động như thế nào để hoàn thành tốt chức trách. Vì thế, cần thực hiện quản lý một cách dân chủ, công khai, tin tưởng ở đồng sự, cấp dưới, ủy quyền một cách thích đáng, phát huy hết thế mạnh, tiềm năng của con người... Với việc tính đến tính tích cực xã hội của con người, nhân tố văn hóa trong quản lý nhà nước đã được thể hiện một cách tự giác hơn; do đó, hiệu lực
  15. và hiệu quả của quản lý nhà nước cũng được nâng cao hơn. Từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, khoa học quản lý nhà nước cũng như thực tiễn quản lý nhà nước ở phương Tây đã đạt được bước tiến mới. Vào thời kỳ này đã xuất hiện lý thuyết Z của W. Danei. Lý thuyết Z cho rằng, các lý thuyết X, Y có những giá trị và vai trò nhất định trong quản lý nhưng đều tỏ ra phiến diện. Con người không hoàn toàn tốt cũng không hoàn toàn xấu; mỗi con người cụ thể có những điểm mạnh, điểm yếu cụ thể. Bởi thế, trong quản lý không nên sử dụng một hoặc một số biện pháp nhất loạt như nhau đối với tất cả mọi người trong tất cả các tình huống, các điều kiện. Tùy lúc, tùy nơi, tùy người mà chú ý đến kiểm tra, kiểm soát, kỷ luật hoặc khen thưởng động viên... Lý thuyết này đã ảnh hưởng lớn đến quản lý nhà nước trong điều kiện của xã hội hiện đại(3). Như vậy, trong quản lý nhà nước, vấn đề con người trong bộ máy quản lý đã được quan tâm ngày một đầy đủ hơn. Đây chính là một phương diện quan trọng trong văn hóa của quản lý nhà nước. Cùng với lý thuyết Z, trong quản lý nhà nước ở phương Tây hiện đại, các thành tựu của khoa học - công nghệ đã được sử dụng ngày càng nhiều, khiến cho hiệu lực và hiệu quả của quản lý ngày càng gia tăng. Việc áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ (tin học hóa, xây dựng chính phủ điện tử…) đang trở thành trung tâm chú ý của cải cách hành chính nhằm tiết kiệm nhân lực, tài lực và nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước. Không chỉ khoa học - công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn cũng được áp dụng ngày một tích cực hơn trong quản lý nhà nước. Nhờ vậy, hoạt động quản lý nhà nước không tự giới hạn ở việc chỉ dựa trên những hiểu biết về các nguyên lý và những quy tắc mang tính công nghệ thuần túy. Trong thực tiễn, người ta nhận thấy rằng, hiệu quả của quản lý nhà nước không chỉ phụ thuộc vào phương thức, công nghệ quản lý mà còn phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách các nhà quản lý. Nhân cách nhà quản lý biểu hiện không đơn giản chỉ ở những hiểu biết và khả năng “vận hành” công nghệ quản lý của họ. Nó còn được biểu hiện ở sự quan tâm đến cấp dưới, nhân viên trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho họ làm việc cũng như cho cuộc sống và gia đình của họ; điều đó có tác dụng rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý. Nhân cách nhà quản lý còn biểu hiện ở những phẩm chất cá nhân, đặc biệt là sự nêu gương trong công việc
  16. cũng như trong đời tư. Chính những điều đó có tác dụng rất lớn đối với việc động viên ý thức trách nhiệm, tinh thần làm việc của cấp dưới, nhân viên. Không chỉ thế, trong quản lý nhà nước, người ta còn nhận ra vai trò của các nhân tố khác, như kinh nghiệm cá nhân, kỹ năng, linh cảm, trực giác, cảm hứng sáng tạo của nhà quản lý; đó là những nhân tố cấu thành “năng lực sáng tạo theo quy luật cái đẹp” của các nhà lãnh đạo, quản lý, là nghệ thuật quản lý. Như vậy, quản lý nhà nước được nhìn nhận và tiến hành vừa như một khoa học, vừa như một nghệ thuật. Sự thống nhất giữa phương diện khoa học và phương diện nghệ thuật trong quản lý nhà nước làm cho văn hóa của quản lý nhà nước được thể hiện và thực hiện ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn; đồng thời nhân lực, vật lực, tài lực được tiết kiệm, hiệu quả của quản lý nhà nước được gia tăng. Ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới, phương diện văn hóa của các hoạt động phát triển xã hội nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nói riêng chưa được quan tâm đúng mức. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, xã hội mang nặng tính khép kín, đời sống xã hội bị chi phối nặng nề bởi các yêu cầu chính trị và luân lý, ... không đòi hỏi cao và không tạo ra một hệ thống quản lý nhà nước năng động. Ngày nay, sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đặt ra yêu cầu chuyển biến toàn diện xã hội từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp; từ xã hội khép kín chuyển thành xã hội mở cửa, giao lưu; từ xã hội mang nặng tính luân lý, chính trị sang xã hội công dân, nhà nước pháp quyền. Những yêu cầu to lớn đó đặt ra trước quản lý nhà nước hàng loạt các vấn đề cần giải quyết. Đó là các vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tích lũy nhanh nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế, mở rộng đầu tư, chuyển giao công nghệ; xóa đói, giảm nghèo; khắc phục tình trạng phân phối thu nhập quá bất bình đẳng, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; cùng hàng loạt các vấn đề khác, như bảo vệ môi trường, kế hoạch hóa dân số, phát triển đời sống văn hóa cho nhân dân lao động... Chính những điều đó đòi hỏi phải mở rộng và gia tăng phương diện văn hóa của quản lý nhà nước. Trong những năm qua, hoạt động quản lý nhà nước ở nước ta đã có những cải cách
  17. nhằm thích ứng với yêu cầu mới; “hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường một bước”(4). Tuy vậy, như đánh giá của Đảng tại Đại hội X, “Bộ máy nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Những yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước chậm được khắc phục”; “Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ, công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hóa, biến chất. Dân chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan giải quyết công việc cho dân và doanh nghiệp. Bộ máy chính quyền cơ sở nhiều nơi yếu kém”(5). Để khắc phục tình trạng đó, cần phải đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, làm cho cải cách hành chính đi vào thực chất, nâng cao hàm lượng văn hoá của quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng “cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu”(6) như hiện nay. Mục tiêu của cải cách hành chính phải nhằm vào việc xây dựng được một hệ thống quản lý nhà nước đủ mạnh trên các phương diện duy trì trật tự, động viên xã hội, đổi mới chính sách; các quyết sách phải được khoa học hóa, các quá trình tổ chức, thực thi phải mang tính chuyên nghiệp, đồng bộ và mang tính nghệ thuật cao... Điều đó cũng có nghĩa là gia tăng hàm lượng văn hóa cho hoạt động quản lý nhà nước. Như đã chỉ ra, văn hóa của quản lý nhà nước thể hiện cả trên phương diện phương thức quản lý lẫn trên phương diện nhân cách của những người hoạt động trong lĩnh vực quản lý. Vì vậy, đối với phương thức quản lý, cần phải có những cải cách, đổi mới cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu của tình hình hiện nay. Những đổi mới đó phải nhằm vào những vấn đề chủ yếu sau: Thứ nhất, cần có cơ chế tăng cường hơn nữa chức năng hiệp đồng của bộ máy hành chính các cấp. Do xu thế gia tăng chức năng của quản lý nhà nước trong điều kiện hiện đại, do sự gia tăng quyền tự quyết của chính quyền ở các địa phương, các ngành nên yêu cầu tăng cường chức năng hiệp đồng nhằm phối hợp giải quyết những vướng mắc, những mâu thuẫn về quyền hạn, trách nhiệm trong quản lý luôn là vấn đề cần giải quyết.
  18. Thứ hai, tinh giản bộ máy là yêu cầu có tính thường xuyên của cải cách hành chính. Nó góp phần tiết kiệm nhân lực, tài lực. Cố nhiên, sự tinh giản này đòi hỏi nâng cao nhân cách, năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức. Thứ ba, thu hẹp phạm vi hành chính của chính phủ, đẩy mạnh xã hội hóa những lĩnh vực mà chính phủ quản lý kém hiệu quả. Thứ tư, đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào quản lý, xây dựng chính phủ điện tử, áp dụng các thành tựu của khoa học quản lý, khoa học nhân văn... Thứ năm, thực hiện dân chủ hóa hành chính, tăng cường sự tham gia dân chủ vào quản lý trong nội bộ các cơ quan hành chính; đồng thời, thu hút các đoàn thể xã hội, quần chúng nhân dân thuộc mọi giới tham gia vào quản lý hành chính, thông qua trưng cầu dân ý, phản biện xã hội... Tất cả những cải cách như vậy là nhằm nâng cao hàm lượng văn hoá cho phương thức quản lý nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước. Cùng với cải cách, đổi mới phương thức quản lý là vấn đề con người, chủ thể của quản lý nhà nước. Đào tạo những nhà quản lý, đội ngũ công chức có văn hóa cao là đòi hỏi có tính quyết định đối với việc nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước hiện nay. Thực ra thì phương thức (hoặc công nghệ) quản lý với con người quản lý là hai phương diện thống nhất một cách hữu cơ trong quản lý nhà nước. Sự đổi mới phương diện này đòi hỏi đổi mới phương diện kia và ngược lại. Trong điều kiện hiện nay, những yếu kém, bất cập về nhân cách cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước thể hiện cả trên bình diện đạo đức lẫn trên bình diện chuyên môn. Trên bình diện đạo đức, sự yếu kém trong rèn luyện đạo đức và do đó, khả năng nêu gương yếu kém là điều đáng quan ngại nhất. Chính điều đó ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của quản lý nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề này. Khi suy ngẫm về nhân cách và ảnh hưởng của nhân cách Lênin đối với các dân tộc châu Á, Hồ Chí Minh viết: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người Thầy, đã ảnh hưởng lớn lao
  19. đến các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không có gì ngăn cản nổi”(7). Người thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, “Tốt nhất là miệng nói tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”(8). Vì vậy, đẩy mạnh hơn nữa Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhà nước là một trong những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài nhằm nâng cao hàm lượng văn hóa của quản lý nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước. Trên bình diện chuyên môn, biểu hiện yếu kém, bất cập nổi bật hiện nay là tính thiếu chuyên nghiệp. Cụ thể là, vẫn còn những người lãnh đạo, quản lý một lĩnh vực hoạt động xã hội mà chưa được đào tạo về chuyên môn đủ để đảm bảo cho công tác lãnh đạo ở lĩnh vực đó. Ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng, một người muốn lãnh đạo ngành hỏa xa thì phải học về ngành đó. Đối với đội ngũ công chức, tình trạng làm trái ngành nghề hoặc đúng ngành nghề nhưng trình độ chuyên môn không đáp ứng yêu cầu vẫn còn là hiện tượng phổ biến. Trong những năm gần đây, việc tổ chức thi tuyển công chức tuy đã được thực hiện, nhưng hiệu quả chưa cao. Cần nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệpcủa các nhà quản lý và công chức hoạt động trong bộ máy quản lý nhà nước; tính chuyên nghiệp thể hiện cả ở việc có đủ tri thức chuyên môn, kỹ năng, sự thành thạo khi giải quyết các công việc chuyên môn lẫn ở tác phong, ở quan hệ giao tiếp, ứng xử... Tất cả những điều đó biểu hiện văn hóa, sức mạnh bản chất người, “năng lực sáng tạo theo quy luật cái đẹp” của đội ngũ cán bộ, công chức; chúng góp phần tạo nên hiệu quả của quản lý nhà nước. Tóm lại, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao văn hoá của quản lý nhà nước là một trong những nhiệm vụ vừa cấp thiết, vừa lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong điều kiện nước ta hiện nay./. (*) Phó giáo sư, tiến sĩ triết học, Trưởng phòng Đạo đức và Mỹ học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. (1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 213. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.213.
  20. (3) Xem: Hành chính học và những vấn đề cải cách hành chính. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, tr. 26 – 29. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr.160. (5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 174 – 175. (6) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.174. (7) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.295. (8) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.333. CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC: TỪ QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN ĐẾN SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI NGUYỄN VĂN THỨC (*) Bài viết đã luận giải để làm rõ thêm những tư tưởng của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước với tính cách “khâu trung gian”, “phòng chờ” đi vào chủ nghĩa xã hội. Từ đó, tác giả khẳng định sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trên cơ sở phân tích một số điểm khác biệt về điều kiện phát triển của nước ta hiện nay so với Liên Xô những năm 20 của thế kỷ trước. Tác giả tin tưởng rằng, nếu vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước một cách khoa học, chúng ta không những sẽ bắc được “cây cầu nhỏ”, mà còn có thể bắc được “cây cầu lớn vững chắc, hiện đại” đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau hơn 20 năm, bắt đầu từ năm 1986, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu này chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Chủ nghĩa tư bản nhà nước xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX và hiện nay, vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển khá mạnh ở nhiều quốc gia. Ở miền Bắc nước ta, chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức công ty hợp doanh cũng tồn tại từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX nhưng chỉ ít năm sau đó, đã bị thủ tiêu.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản