intTypePromotion=1

Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới

Chia sẻ: Nguyễn Thùy Dung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:31

0
171
lượt xem
57
download

Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên thế giới, hầu hết các nước đều sử dụng các công cụ của CSTT (công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, công cụ tái cấp vốn, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng); hoặc chế độ tỷ giá hối đoáilàm mục tiêu trung gian trong điều hành CSTT quốc gia. Tuy nhiên, vào những năm 1990, có một số nước công nghiệp phát triển đã 'phá lệ' truyền thống trong việc xây dựng các mục tiêu trung gian tương tự mà tập trung tâm điểm vào chỉ số lạm phát....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới

  1. Tiểu luận Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới
  2. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Mục Lục A.GIỚI THIỆU CHUNG: ..........................................................................................................3 B.NỘI DUNG CHÍNH: ..............................................................................................................3 I. Sự khác nhau giữa các nền kinh tế mới nổi và nền kinh tế tiên tiến, đặc điểm của nhưng nền kinh tế mới nổi: ...................................................................................................................3 II. Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới: ............................................4 1. LPMT là gì? ...........................................................................................................................4 2. Đối tượng nào áp dụng LPMT và làm như thế nào? .............................................................4 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến LPMT. .........................................................................................7 4. Các nước đã thực hiện LPMT như thế nào?........................................................................ 12 III. Các lỗi mắc phải trong quá trình thực hiện, xem xét lại vấn đề thiết kế hoạt động: ......... 13 1. Sự tương tác giữa thời gian mục tiêu, độ rộng phạm vi mục tiêu, điều khoản giải thoát và sự lựa chọn mục tiêu lạm phát cơ bản: .................................................................................... 13 2. LPMT trong giai đoạn chuyển tiếp từ lạm phát cao xuống lạm phát thấp:.......................... 14 3. Những ai nên đặt mục tiêu lạm phát trong trung hạn: ........................................................ 16 4. Vai trò của tỷ giá và giá các loại tài sản khác: ..................................................................... 18 IV. Những vấn đề chưa được giải quyết: ................................................................................. 21 1. Mục tiêu lạm phát dài hạn tối ưu:........................................................................................ 22 2. Mục tiêu mức giá với mục tiêu lạm phát: (price-level versus inflation targets).................... 25 C. SAU MỘT THẬP KỶ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI, VẤN ĐỀ LPMT Ở VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO? ..................................................................................................................... 27 I.Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia mới nổi: ................................................................... 27 II. Tìm hiểu về lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2000- 2010:........................................... 28 III. Lam phát muc tiêu năm 2011 là 7%, khó thực hiện được: ................................................ 30 IV.Những điều kiện không thuận lợi để điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế lạm phát mục tiêu ở Việt Nam: ............................................................................................................... 31 V.Kết luận: ............................................................................................................................... 32 Trang 2 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  3. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 A.GIỚI THIỆU CHUNG: Trên thế giới, hầu hết các nước đều sử dụng các công cụ của CSTT (công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, công cụ tái cấp vốn, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng); hoặc chế độ tỷ giá hối đoái làm mục tiêu trung gian trong điều hành CSTT quốc gia. Tuy nhiên, vào những năm 1990, có một số nước công nghiệp phát triển đ ã ''phá lệ'' truyền thống trong việc xây dựng các mục tiêu trung gian tương tự mà tập trung tâm điểm vào chỉ số lạm phát. Cách tiếp cận tương đối mới này tập trung vào kiểm soát lạm phát, và được gọi là LPMT (Inflation targeting). Từ những đợt khủng hoảng trầm trọng và những tiêu cực do lạm phát mang lại, hầu hết các quốc gia đã nhận thức rõ được 1 điều: muốn đạt được mục tiêu cuối cùng là một nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững trong tương lai thì mục tiêu lớn nhất của CSTT là phải ổn định giá cả trong dài hạn, và dường như chiếc neo tốt nhất để ổn định giá cả trong dài hạn chính là duy trì một mức độ LPMT hợp lý. Trong thời gian đầu thực hiện LPMT, chắc chắn các quốc gia sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách. Bởi vì muốn duy tr ì một mức độ LP thấp, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với một nền kinh tế với tỷ lệ thất nghiệp là tương đối cao. Điều này sẽ gây mất lòng tin của dân chúng đối với các chính sách của NHTW sau này. Vượt qua những khó khăn đó, trong vòng 1 thập kỷ 1990- 2000, hàng lo ạt các quốc gia của các nên kinh tế mới nổi đã áp dụng chính sách LPMT và đat được những thành quả nhất định. Trong bài nghiên cứu của Frederic S. Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel về “1 thập kỷ thực hiện MTLP trên thế giới”, 2 ông đã chứng minh những nhận định trên là hoàn toàn đúng. Các nội dung trong bài viết của chúng tôi đều xuất phát từ những nghiên cứu thực nghiệm của Frederic S. Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel về “1 thập kỷ thực hiện MTLP trên thế giới, những gì chúng ta biết và những gì chúng ta cần phải biết.” B.NỘI DUNG CHÍNH: I. Sự khác nhau giữa các nền kinh tế mới nổi và nền kinh tế tiên tiến, đặc điểm của nhưng nền kinh tế mới nổi: Trong bài viết này chúng ta chỉ xét đến những khác biệt về các thể chế trong chính sách kinh tế vĩ mô từ đó phân tích những tác động của nó đến chính sách LPMT (theo Mishkin v à cộng sự 2004). Đối với các nền kinh tế mới nổi, tồn tại một số điểm khác biệt lớn cần được xem xét, cân Trang 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  4. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 nhắc để có được những lý luận thuyết phục hay những đề xuất về chính sách có hiệu quả bao gồm: - Thể chế tài khóa, tài chính yếu kém. - Thể chế tiền tệ với uy tín thấp. - Tồn tại vấn đề thay thế tiền tệ (currency substitution) và đô la hóa tài sản nợ. - Dễ bị tổn thương khi luồng vốn đột ngột chảy ra (rút vốn bất ngờ) II. Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới: 1. LPMT là gì? Về bản chất, mục tiêu lạm phát gắn liền với chỉ số lạm phát. Do đó, việc hình thành mục tiêu lạm phát hàm ý xây dựng một chỉ số lạm phát cụ thể. Vấn đề đặt ra là LPMT được định nghĩa và cách xác định như thế nào? Chính sách mục tiêu lạm phát đòi hỏi phải được công bố về một chỉ số lạm phát và được xem như mục tiêu ổn định giá cả trong những năm tiếp theo. Theo wikipedia LPMT là một chính sách kinh tế mà trong đó, một NHTW dự toán và đưa ra một tỷ lệ lạm phát và sau đó cố gắng để chỉ đạo đối với mục tiêu lạm phát thực tế thông qua việc sử dụng các thay đổi lãi suất và các công cụ tiền tệ khác. Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác về LPMT. Theo NHTW Châu âu ECB, LPMT là một chiến lược CSTT nhằm duy trì việc ổn định giá cả bằng cách tập trung vào độ lệch dự báo lạm phát từ một mức lạm phát đã được công bố. Họ tin rằng trong một chế độ LPMT, dự báo lạm phát là trung tâm để hoạch định và thực thi chính sách. 2. Đối tượng nào áp dụng LPMT và làm như thế nào? LPMT bắt đầu từ một thập kỷ trước, với những thông báo rộng rãi về các mục t iêu lạm phát ở New Zealand và Chile. Theo tính toán của chúng tôi, tính đến tháng 11 năm 2000 đã ghi nhận 19 trường hợp quốc gia áp dụng LPMT, và rất đa dạng về kinh nghiệm bao gồm cả những nước công nghiệp và các nền kinh tế mới nổi, và việc thay đổi và ồn định số lượng các quốc gia áp Trang 4 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  5. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 dụng LPMT, các quốc gia có LPMT chính thức và bán chính thức, các nước mới bắt đầu thực hiện hay và thực hiện trước đó, các quốc gia có LPMT cũ và hiện tại. Chúng tôi giới thiệu hai nhóm nước mà chúng tôi đã tiến hành phân t ích thực nghiệm trong thập niên 1990 - một mẫu các quốc gia có LPMT và một nhóm không có LPMT. Mẫu đầu tiên có LPMT (được liệt vào danh sách các nước có LPMT) là một nhóm không đồng nhất gồm 18 nước công nghiệp và nền kinh tế mới nổi: Australia, Brazil, Canada, Chile, Colombia, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Israel, Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Peru, Ba Lan, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thái Lan, và Vương quốc Anh (Phần Lan và Tây Ban Nha đã bị loại khỏi nhóm này khi từ bỏ CSTT vào lúc thông qua đồng euro trong năm 1999). Mẫu thứ hai là một nhóm gồm 9 nền kinh tế công nghiệp không có LPMT trong suốt những năm 1990: Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, và Mỹ. Trong số này có hai quốc gia (Đức và Thụy Sĩ) đã có những mục tiêu tiền tệ rõ ràng trong hầu hết thập niên 1990 nên có thể được xem như là quốc gia có LPMT chìm (như lập luận của ông Bernanke, Trang 5 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  6. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Laubach, Mishkin và Posen, 1999), hai nước mà không có mục tiêu rõ ràng ( Nhật Bản và Mỹ), và còn lại 5 quốc gia châu Âu đã đặt mục tiêu t ỷ giá theo đồng Mác Đức trước khi thông qua đồng euro vào năm 1999. LPMT cho thấy một số điểm tương đồng và khác biệt trong những điều kiện tiên quyết của LPMT , xác định mục tiêu, và cách thức vận hành. a. LPMT chính thức thì dựa trên năm điểm chính: không có các cái neo danh nghĩa khác, một cam kết về thể chế để ổn định giá cả, không có sự thống trị tài chính, chính sách công cụ độc lập, và một chính sách minh bạch, trách nhiệm. b. Việc thông qua LPMT là sự tiến triển từ những thay đổi nhỏ đến những thay đổi lớn. c. Lạm phát lên xuống giữa hai mức từ khá cao xuống rất thấp trong thời gian thông qua LPMT. d. Các nước có LPMT khác nhau rất nhiều trong cách thực hiện LPMT bao gồm chỉ số giá, độ rộng mục tiêu, thời gian mục tiêu, các điều khoản giải thoát, trách nhiệm khi không đạt mục tiêu, tính độc lập mục tiêu, tính minh bạch và trách nhiệm tổng thể, cũng như việc thực thi chính sách theo LPMT. Để hiểu rõ hơn phần này, chúng ta có thể quan sát bảng 2 phần phụ lục. Trang 6 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  7. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến LPMT. Liệu có phải các nước thông qua LPMT có khác với các nước công nghiệp không sử dụng LPMT về những điều kiện cơ cấu và hiệu năng nền kinh tế vĩ mô? Bài nghiên cứu sẽ giải quyết câu hỏi này bằng cách so sánh mẫu gồm 18 nước áp dụng LPMT với nhóm 9 quốc gia công nghiệp không áp dụng không áp dụng LPMT đã xác định ở trên. Bài viết tập trung vào mối quan hệ giữa có (hoặc không có) một cơ cấu LPMT đặt ra và chuỗi các đặc điểm về cơ cấu, thể chế, nền kinh tế vĩ mô. Các phân tích thực nghiệm ở đây tất yếu chỉ mới là những nghiên cứu sơ bộ bởi vì không phải luôn luôn dễ dàng để quyết định xem có nên phân loại một quốc gia nào đó có cam kết thực hiện LPMT hay không. Hơn nữa, việc xác định ngày chính xác để thông qua một chế độ LPMT cũng khá khó khăn. Các quan chức tại nhiều NHTW mà chúng tôi đã tham khảo ý kiến thường xuyên đưa ra ngày thông qua LPMT sớm hơn bên ngoài làm. Sự không chắc chắn của việc xác định ngày tháng thường theo sau từ thực tế là LPMT được thông qua dần dần theo thời gian, làm cho việc xác định ngày thông qua đó vô cùng khó khăn. Trong bài nghiên cứu, Frederic S. Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel đã thu tập dữ liệu gồm 1 mẫu 27 quốc gia trong thời kỳ 1990 -1999. Trong đó, trọng tâm là LPMT riêng biệt, biến chế độ nhận giá trị của 1 khi chính sách LPMT được đặt ra; hoặc nhận giá trị của 0 khi CSTT khác được đặt ra; và 1 bộ các biến có thể kết hợp với sự lựa chọn LPMT theo chế độ. Bộ các biến đó bao gồm: một thước đo của việc sử dụng những chính sách truyền thống thay thế (một thước đo độ rộng dải băng tỷ giá và mục tiêu giá của CSTT), điều kiện cơ cấu (mở cửa thương mại), các thước đo về tính độc lập của NHTW (độc lập chính thức, các công độc lập, mục tiêu độc lập), và các biến kinh tế vĩ mô khác (lạm phát và thặng dư từ chính sách tài khóa). Bảng 3 gồm các báo cáo cross-country, bảng thống kê và mối tương quan giữa LPMT với các biến liên quan. Trang 7 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  8. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Dữ liệu phản ánh chênh lệch lớn ở tất cả các loại biến trong mẫu 27 quốc gia theo thời gian. Bảng mối tương quan đôi khi rất khác với bảng tương quan cross-country, kể cả trường hợp thay đổi trong các dấu hiệu. Đây là một kết quả thích hợp do độ nhiễu của dữ liệu quốc gia hàng năm - vì vậy bài viết đã tập trung vào mối tương quan cross-country. Trang 8 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  9. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Việc có 1 mục tiêu Lạm phát được đặt ra không có mối t ương quan dương đáng kể với bất k ỳ một biến riêng biệt nào và chỉ có mối tương quan nghịch đáng kể với mục tiêu tăng trưởng tiền tệ của một quốc gia (monetary growth targets- MT). LPMT có mối tương quan dương không đáng kể với độ mở thương mại (trade openness - Open), tỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP (the fiscal surplus ratio to GDP - fiscal), độ rộng dải băng tỷ giá (exchange rate band width - BW), và các công cụ độc lập của NHTW ( central-bank instrument independence - CBII), và có mối tương quan nghịch đáng kể với lạm phát chuẩn (normalized inflation - Inf), NHTW độc lập chính thức (central bank formal independence - CBFI), và t ính độc lập mục tiêu của NHTW (central bank goal independence - CBGI). Tiếp theo bài nghiên cứu đã đưa ra được các cơ sở để thành lập một mô hình xác suất đa biến cho các khả năng có một chế độ LPMT đặt ra, dựa trên những quan sát của các biến xác định ở trên. Pr (IT I ...) = f (Inf, Open, Fiscal, BW, MT, CBFI, CBGI, CBII) Trong đó: Inf: mức độ tương quan với lạm phát chuẩn (normalized inflation) Open: mở cửa thương mại (Trade openness) Fiscal: t ỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa (fiscal surplus ratio to GDP) BW: độ rộng dải băng tỷ giá (exchange rate band width) MT: mục tiêu tăng trưởng tiền tệ của 1 quốc gia (monetary growth targets) CBFI: ngân hàng TW độc lập chính thức (central bank formal independence) CBGI: ngân hàng TW độc lập mục tiêu (central bank goal independence) CBII: công cụ độc lập của ngân hàng TW (central bank instrument independence) Kết quả mô hình được thê hiện qua bảng sau: Trang 9 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  10. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Sau đây, chúng tôi xin phân tích một số yếu tố tác động đến kết quả mô hình. a. Mối quan hệ giữa LPMT với Inf: LPMT có mối tương quan dương đáng kể với mức lạm phát (chuẩn), một kết quả phản ánh rằng LPMT đã được thông qua bởi các quốc gia, trên trung bình, đã có mức lạm phát cao hơn so với nền công nghiệp không có LPMT. Thật vậy, hầu hết các nước mới nổi đã thông qua LPMT như là một công cụ để kéo lạm phát xuống mức thấp chỉ còn một con số. Hầu hết các quốc gia áp dụng LPMT bao gồm cả những uốc gia công nghiệ p và mới nổi có LPMT, đã có những tiến bộ lớn trong việc giảm lạm phát trong suốt thời gian hoặc trước hoặc sau khi thông qua LPMT. Trang 10 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  11. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 b. Tác động của chính sách tài khóa đối với LPMT: Ổn định tài khoá là điều kiện cần thiết mang tính nền tảng để kiểm soát lạm phát, cũng như đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế LPMT. Một số nghiên cứu đã đưa ra nhận định: “Chính sách t ài khoá tắc trách sẽ làm tăng áp lực đối với các cơ quan tiền tệ trong việc tài trợ để trả nợ, bởi vậy sẽ làm cung tiền và lạm phát tăng nhanh”. Nếu mất cân bằng tài khoá ở mức cao thì rốt cục sẽ làm cho CSTT trở nên phụ thuộc vào các quyết định tài khoá (cái được gọi là: sự thống lĩnh của chính sách tài khoá) và mục tiêu lạm phát hẳn là sẽ phải bị xoá bỏ hoặc thay đổi rất nghiêm trọng. Thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP: (fiscal surplus ratio to GDP) LPMT tương quan nghịch với “t ỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP”, một lần nữa một kết quả theo sau việc có một nhóm các quốc gia không áp dụng LPMT bao gồm 9 quốc gia công nghiệp, trên trung bình, thể hiện vị thế tài chính mạnh mẽ hơn so với 18 quốc gia có LPMT. Tuy nhiên, nhóm này vẫn không đạt tới mức quy ước. Mở cửa thương mại (Trade openness): Mở cửa thương mại có nghĩa là 1 quốc gia hoặc 1 nền kinh tế được phép có những giao dịch thương mại với những quốc gia hoặc với những nền kinh tế khác. Các hoạt động thương mại bao gồm: xuất nhập khẩu, đầu t ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay hoặc cho vay, nhận kiều hối từ nước ngoài… c. Tác động của CSTT đến LPMT: Độ rộng dải băng tỷ giá: (exchange rate width band – BW) Đối với nền kinh tế đang phát triển, hệ thống thường thấy là hệ thống neo tỷ giá. Trong hệ thống này, một quốc gia sẽ ấn định một mức ngang giá cho đồng tiền của mình và chỉ cho phép có những thay đổi nhỏ xung quanh mức ngang giá, chẳng hạn cộng trừ vài phần trăm so với ngang giá. Độ rộng của biên độ đó chính là độ rộng của dải băng tỷ giá. Bằng các công cụ của mình, NHTW có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối để giữ cho tỷ giá không tăng vượt qua mức sàn và mức trần này. Tuy nhiên, nếu dự trữ ngoại hối sụt giảm làm cho NHTW không có khả năng Trang 11 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  12. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 duy trì mức trần hoặc mức sàn này thì dải băng sẽ di chuyển nhưng độ rộng không thay đổi trừ khi NHTW thay đổi mức biên độ dao động. Theo kinh nghiệm của các quốc gia thực hiện LPMT trong 1 thập kỳ qua, từ mô hình Frederic S. Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel đã đưa ra kết luận: LPMT tương quan dương nhưng ít ý nghĩa với độ rộng dải băng tỷ giá. Mục tiêu tăng trưởng tiền tệ của các quốc gia: (monetary growth target) Mối liên quan giữa lạm phát và tăng trưởng tiền tệ dựa trên lượng cung tiền và lượng cầu tiền tệ. NHTW điều tiết lượng tiền trong lưu thông bằng việc mua bán các trái phiếu, hoặc thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay lãi suất chiết khấu. Nếu NHTW chấp nhận mức tăng trưởng tiền tệ cao thì đồng thời phải chấp nhận mức lạm phát cao. Chính vì vậy mà LPMT có mối tương quan nghịch và đáng kể với mục tiêu tăng trưởng tiền tệ, điều đó cho thấy một CSTT minh bạch và những mục tiêu lạm phát không thể tồn tại đồng thời. Thước đo tính độc lập của NHTW: (central bank independence measures) Thước đo tính độc lập của NHTW gồm 3 yếu tố chính: NHTW độc lập chính thức (central bank formal independence), NHTW độc lập mục tiêu (central bank goal in-dependence), và các công cụ độc lập của NHTW (central bank instrument independence). Ngân hàng TW độc lập trong việc sử dụng các CSTT có nghĩa là ngân hàng TW không được tài trợ cho việc thâm hụt ngân sách của chính phủ; các NHTW được phép lựa chọn và sử dụng các công cụ của CSTT mà không có sự can thiệp của chính phủ; đồng thời các thành viên trong hội đồng CSTT phải được độc lập, không bị tác động bởi các diễn biến chính trị bằng việc bổ nhiệm dài hạn với các thành viên này và cũng không có chuyện bãi miễn họ một cách độc đoán. 4. Các nước đã thực hiện LPMT như thế nào? Chúng tôi kết luận rằng LPMT đã chứng minh một khuôn khổ tiền tệ mới thành công mĩ mãn, cả hai sự so sánh với các kinh nghiệm trước của các nước có LPMT và liên quan đến chế độ tiền tệ thay thế được thông qua bởi một nhóm kiểm soát các nước công nghiệp rất thành công đã nằm trong hiệp định tiền tệ khác trong suốt những năm 1990. Trang 12 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  13. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 III. Các lỗi mắc phải trong quá trình thực hiện, xem xét lại vấn đề thiết kế hoạt động: 1. Sự tương tác giữa thời gian mục tiêu, độ rộng phạm vi mục tiêu, điều khoản giải thoát và sự lựa chọn mục tiêu lạm phát cơ bản: Hai thành phần chính của cơ chế LPMT bao gồm yếu tố thời gian (thời gian mục tiêu) và tính linh hoạt của mục tiêu lạm phát (độ rộng mục tiêu). + Yếu tố thời gian: Là khoảng thời gian vận hành cơ chế LPMT. Tùy vào CSTT của mỗi nước mà thời gian mục tiêu sẽ là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn… Tuy nhiên trong cơ chế LPMT, người ta thường đề ra mục tiêu lạm phát trong một khoảng thời gian ngắn cụ thể là mục tiêu lạm phát hàng năm. Không những thế, thời điểm tiến hành chính sách LPMT cũng là hết sức quan trọng và cần thiết để có thể đạt được những thành công nhất định ban đầu. + Yếu tố linh hoạt của LPMT: Độ rộng của phạm vi mục tiêu cũng là một thành phần hết sức quan trọng trong cơ chế này. Độ lệch khỏi mục tiêu LP là bao nhiêu để phản ứng lại với các cú sốc? Mục tiêu LP là một con số cụ thể hay một cái khung nhất định? Bởi vì các cú sốc có thể ảnh hưởng lên t ỷ lệ LP bất cứ khi nào, những ảnh hưởng của CSTT là không ổn định, cho nên t ỷ lệ LP thường có mức độ biến động lớn để phù hợp với CSTT. Những tính toán cho thấy, mức độ biến động trong tỷ lệ LP là tương đối cao, do đó, khung mục tiêu LP là tương đối rộng mới phù hợp với sự biến động trong tỷ lệ LP. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố thời gian và tính linh hoạt phạm vi mục tiêu, cùng với một CSTT tối ưu sẽ tạo nên sự thành công rất lớn trong việc điều hành cơ chế LPMT. Việc đề ra mục tiêu lạm phát trong thời gian quá ngắn và một mục tiêu lạm phát hẹp có thể dẫn đến sự khó kiểm soát và dẫn tới sự thất bại trong việc điều hành cơ chế LPMT mặc dù có một CSTT khá vững chắc. Trang 13 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  14. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Thời gian mục tiêu quá ngắn và phạm vi mục tiêu quá hẹp cũng có thể dẫn đến sự bất ổn của các công cụ của CSTT. Mà sự bất ổn đó thể hiện rõ nhất là sự thay đổi tỷ giá hối đoái và lãi suất (2 công cụ quan trọng của CSTT). Đặc biệt ở các nền kinh tế mở và nhỏ thì những biểu hiện đó càng rõ ràng hơn. Với một phạm vi và thời gian mục tiêu đó thì chính phủ và NHTW sẽ cố gằng điều chỉnh lãi suất và tỷ giá một cách quyết liệt để đạt được mục tiêu lạm phát đề ra. Tuy nhiên có lẽ NHTW sẽ tập trung hơn vào chính sách t ỷ giá, bởi vì t ỷ giá tác động đến lạm phát nhanh hơn so với lãi suất. Để tránh vấn đề khó kiểm soát và sự bất ổn của các công cụ của chính sách tiển tệ trong cơ chế LPMT, có 4 cách để NHTW có thể sử dụng: Đưa ra các điều khoản giải thoát để điều chỉnh LPMT trong một số trường hợp nhất định. - Sử dụng thước do lạm phát cơ bản. - NHTW có thể mở rộng phạm vi của LPMT. - NHTW có thể đặt ra mục tiêu lạm phát cho vài năm tới. - 2. LPMT trong giai đoạn chuyển tiếp từ lạm phát cao xuống lạm phát thấp: Khi lạm phát ban đầu đạt trên mức LPMT trong dài hạn phù hợp với sự ổn định giá cả, sự tín nhiệm của NHTW sẽ thấp. Thêm nữa là, vào lúc đầu khi tỷ lệ lạm phát cao (có thể nói là trên 10%), lạm phát sẽ không dễ dàng được kiểm soát bởi những nhà tiền tệ. Do đó, LPMT, để đạt được sự giải lạm phát từ một tỷ lệ lạm phát cao là một thách thức lớn. Một cách để giải quyết sự phức tạp ng ày càng tăng lên t ừ mức lạm phát cao ban đầu là thực hiện dần dần từng giai đoạn của LPMT, làm như vậy sẽ tăng dần thành công trong bước đầu sự giải lạm phát, như theo đề nghị bởi Masson (1997). Ví dụ: Mexico cũng đang thực hiện theo dần dần từng bước 1 để tiến tới LPMT bổ sung. Người có quyền lực cấp cao của ngân hàng Mexico gần đây mô tả CSTT trọng tâm của Mexico như đang là “một giai đoạn chuyển tiếp hướng đến 1 kế hoạch LPMT rõ ràng”. Những năm gần đây Mexico công khai kế hoạch lạm phát một cách dứt khoát vào lúc Bộ trưởng tài chính đệ trình lên Đại hội chương trình kinh tế của chính phủ vào năm kế tiếp. Ngân hàng Mexico vẫn tiếp tục đặt tầm quan trọng vào LPMT như là mục tiêu trọng tâm của CSTT. Năm 1999, sau lạm phát hằng Trang 14 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  15. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 năm ở 12,3% thấp hơn so với mục tiêu là 13%; lần đầu tiên NHTW công bố mức LPMT là 10% vào năm 2000 trước khi Bộ tài chính đệ trình lên Quốc hội kế hoạch kinh tế của năm. Bắt đầu tháng 4/2000, ngân hàng của Mexico đưa ra báo cáo về lạm phát, bản tài liệu về những diễn biến về lạm phát đang xảy ra và cách ngân hàng Mexico dự kiến đạt được mục tiêu lạm phát, nhưng không cung cấp dự đoán về chỉ số lạm phát và sản lượng. Trong báo cáo về lạm phát lần thứ ba, công bố vào tháng 10/2000, ngân hàng Mexico công bố mục tiêu hằng năm, điều mà tiến về mục tiêu dài hạn là 3% mà sẽ đạt được vào tháng 12/2003. Sự tín nhiệm sụt giảm dần khi lạm phát ban đầu cao vì có khả năng nhiều hơn là công chúng và thị trường không tin tưởng rằng NHTW quan tâm về việc đạt được mục tiêu đề ra nếu việc xác minh phải chờ nhiều hơn một năm trong tương lai. Vấn đề này gây ehbra một khó khăn cho NHTW trong việc thông qua MTLP trong khi mà lạm phát quá cao để chọn một MTLP với phạm vi dài hơn một năm. Việc này làm NHTW rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan do sự chậm trễ từ CSTT có khả năng lâu hơn phạm vi 1 năm. Một giải pháp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này thì chỉ rõ hướng để đưa ra LPMT với mục tiêu nhiều năm, đó là những điều mà NHTW của Brazil, Cộng hòa Czech, Mexico đã từng làm từ năm 1998. Tuy nhiên, việc chỉ rõ hướng đi của MTLP hằng năm tạo ra sự nguy hiểm mặc dù NHTW đang tiến tới LPMT trong dài hạn, có sự không chắc chắn là trong quá trình kiểm soát lạm phát tại tỷ lệ lạm phát cao, điều đó có thể l àm chệch hướng về căn bản từ hướng đi nhiều năm. Vấn đề này có thể giúp giải thích tại sao NHTW Chile không chọn chỉ rõ MTLP qua nhiều năm khi nó bắt tay vào việc tìm MTLP dưới chế độ năm 1990. Khi có sự chuyển tiếp từ cao đến thấp của lạm phát, xuất hiện lý do mạnh h ơn cho việc chấp nhận phạm vi LPMT rộng hơn để phản ánh một điều không chắc chắn của việc kiểm soát lạm phát khi mà lạm phát ở mức cao từ ban đầu. Tuy nhiên, như đã thảo luận trong tiểu mục trước, một phạm vi rộng của LPMT có thể dẫn đến vấn đề về sự tín nhiệm bởi vì chính phủ có thể sẽ sẵn sàng tán thành tất cả mức lạm phát mà tỷ lệ lạm phát nằm khoảng trên điểm giữa của phạm vi mục tiêu, nhưng dưới mức trần của phạm vi. Có một điểm mục tiêu, mặt khác, làm trạng thái này trong một phần của chính phủ ít có khả năng xảy Trang 15 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  16. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 ra. Có một điều chắc rằng chính phủ không trở nên kém quyết tam trong việc giảm lạm phát, đó là một điều đặc biệt quan trọng LPMT theo chế độ khi lạm phát cao bởi vì sự tín nhiệm quá nhiều tạm thời không ổn định trong những trường hợp này. Do đó có những tranh luận mạnh mẽ của việc chọn điểm mục ti êu trên phạm vi mục tiêu trong LPMT theo chế độ trong suốt sự chuyển tiếp từ cao đến thấp của lạm phát. Thật là thú vị, NHTW Chile chuyển đổi từ phạm vi LPMT sang điểm LPMT năm 1994 trong quá trình làm cứng lại chế độ LPMT. 3. Những ai nên đặt mục tiêu lạm phát trong trung hạn: Trong dài hạn, NHTW chính là người đặt ra và vận hành cơ chế LPMT, tuy nhiên trong trung hạn, ai là người nên thực hiện nhiệm vụ đó? Những quan điểm lập luận rằng ai l à người đưa ra người đưa ra LPMT trung hạn, “chính phủ hay NHTW”, chúng ta sẽ xem xét các lập luận khác nhau về vấn đề này. Lập luận đầu tiên cho rằng: chính phủ nên đặt ra mục tiêu lạm phát trung hạn chứ không phải là NHTW. Những người có cùng quan điểm này tranh luận rằng các mục tiêu của NHTW phải trùng hợp với mục tiêu của chính phủ để có thế nhận được sự hỗ trợ ưu đãi từ chính phủ (như hỗ trợ xây dựng dự án CSTT quốc gia, đề án phát triển hệ thống ngân hàng, xây dựng khung pháp lý thông thoáng tạo thuận lợi trong hoạt động của ngân hàng…). NHTW phải phụ thuộc vào chính phủ, được trao rất ít sự độc lập. Đôi khi NHTW chỉ hoạt động với t ư cách là cố vấn cho Chính phủ, nó không độc lập trong việc hoạch định CSTT mà những mục tiêu phải do “sự thoả thuận” giữa Bộ Tài chính và Chính phủ. Vì vậy CSTT của NHTW như là một công cụ hoạt động theo ý muốn của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, nếu chính phủ có thực hiện điều đó thì cũng là không hề dễ dàng. Nếu LPMT đang thấp, các mục tiêu trung hạn có thể sẽ rất giống với các mục tiêu dài hạn và do đó, sẽ không có xung đột giữa chúng, dễ dàng hơn cho chính phủ khi đặt mục tiêu lạm phát trung hạn. Nhưng nếu LPMT hiện nay đang xa rời với các mục tiêu trong dài hạn thì những người đặt mục tiêu trung hạn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Chiều dài của độ trễ từ CSTT đến lạm phát là một vấn đề mà các NHTW có đủ điều kiện để xác định dễ dàng hơn các chính tr ị gia. Chính vì vậy để hạn chế những khó khăn của lập luận thứ nhất, Lập luận thứ hai cho rằng nên để NHTW thiết lập các mục tiêu lạm phát trung hạn. V ì Trang 16 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  17. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 NHTW dễ tiếp cận với mục tiêu lạm phát dài hạn, có thể xác định được một cách chính xác độ trễ tác động của CSTT đến lạm phát hơn so với các chính trị gia, có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các thống kê kinh tế tài chính. NHTW cần có một mức độc lập tương đối để thực thi CSTT, mặc dù không có một NHTW nào có thể hoàn toàn độc lập khỏi sự ảnh hưởng của chính phủ. Để thực hiện yêu cầu này, quốc gia đó cần từ bỏ nguyên tắc ''ngân sách chi phối'', cũng như các vấn đề thuộc chính sách t ài khoá không được gây bất cứ ảnh hưởng nào đến CSTT. Điều này ngụ ý rằng các khoản vay từ NHTW của chính phủ phải ở mức thấp nhất (hoặc tốt nhất bằng 0) và các thị trường tài chính trong nước có đủ độ sâu để đáp ứng đủ các đợt phát hành nợ của chính phủ. Theo các nhà kinh tế học Thomas Laubach, Rick Mickin và Adam Poxen, LPMT được hiểu là một nền tảng cơ sở cho CSTT, được đặc trưng bởi việc NHTW công bố với công chúng một mục tiêu định lượng chính thức (thường là một khung phạm vi hơn là một giá trị cụ thể) cho tỷ lệ lạm phát trong một hoặc vài thời kỳ, dựa trên quan điểm ổn định giá cả là mục tiêu duy nhất của CSTT trong dài hạn. Một trong những đặc trưng về quan điểm có tác động mạnh là công khai với công chúng về những kế hoạch, mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách và trong nhiều trường hợp là cả về cơ chế truyền tải trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của NHTW trong việc theo đuổi mục tiêu. Do đó, khi đưa ra LPMT, NHTW sẽ phải chịu trách nhiệm chính thức, vô điều kiện trong việc thực hiện CSTT để đạt được chỉ số mục tiêu dựa trên chỉ số dự báo lạm phát do chính NHTW đưa ra. Như vậy khi tiếp cận với việc công bố chỉ số LPMT, ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa các quốc gia. Cơ quan công bố chỉ số LPMT có thể do NHTW tự mình công bố như Ôxtrâylia, Phần Lan, Thụy Điển và Tây Ban Nha, cũng có thể là sự thoả thuận giữa NHTW và Bộ tài chính như Canađa và Thụy Sỹ, hoặc như ở Vương quốc Anh, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm công bố và Ngân hàng của nước Anh đóng vai trò cố vấn. Cũng có một số nước, chỉ số LPMT trước tiên được NHTW thông báo và trong nhiều trường hợp do Chính phủ phê duyệt. Như vậy, ở đâu tính độc lập của NHTW càng cao thì ở đó NHTW sẽ càng phải có trách nhiệm quản trị cơ chế LPMT, bao gồm: xây dựng chỉ tiêu, công bố và thực thi. Trang 17 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  18. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Tuy nhiên cần tránh khuynh hướng cho rằng, nâng cao vai trò độc lập của NHTW nghĩa là NHTW thoát ly hoàn toàn khỏi Chính phủ. Mục tiêu cuối cùng của CSTT và cũng là mục tiêu hoạt động của NHTW là ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, cần thiết lập các quy định pháp lý về mối quan hệ giữa NHTW với Chính phủ nhằm bảo đảm hoạt động của NHTW hỗ trợ tốt cho các chương trình kinh tế của Chính phủ. 4. Vai trò của tỷ giá và giá các loại tài sản khác: a. Vai trò của tỷ giá hối đoái: Sự biến động của t ỷ giá rõ ràng là một mối quan tâm chính của các NHTW trong mục tiêu lạm phát cũng như các nước không xem lạm phát là mục tiêu chính. Thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể có một tác động lớn đến lạm phát, đặc biệt là các nước có nền kinh tế mở, nhỏ. Ví dụ: sự sụt giảm trong tỷ giá hoái dẫn đến sự gia tăng lạm phát như là kết quả của dẫn truyền từ giá nhập khẩu cao hơn và nhu cầu lớn hơn cho hàng xuất khẩu, đặc biệt trong nền kinh tế nhỏ và mở. Ngoài ra, công chúng và các chính tr ị gia quan tâm đến tỷ giá và điều này gây áp lực lên các NHTW trong việc thay đổi CSTT. Một sự tăng giá của đồng nội tệ có thể làm cho doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh, trong khi một sự sụt giảm thường được xem là một tín hiệu của sự thất bại của các NHTW. Thị trường các nước mới nổi, khá chính xác, có một mối quan tâm lớn hơn về những biến động tỷ giá. Không chỉ có một sự tăng giá thực sự có thể làm cho các ngành công nghiệp trong nước kém cạnh tranh, mà nó có thể dẫn đến thâm hụt lớn trong tài khoản vãng lai có thể làm cho các quốc gia dễ rơi vào khủng hoảng t iền tệ nếu dòng vốn vào chuyển thành dòng vốn ra. Sự sụt giảm ở thị trường các nước mới nổi đặc biệt nguy hiểm bởi vì chúng có thể gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính. Các nước này có nhiều khoản nợ của họ bằng ngoại tệ và khi đồng tiền mất giá, điều này làm tăng gánh nặng nợ nần của các công ty trong nước. Vì tài sản thường được tính bằng tiền tệ trong nước và do đó không làm tăng giá trị, kết quả là dẫn đến sự sụt giảm giá trị ròng. Sự suy giảm này được thể hiện trong bảng cân đối sau đó làm tăng lựa chọn bất lợi (adverse selection) và các vấn đề rủi ro đạo đức (moral hazard problem), dẫn đến sự bất ổn định tài chính và suy giảm một một cách rõ rệt trong đầu tư và hoạt động kinh tế. Trang 18 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  19. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Phân tích 1 số ví dụ: Chỉ số trạng thái của CSTT - Moneytary Condition Index (MCI) MCI là chỉ số kết hợp các biến số t ài chính khác nhau, đặc biệt là lãi suất và t ỷ giá hối đoái, thành một con số duy nhất. Mục đích của MCI là cung cấp những thông tin tổng quát và dễ hiểu về thị trường tài chính vào một thời điểm xác định. Ngoài ra MCI có thể dùng như một chỉ số mục tiêu ngắn hạn của CSTT, nhất là ở các quốc gia có nền kinh tế nhỏ. Ngân hàng Canada đã tiên phong xây dựng chỉ số này vào đầu những năm 1990. Chỉ số MCI còn được New Zealand sử dụng phổ biến vào cuối những năm 1990. Trên lý thuyết chỉ số này tính trên cơ sở trung bình có trọng số của lãi suất ngắn hạn thực và t ỉ giá hối đoái thực, để bỏ qua những tác động của lạm phát. Nhưng thực tế thì MCI tính bằng lãi suất ngắn hạn danh nghĩa và tỉ giá hối đoái danh nghĩa vì hai chỉ số này phổ biến và dễ tính toán hơn. Công thức tính MCI: MCIt = (rt – r0) + a2/a1 (et – e0) +100 Trong đó: rt: Lãi suất thực năm t r0: lãi suất thực năm gốc et: tỉ giá hối đoái thực năm t (e tăng tương đương nội tệ đang lên giá so với ngoại tệ) e0: tỉ giá hối đoái thực năm gốc a1, a2 được tính toán dựa vào tác động của lãi suất, tỉ giá đến tổng cầu. Và tỉ số a2/a1 nhỏ hơn hoặc bằng 1. Sự thay đổi của MCI phản ánh sự thay đổi trong CSTT giữa hai thời điểm. Nếu MCI tăng (giảm) thể hiện sự thắt chặt (nới lỏng) của CSTT. Để hiểu rõ hơn về chỉ số này và cách thức áp dụng như thế nào ở các quốc gia, chúng tôi đưa ra ví dụ về sự khác biệt trong CSTT giữa New Zealand và Úc. Tóm lại, sai lầm trong CSTT của New Zealand l à quá tập trung vào công cụ tỷ giá hối đoái; không nhận ra nguyên nhân gây nên cú sốc tỷ giá hối đoái, từ đó ảnh hưởng đến lạm phát. Trang 19 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
  20. Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3 Trong giai đoạn này là một cú sốc tỷ giá thương mại âm, New Zealand nên thực thi CSTT nới lỏng, hạ thấp lãi suất ngay từ đầu, thay vì chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất. Ngược lại, Úc ưu tiên đặt LPMT hàng đầu và một chính sách tỷ giá linh hoạt; nhận ra mấu chốt vấn đề là cú sốc tỷ giá thương mại, nên đã có những quyết định chính xác, giữ được lạm phát vẫn ở mức kiểm soát. Một ví dụ khác trong đó biến động tỷ giá đã được hạn chế là trường hợp của Chile vào năm 1998. Lúc đó Chile cũng theo cơ chế MTLP cũng bao gồm một tập trung vào việc hạn chế biến động tỷ giá bằng việc có một “dải băng tỷ giá” với một chế độ tỷ giá hối đoái cố định có điều chỉnh mà được buộc chặt vào với tỷ lệ lạm phát trong nước. Trong việc đối phó với sự kết hợp tình hình tài chính và các cú sốc trong điều kiện mậu dịch gây ra do cuộc khủng hoảng châu Á, NHTW Chile áp dụng CSTT thắt chặt và bảo vệ đồng Peso với một sự thu hẹp dải băng t ỷ giá và sự can thiệp vào thị trường ngoại hối. Khi nền kinh tế bị một cuộc suy thoái nhẹ vào cuối năm 1998, CSTT thắt chặt đã được đảo ngược khi lãi suất đã được hạ xuống và đồng peso được phép giảm giá. Độ rộng dải băng tỷ giá đã được bãi bỏ vào tháng Chín năm 1999 và đồng peso được thả nổi tự do kể từ đó. b. Vai trò của giá các loại tài sản khác: Các kết luận mà mục tiêu về t ỷ giá hối đoái có thể sẽ làm xấu đi việc thực thi CSTT cũng được áp dụng vào các giá cả tài sản khác. Rõ ràng, thiết lập công cụ CSTT để đạt những MTLP cần xem như là một nhân tố trong các biến động giá tài sản. Những thay đổi trong giá tài sản giống như thế này ở các cổ phiếu phổ thông, nhà ở hoặc trái phiếu dài hạn có những tác động to lớn lên tổng cầu và đó là những cơ chế truyền tải quan trọng cho CSTT (ví dụ, Mishkin 1996b). Tuy nhiên, việc ứng phó với những biến động giá tài sản này không thể may móc bởi vì, tùy theo tính chất của những cú sốc theo giá các tài sản, CSTT tối ưu đáp ứng theo những cách khác nhau. Hơn nữa, vì nhiều vấn đề giá tài sản, mục tiêu chỉ vào đó sẽ không tối ưu. Một NHTW cũng rất mơ hồ về các biến mục tiêu cái mà khó để kiểm soát - và rõ ràng giá tài sản như giá nhà đất và cổ phiếu rơi vào loại này. Các NHTW thường “dại dột” nếu họ thực hiện kiểm soát giá tài sản và sau đó không thể làm như vậy. Hơn nữa, khi NHTW hành động như thể họ có thể kiểm soát giá tài sản giống như thế trên các cổ phần phổ thông, công chúng thường bắt Trang 20 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản