intTypePromotion=1
ADSENSE

Tổng luận nghiên cứu tộc người và một số vấn đề về dân tộc ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu về các tộc người, bộ sách còn phản ánh sự phát triển, biến đổi của các dân tộc ở nước ta từ năm 1986 đến nay, trong đó dân tộc Kinh (Việt) lần đầu tiên được giới thiệu. Mời các bạn tham khảo chi tiết nội dung bài viết này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng luận nghiên cứu tộc người và một số vấn đề về dân tộc ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay

  1. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY PGS.TS. VƯƠNG XUÂN TÌNH* C ũng như các quốc gia đa tộc người khác, ở Việt Nam, vấn đề dân tộc có vị trí rất quan trọng, cả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Bởi vậy, sau hòa bình được lập lại ở miền Bắc không lâu, vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, ngành Dân tộc học Việt Nam đã ra đời. Từ thập niên 60 đến thập niên 70 của thế kỷ XX, với nòng cốt là Viện Dân tộc học, ngành Dân tộc học Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng. Thành tựu nổi bật của ngành trong thời gian này là thực hiện nhiều nghiên cứu, điều tra cơ bản đối với các dân tộc ở nước ta, qua đó nâng cao nhận thức về các tộc người, giúp cho việc thực hiện công tác dân tộc hiệu quả hơn. Kết quả lớn nhất của những nghiên cứu này là sự ra đời của bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam (1979) và bộ sách gồm hai tập: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978) và Các dân __________ * Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. 19
  2. tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam) (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984). Đây là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu về tộc người ở nước ta. Sau khi các công trình trên ra đời không lâu, đất nước bước vào sự nghiệp đổi mới. Từ đó đến nay, sự phát triển của ngành Dân tộc học Việt Nam và đời sống của các tộc người ở nước ta đã có nhiều đổi thay; việc nghiên cứu về đời sống các dân tộc cũng đa dạng. Tuy nhiên, trải qua gần 30 năm đổi mới đất nước (1986), ngành Dân tộc học/Nhân học của Việt Nam vẫn chưa có những tổng kết xứng tầm về việc nghiên cứu tộc người, điều đó thể hiện trong ngành chưa có những công trình phản ánh một cách tổng thể về các dân tộc ở Việt Nam trong khoảng thời gian này. Các dân tộc ở Việt Nam là bộ sách tiếp nối công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam - gồm hai tập như đã nêu. Ngoài xem xét việc nghiên cứu về các tộc người, bộ sách còn phản ánh sự phát triển, biến đổi của các dân tộc ở nước ta từ năm 1986 đến nay, trong đó dân tộc Kinh (Việt) lần đầu tiên được giới thiệu. Bộ sách được biên soạn chủ yếu dựa trên nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp với tài liệu điền dã ở một số dân tộc. I- BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 1. Bối cảnh quốc tế Kể từ khi Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu (cũ) tan rã, Chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề dân tộc trên thế giới đã có nhiều biến đổi theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. 20 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  3. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, ý thức về tộc người, quốc gia - dân tộc (Nation - State) được khơi dậy mạnh mẽ. Đó là ý thức về sự bình đẳng giữa các dân tộc, chống áp bức dân tộc trên mọi chiều cạnh; mối quan hệ giữa tộc người và quốc gia; vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa của tộc người... Ý thức ấy đã được chuyển hóa thành hành động trong chính sách, chương trình, dự án phát triển của nhiều nước, của nhiều tổ chức liên quan đến tộc người và nhóm xã hội. Sự khơi dậy của ý thức tộc người đã góp phần giữ gìn, bảo vệ văn hóa tộc người trước tác động của toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, với xu hướng giao lưu, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, các tộc người cũng có cơ hội học hỏi, chia sẻ lẫn nhau, dẫn tới bước phát triển mới trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Cùng với xu hướng tích cực, đã xuất hiện chiều hướng tiêu cực về vấn đề dân tộc. Do tác động của yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới và khu vực, mối quan hệ dân tộc ở một số nơi trở nên nóng bỏng, đặc biệt ở vùng bán đảo Ban Căng, Cápcadơ, Trung Cận Đông, Nam Á và Đông Nam Á. Tại các khu vực này vẫn đang diễn ra nhiều cuộc chiến tranh hoặc nội chiến mang màu sắc dân tộc kết hợp với tôn giáo. Một số thế lực chính trị cực đoan đã lợi dụng đặc thù về quan hệ, tình cảm, lòng tự tôn dân tộc để kích động sự nghi kỵ, hận thù và xung đột dân tộc. Các tổ chức khủng bố quốc tế cũng chủ yếu dựa vào vấn đề dân tộc, tôn giáo để chiêu tập lực lượng, đẩy mạnh hoạt động. Thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, một số thế lực quốc tế đã gắn vấn đề dân tộc, tôn giáo với vấn đề dân chủ và nhân quyền. Với luận điểm cho rằng, các dân tộc thiểu số bị mất nhân quyền, thiếu tự do, dân chủ, các thế lực này sẽ tiếp TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 21
  4. tục thúc đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc thiểu số với nhà nước, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số trong những quốc gia đa dân tộc, nhất là những quốc gia theo con đường xã hội chủ nghĩa như Việt Nam1. Trong bối cảnh chung đó, có một số vấn đề của khu vực và quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến các tộc người ở Việt Nam như: - Sự hình thành trục hành lang kinh tế của khu vực tiểu vùng sông Mê Kông, gồm: + Trục hành lang kinh tế Bắc - Nam (Côn Minh (Trung Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (Việt Nam); Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh); + Trục hành lang kinh tế Đông - Tây (Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị (Việt Nam) - Savannakhet (Lào) - 7 tỉnh Đông Bắc (Thái Lan) - Mawlamyine (Mianma)); + Trục hành lang kinh tế Nam - Nam (Băng Cốc (Thái Lan) - Phnôm Pênh (Campuchia) - Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)). Các trục hành lang kinh tế trên đều ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều tộc người ở Việt Nam, nhất là gia tăng quan hệ dân tộc xuyên quốc gia. - Việc ký kết hiệp ước biên giới hòa bình, hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia, trên cơ sở đó bảo đảm an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, thúc đẩy quan hệ mậu dịch biên giới giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử __________ 1. Xem Vương Xuân Tình: “Định hướng phát triển của Viện Dân tộc học giai đoạn 2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, Tạp chí Dân tộc học, số 5-2013, tr.4-13. 22 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  5. nước ta, biên giới được xác định rõ ràng và ổn định như hiện nay. Điều đó có tác động tích cực đến sự phát triển, song cũng đặt ra những thách thức trong quản lý quan hệ dân tộc, nhất là quan hệ dân tộc xuyên biên giới. - Chính sách dân tộc của những quốc gia láng giềng. Các chính sách dân tộc của Trung Quốc, Lào và Campuchia, đặc biệt là chính sách Hưng biên phú dân1 của Trung Quốc có ảnh hưởng nhất định đến các dân tộc ở vùng biên giới nước ta trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. - Hoạt động của các tổ chức phản động, ly khai ở nước ngoài. Một số tổ chức phản động tại nước ngoài của người Chăm, người Khơ-me, người Hmông, của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên và những tổ chức khác hoạt động ráo riết đòi tự trị, ly khai cho các dân tộc thiểu số. Những tổ chức này thường xuyên chỉ đạo, tài trợ cho các hoạt động chống phá chính quyền, chống lại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. - Các quan điểm, giá trị về tự do, dân chủ, nhân quyền của một số nước phương Tây. Trong quan hệ hợp tác phát triển liên quan đến dân tộc thiểu số của nước ta, một số nước phương Tây thường sử dụng quan điểm, giá trị về tự do, dân chủ, nhân quyền như một điều kiện. Điều đó cũng ảnh hưởng đến phạm vi, mức độ và tiến độ hợp tác, bởi có quan điểm và giá trị của phương Tây chưa được Nhà nước Việt Nam chấp nhận. __________ 1. Xem Vương Xuân Tình (Chủ biên): Văn hóa với phát triển bền vững ở vùng biên giới Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, tr.53-55. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 23
  6. 2. Ở trong nước Từ năm 1986 đến nay, có rất nhiều chính sách và sự kiện tác động tới các dân tộc ở Việt Nam. Có thể nêu một số chính sách và sự kiện chính sau đây: - Chính sách kinh tế thị trường. Chính sách này góp phần cơ bản làm xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, ngày càng gắn chặt chẽ về sản xuất và đời sống của các tộc người, kể cả ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa với thị trường vùng, thị trường quốc gia và quốc tế. - Chính sách đất đai và việc xóa bỏ mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Việc thực hiện Khoán 10 trong nông nghiệp, chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và cho cộng đồng dân cư thôn bản được thể hiện trong Luật đất đai năm 1993, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Luật đất đai sửa đổi năm 2014, cùng việc xóa bỏ mô hình hợp tác xã kiểu cũ, tái lập vị trí của thôn, bản trong hệ thống hành chính cấp cơ sở đã làm thay đổi sự phát triển trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở tất cả các tộc người của nước ta. - Chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số. Chính sách này được tập trung thực hiện trong hơn hai thập kỷ qua, trong đó chú trọng vào các vấn đề đói nghèo, giáo dục và đào tạo, y tế, cán bộ..., có liên quan đến nhiều chương trình, dự án phát triển, như Chương trình 135, 134; Chương trình 661 và Chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho các huyện nghèo, cho các dân tộc đặc biệt khó khăn, cho một số dân tộc có điều kiện phát triển đặc thù (Khơ-me, Chăm, Hmông)... Theo một thống kê của TS. Nguyễn Lâm Thành, tại vùng 24 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  7. miền núi phía Bắc, chỉ tính từ năm 2006 đến năm 2012, đã có 211 chính sách chung và chính sách đặc thù cho vùng này liên quan đến phát triển1. Bên cạnh những chính sách nêu trên, còn có những quan điểm, chủ trương, chính sách không liên quan trực tiếp đến các dân tộc thiểu số, nhưng vẫn có tác động sâu sắc tới các tộc người này. Ví dụ, quan điểm chỉ đạo về văn hóa, mà trọng tâm là giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, được thể hiện qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI). Những quan điểm chỉ đạo đó có vai trò chủ yếu trong việc tạo nên sự thay đổi lớn ở nhiều vùng dân tộc và nhiều tộc người. Trong chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số kể từ sau năm 1986, còn phải kể tới việc lập ra ba Ban Chỉ đạo ở ba vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Trưởng Ban Chỉ đạo của mỗi vùng là một Ủy viên Bộ Chính trị. Điều đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đến sự phát triển của ba vùng chiến lược này. - Di dân tự do vào Tây Nguyên. Cuộc di dân tự do ồ ạt vào Tây Nguyên của người Kinh (Việt) từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, duyên hải miền Trung và của các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc, nhất là trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã làm đảo lộn phân bố dân cư, dân tộc; làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế - xã hội của các tộc người tại chỗ ở Tây Nguyên. - Xây dựng các nhà máy thủy điện. Việc xây dựng hàng loạt các nhà máy thủy điện, đặc biệt là thủy điện Sơn La, Yaly, Đa Nhim, Lai Châu, Sê San, Sêrêpốk, Bản Vẽ... đã dẫn __________ 1. Xem Nguyễn Lâm Thành: Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.132. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 25
  8. tới việc thực hiện tái định cư cho hàng trăm ngàn đồng bào các dân tộc. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi văn hóa của các tộc người ở nhiều vùng tại Tây Bắc, Trung Bộ và Tây Nguyên1. - Bất ổn định ở Thái Bình, bạo loạn ở Tây Nguyên, Tây Bắc và những xung đột tại Tây Nam Bộ. Sự bất ổn định ở nông thôn tỉnh Thái Bình vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, ở một số nơi của người Khơ-me thuộc Tây Nam Bộ vào thập kỷ 90 và những năm 2000, và bạo loạn tại Tây Nguyên vào đầu những năm 2000, ở Tây Bắc vào năm 2011 đã tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tình hình an ninh - quốc phòng ở vùng nông thôn người Kinh (Việt) và ở ba vùng dân tộc. Bối cảnh trên cùng với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã có tác động nhiều chiều tới sự phát triển của các tộc người ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng, việc nêu lên các yếu tố đó chỉ có ý nghĩa khái quát, còn trên thực tế, có rất nhiều yếu tố khác đan xen, tác động đến các tộc người ở nước ta kể từ năm 1986 đến nay. II- VÀI NÉT VỀ NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM 1. Vai trò và lịch sử nghiên cứu về tộc người Cho đến nay ở nước ta, mặc dù Dân tộc học đã tiếp thu __________ 1. Theo tài liệu của Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, nếu chỉ tính các nhà máy thủy điện lớn trên 100MW, đến nay, nước ta đã có 8 nhà máy đang vận hành, 17 nhà máy đang xây dựng, 12 nhà máy đang chuẩn bị xây dựng và 2 nhà máy đã quy hoạch (nguồn: http://www.vncold.vn/Web/ Content .aspx?distid=112, truy cập ngày 21-8-2014). Cần lưu ý: tất cả các nhà máy này đều được xây dựng ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. 26 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  9. nhiều thế mạnh của Nhân học, thậm chí có những cơ sở đào tạo chuyển đổi mã ngành, tên gọi từ Dân tộc học sang Nhân học, song việc nghiên cứu về tộc người vẫn được quan tâm. Có hai lý do của thực trạng đã nêu: 1- Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, vấn đề tộc người có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển, kể cả trong lịch sử cũng như hiện tại; 2- Nhân học ở nước ta hiện nay chỉ là sự chuyển đổi từ Dân tộc học hay là sự mở rộng của Dân tộc học. Điều này có thể nhận thấy, ngay trong công trình Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học1, với tập hợp nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài và trong nước2 thời gian gần đây, có khoảng trên 30% bài viết lấy tộc người là đối tượng hoặc môi trường nghiên cứu. Tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển Nhân học của Khoa Nhân học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho biết: trong số 8 đề tài nghiên cứu trọng điểm của Khoa, đã có tới 5 đề tài lấy tộc người là đối tượng hoặc môi trường nghiên cứu3. Nếu nhìn rộng hơn ra thế giới, việc nghiên cứu tộc người vẫn rất được chú trọng, thậm chí có xu hướng hồi sinh và phát triển mạnh trở lại ở ngay những nước có truyền thống phát triển về Nhân học4. __________ 1. Xem Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, q.1. 2. Nhiều tác giả là người Việt Nam trong công trình này được đào tạo về Nhân học ở nước ngoài. 3. Xem Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Ngành Nhân học 10 năm xây dựng và phát triển (2002 - 2012), Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr.11-12. 4. Xem Nguyễn Văn Chính: “Dân tộc học ở Mỹ: Đặc điểm, khuynh hướng và cơ sở lý luận”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2013, tr.103-114. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 27
  10. Trong bối cảnh quan trọng của việc nghiên cứu về tộc người, thời gian qua đã xuất hiện các tổng kết, đánh giá có liên quan. Công trình ghi dấu ấn khó phai mờ, có thể nói, vẫn là bộ sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam, gồm hai tập1. Đây là kết quả chủ yếu dựa trên nghiên cứu cơ bản và điều tra, xác minh thành phần các dân tộc ở Việt Nam vào cuối những năm 60 và những năm 70 của thế kỷ XX. Đối tượng để trình bày chính là các dân tộc thiểu số của nước ta, vì thế, ngoài phần viết tổng luận về quá trình hình thành và phát triển của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, công trình đã tập trung giới thiệu về những dân tộc thiểu số ở hai miền của đất nước. Tuy nhiên, tập thứ nhất viết về các dân tộc thiểu số ở phía Bắc được xuất bản trước khi công bố bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam nên tộc danh một số dân tộc của công trình chưa thống nhất với bản Danh mục được ban hành sau đó một năm. Dẫu còn những hạn chế khó tránh khỏi, song công trình này vẫn được ghi nhận như là bộ “bách khoa thư”, phản ánh tương đối đầy đủ và toàn diện về các dân tộc thiểu số của nước ta. Ở đây, người đọc có thể tìm thấy những chỉ dẫn cơ bản và cần thiết về từng dân tộc trong cả nước. Hai công trình trên cũng là cơ sở cho các nghiên cứu của những ngành kế cận như văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nông nghiệp, kinh tế2... Đây có thể xem như cuộc tổng kết lớn đầu tiên về nghiên cứu tộc người ở nước ta, với hướng chính không phải là tổng kết việc tác nghiệp, mà là sự vận động, phát triển của các dân tộc thiểu số. __________ 1. Xem Viện Dân tộc học: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Sđd; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam), Sđd. 2. Xem Khổng Diễn: “Viện Dân tộc học”, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - 50 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003. 28 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  11. Cuộc tổng kết thứ hai nghiên cứu về tộc người, có thể được ghi nhận qua công trình Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, do Khổng Diễn - Bùi Minh Đạo chủ biên1, có sự tài trợ của Ford Foundation. Công trình này ra đời trong bối cảnh tìm hướng đổi mới cho Dân tộc học - bằng việc tiếp nhận những yếu tố tích cực của Nhân học. Để đổi mới Dân tộc học, trước hết cần có tổng kết nghiên cứu trong những năm qua và vấn đề chủ yếu của công trình là nhìn nhận việc tác nghiệp Dân tộc học, mà không bàn về các tộc người. Vì vậy, ngoài việc xem xét các lĩnh vực nghiên cứu, công trình còn quan tâm đến sự hình thành và phát triển của tổ chức và đào tạo trong Dân tộc học. Nếu nhìn sâu vào việc xem xét các lĩnh vực nghiên cứu đã nêu, ngoài những vấn đề chung (tổng quan, phương pháp nghiên cứu), công trình đã có những tổng kết của một số chuyên gia về những vấn đề như kinh tế truyền thống, nông nghiệp, sở hữu đất đai, thiết chế xã hội, hệ thống thân tộc, dân số, gia đình, luật tục, tri thức địa phương, tôn giáo, văn hóa vật chất, ăn uống, giao tiếp văn hóa, ngôn ngữ...; chỉ có duy nhất một tổng kết nghiên cứu về một tộc người cụ thể, đó là dân tộc Chăm. Những tổng kết này tuy chưa phản ánh hết sự đa dạng trong Dân tộc học Việt Nam cho đến thời điểm đó, song vẫn tạo được nền tảng nhất định cho việc đánh giá một giai đoạn nghiên cứu đã qua. Bên cạnh hai cuộc tổng kết nêu trên, còn phải kể tới các đánh giá về nghiên cứu của Viện Dân tộc học - cơ quan có nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, toàn diện về các tộc người ở __________ 1. Xem Khổng Diễn, Bùi Minh Đạo (Chủ biên): Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 29
  12. Việt Nam, vào những dịp kỷ niệm 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45 năm thành lập Viện. Đánh giá này thường được phản ánh trong báo cáo tổng kết nhân dịp kỷ niệm nêu trên của lãnh đạo Viện, công bố trên Tạp chí Dân tộc học1. Trong bối cảnh nghiên cứu về tộc người của Viện Dân tộc học còn phải kể tới một hoạt động khác cần được ghi nhận, đó là việc điều tra, nghiên cứu để xác minh lại thành phần một số dân tộc ở Việt Nam vào nửa đầu thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI. Trước tình hình có một số dân tộc muốn đổi tộc danh, những nhóm địa phương muốn tách thành dân tộc riêng, một số tộc bị ghép vào các tộc khác trước đây, nay cũng muốn tách ra, Viện Dân tộc học đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng kiến nghị về vấn đề này. Ngoài việc tổ chức tọa đàm về lý luận và phương pháp, việc điều tra, nghiên cứu đã được tiến hành ở trên 40 dân tộc và nhóm địa phương trong cả nước2. Đây có thể được coi là đợt tổng kết về một vấn đề __________ 1. Xem Bế Viết Đẳng: “15 năm nghiên cứu Dân tộc học và những nhiệm vụ hiện nay”, Tạp chí Dân tộc học, số 4-1983, tr.6-11; Bế Viết Đẳng: “Nhìn lại 20 năm nghiên cứu của Viện Dân tộc học”, Tạp chí Dân tộc học, số 1-1988, tr.9-13; Bế Viết Đẳng: “Công tác nghiên cứu Dân tộc học trong những năm qua và những nhiệm vụ trong những năm tới”, Tạp chí Dân tộc học, số 1-1994, tr.5-15; Khổng Diễn: “Viện Dân tộc học 30 năm xây dựng và phát triển (1968 - 1998)”, Tạp chí Dân tộc học, số 1-1999, tr.5-10; Khổng Diễn: “35 năm Viện Dân tộc học (1968 - 2013)”, Tạp chí Dân tộc học, số 6-2003, tr.5-10; Phạm Quang Hoan: “Viện Dân tộc học - Thành tựu 40 năm xây dựng và phát triển (1968 - 2008)”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2009, tr.6-9; Vương Xuân Tình: “Định hướng phát triển của Viện Dân tộc học giai đoạn 2013 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, Tạp chí Dân tộc học, số 5-2013, tr.4-13. 2. Xem Khổng Diễn: “Về việc xác định lại một số thành phần các dân tộc ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 4-2002, tr.51-59. 30 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  13. liên quan đến phát triển và biến đổi của các dân tộc ở nước ta. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan nên đến nay, nghiên cứu này vẫn chưa có điều kiện công bố. Cùng với những tổng kết, đánh giá nêu trên, còn phải kể đến các đánh giá, tổng kết liên quan đến việc nghiên cứu về tộc người trong công trình của một số tác giả, như về sự phát triển của Dân tộc học ở Việt Nam1; về quá trình tộc người ở Việt Nam2; về sự hình thành và phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam3... 2. Yêu cầu và bối cảnh mới trong nghiên cứu về tộc người Kể từ khi công bố bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam vào năm 1979 đến nay, trải qua gần 40 năm, Dân tộc học Việt Nam chưa có cuộc tổng kết trọn vẹn nào trong việc nghiên cứu về tộc người trên cả hai phương diện: tác nghiệp nghiên cứu và những biến đổi về kinh tế - xã hội của các dân tộc. Trong khi đó, sự đổi thay trên cả hai phương __________ 1. Xem Phan Hữu Dật: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998, tr.74-88; Nguyễn Văn Chính: “Một thế kỷ Dân tộc học Việt Nam và những thách thức trên con đường đổi mới và hội nhập”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 5 (113)-2007, tr.47-67. 2. Xem Bế Viết Đẳng: “Các quá trình tộc người ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 3-1988, tr.3-15; Phan Hữu Dật: Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.381-500; Nguyễn Văn Huy: Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học: Con đường học tập và nghiên cứu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, t.II, tr.339-369. 3. Xem Đặng Nghiêm Vạn: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Văn Huy: Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học: Con đường học tập và nghiên cứu, Sđd, tr.407-428. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 31
  14. diện ấy lại diễn ra khá mạnh mẽ, đặc biệt kể từ những năm cuối của thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI. Đây là thời điểm Việt Nam mở rộng hội nhập, chú trọng chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số và cũng là khi Dân tộc học có những đổi mới. Mặt khác, đây cũng là thời điểm vấn đề dân tộc của nước ta có những diễn biến phức tạp - trong xu hướng chung của thế giới: đó là việc diễn ra các cuộc bạo loạn hay xung đột cục bộ ở Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ, do tác động của các thế lực thù địch và phần nào cả từ mâu thuẫn nội tại chưa được giải quyết kịp thời. Tuy nhiên cần nhận rõ, sự cần thiết của việc tổng kết nghiên cứu một giai đoạn đã qua không phải chỉ để tổng kết, mà quan trọng hơn là nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới là xác định những vấn đề đang đặt ra với các tộc người ở nước ta hiện nay và xu hướng trong thời gian tới. Bởi vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, toàn diện về các dân tộc ở Việt Nam, Viện Dân tộc học đã đề xuất một kế hoạch tổng kết nghiên cứu về tộc người, được triển khai từ những năm 2012 - 2015, với sự hợp tác của các tổ chức, cá nhân nghiên cứu khác. Trong khoảng thời gian này, Viện tổ chức ba hội nghị Thông báo Dân tộc học với mục đích nêu trên và biên soạn bộ sách về Các dân tộc ở Việt Nam. Năm 2012, Viện Dân tộc học đã tổ chức Hội nghị Thông báo Dân tộc học với chủ đề: Nghiên cứu tộc người ở Việt Nam (1980 - 2012): Vấn đề chung và các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày - Thái Kađai. Đây là hội nghị đầu tiên của kế hoạch tổ chức Hội nghị Thông báo Dân tộc học trong ba năm (2012 - 2014), nhằm phục vụ cho việc tổng kết nghiên cứu về tộc người ở nước ta từ năm 1980 32 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  15. đến nay. Thời điểm xem xét vấn đề được tính bắt đầu từ năm 1980 chính là dấu mốc sau khi công bố bản Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam vào năm 1979. Hội nghị năm 2013, ngoài các vấn đề chung, đã chủ yếu xem xét những lĩnh vực nghiên cứu về tộc người của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me. Còn Hội nghị năm 2014, ngoài những vấn đề chung, còn đi sâu xem xét các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán, Tạng - Miến và Mã Lai - Đa Đảo. Nội dung chính của các hội nghị là tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về tộc người; xem xét toàn diện vấn đề tộc người, trong đó tập trung vào các khía cạnh: quá trình tộc người (quá trình phát triển nội tại và biến đổi của tộc người), quan hệ tộc người và bản sắc văn hóa tộc người. Tại Hội nghị năm 2012, Ban Tổ chức đã nhận được 74 báo cáo, trong đó có 14 báo cáo phản ánh việc nghiên cứu về tộc người của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo và nghiệp vụ liên quan đến Dân tộc học/Nhân học ở nước ta. Hội nghị năm 2013, Ban Tổ chức đã nhận được 89 báo cáo. Còn Hội nghị năm 2014, Ban Tổ chức đã nhận được 107 báo cáo. Kết quả của ba hội nghị này đã được biên tập thành kỷ yếu và chắt lọc để xây dựng các số chuyên đề, gồm các số 1, 2-2013, số 1, 2-2014 và số 1, 2-2015 của Tạp chí Dân tộc học. 3. Một số nhận diện trong nghiên cứu về tộc người kể từ năm 1986 đến nay Xem xét nghiên cứu về tộc người từ năm 1986 đến nay là một việc lớn, cần có sự tổng kết công phu, nhất là phải dựa trên cơ sở những nghiên cứu ở từng tộc người và nhóm tộc người. Bởi vậy, phần viết này chỉ là những nhận diện bước TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 33
  16. đầu, dựa trên kết quả đánh giá của Viện Dân tộc học cùng một số cơ quan làm công tác nghiên cứu và giảng dạy khác được trình bày trong các hội nghị Thông báo Dân tộc học năm 2012, năm 2013, năm 2014 và kế thừa một bài viết của tác giả Vương Xuân Tình1. Qua thống kê của Viện Dân tộc học và một số tổ chức nghiên cứu, giảng dạy hoặc công tác liên quan đến Dân tộc học/Nhân học trong cả nước, nghiên cứu về tộc người ở nước ta trong gần 30 năm qua vẫn được quan tâm. Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ ở nguồn tư liệu của Thư viện Viện Dân tộc học, cho đến năm 2012 đã có 1.667 cuốn sách liên quan đến các tộc người ở Việt Nam2. Còn trên Tạp chí Dân tộc học, đến năm 2012, số lượng bài viết có nội dung như vậy gồm 1.809 bài trong tổng số 2.062 bài đã đăng. Những công trình này phản ánh nhiều chiều về đời sống các dân tộc, đặc biệt là về những lĩnh vực của văn hóa tộc người. Tuy nhiên, qua thống kê đã nhận thấy một số bất cập, mà trước hết là sự thiên lệch trong nghiên cứu. Sự thiên lệch này biểu hiện ở ba khía cạnh: tộc người, địa bàn và vấn đề nghiên cứu. Về tộc người, hầu như các dân tộc có dân số đông, dễ tiếp cận hoặc cần quan tâm đặc biệt đến phát triển kinh tế - xã __________ 1. Xem Vương Xuân Tình: “Nghiên cứu về tộc người ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay: Bước đầu nhận diện”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2013, tr.7-14. 2. Thống kê này chưa phản ánh đầy đủ, song vẫn có thể nhận thấy, Thư viện của Viện Dân tộc học đã lưu trữ được về cơ bản những cuốn sách có giá trị liên quan đến nghiên cứu tộc người ở Việt Nam. 34 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  17. hội, an ninh - quốc phòng thường được chú trọng; còn các dân tộc có dân số ít, lại cư trú ở địa bàn xa xôi, hẻo lánh đều ít được nghiên cứu. Thống kê về sách và tạp chí xuất bản đã nêu, đều phản ánh tình trạng này: trong 32 năm, có 8 dân tộc chỉ được đề cập đến trong 1 cuốn sách (Chơ-ro, Xtiêng, Hrê, Cơ Lao, Thổ, Chu-ru). Có 5 dân tộc chỉ có 2 bài tạp chí đề cập (Co, La Chí, Lự, Pu Péo, Ơ-đu); và 3 dân tộc chỉ có 1 bài (Mạ, Rơ-măm, Brâu). Sự thiên lệch như vậy không chỉ được phản ánh ở bình diện chung của toàn ngành, mà còn ở từng cơ quan có nhiệm vụ nghiên cứu về vấn đề tộc người. Tại Viện Dân tộc học, qua 32 năm, có 12 dân tộc chưa từng được nghiên cứu (Bố Y, Pu Péo, Ngái, Hrê, Xtiêng, Bru - Vân Kiều, Tà-ôi, Co, Chơ-ro, Brâu)1. Tình trạng này cũng diễn ra tại những tổ chức có nhiệm vụ thực hiện công tác có liên quan đến các tộc người trong cả nước, như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam2. Sự thiên lệch này có nguyên nhân chủ yếu từ nguồn lực của các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu về vấn đề tộc người. Đơn cử tại Viện Dân tộc học, kinh phí nghiên cứu của __________ 1. Thống kê này được xây dựng qua xem xét 340 công trình nghiên cứu, bao gồm các đề tài cấp nhà nước, đề tài cấp bộ, dự án điều tra, đề tài cấp cơ sở (cấp viện) và các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận đại học (văn bằng 2). Số lượng trên có thể chưa đầy đủ, với nhiều lý do khác nhau. Xem Vương Xuân Tình: “Nghiên cứu về tộc người ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay: Bước đầu nhận diện”, Tlđd. 2. Xem Lưu Hùng: “Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2-2013, tr.30-36; Ma Ngọc Dung: “Công tác nghiên cứu dân tộc học tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2- 2013, tr.49-57. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 35
  18. Viện vốn đã hạn chế, lại được tập trung cho những nhiệm vụ cấp thiết, như các đề tài, chương trình cấp bộ; các dự án, chương trình điều tra và đề tài cấp nhà nước. Số kinh phí còn lại dành cho đề tài cấp cơ sở (cấp viện) không nhiều, vì vậy, đã ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức nghiên cứu cơ bản đối với các dân tộc sống tại các địa bàn khó khăn, xa xôi, cách trở về giao thông. Bên cạnh đó, có những nguyên nhân chủ quan, trong đó có việc thiếu kế hoạch tổng thể của Viện cũng như của cá nhân các nhà nghiên cứu nhằm bảo đảm mối quan tâm tới mọi tộc người. Tuy nhiên, đây cũng là tình trạng chung của tất cả các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong cả nước1. Nghiên cứu tộc người thường gắn với địa bàn, vì vậy, sự bất cập trong nghiên cứu các tộc người cũng gắn với bất cập về mối quan tâm tới địa bàn nghiên cứu. Miền núi phía Bắc và đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nhiều công trình đề cập hơn cả: trong số 1.604 bài viết đăng trên Tạp chí Dân tộc học gắn với vùng nghiên cứu, có 973 bài (chiếm 60,9%) dựa trên kết quả nghiên cứu ở hai vùng này. Trong khi đó, vùng Nam Bộ chỉ có 53 bài (chiếm 3,4%); còn lại là vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (có 568 bài viết, chiếm 35,7%). Nếu xem xét các sách __________ 1. Chúng tôi đồng tình với sự nhận diện tình trạng này của các tác giả: Lâm Bá Nam và cộng sự (2013): “Nghiên cứu và giảng dạy về tộc người ở bộ môn Nhân học”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2, tr.15-23; Lưu Hùng: “Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Tlđd, tr.30-36; Ma Ngọc Dung: “Công tác nghiên cứu dân tộc học tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Tlđd, tr.49-57, khi có ý cho rằng, những thiếu sót như vậy có phần từ sự tự lựa chọn của các nhà nghiên cứu theo kiểu dễ làm, khó tránh. 36 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
  19. đã xuất bản được lưu trữ ở Thư viện Viện Dân tộc học, việc nghiên cứu tộc người theo vùng khá cân bằng hơn khi so sánh giữa đồng bằng Bắc Bộ, miền núi phía Bắc với vùng Trung Bộ và Tây Nguyên. Theo đó, có 445 công trình (chiếm 45,6%) nghiên cứu ở vùng Bắc Bộ và miền núi phía Bắc; tương tự, số lượng ở vùng Trung Bộ, Tây Nguyên là 424 (chiếm 43,8%); còn tại Nam Bộ là 107 công trình (chiếm 10,6%). Tuy nhiên, cần lưu ý tác giả của các công trình sách thống kê nêu trên không chỉ làm việc ở lĩnh vực Dân tộc học/Nhân học, mà còn ở nhiều ngành khoa học khác, như Văn hóa học, Xã hội học, Sử học, Chính trị học1... Sự thiên lệch về vùng nghiên cứu được thể hiện rõ hơn trong kết quả nghiên cứu của những tổ chức có nhiệm vụ công tác gắn với vấn đề tộc người. Ví dụ, tại Viện Dân tộc học, có 251 nghiên cứu (chiếm 79,4%) ở vùng Bắc Bộ và miền núi phía Bắc; 52 nghiên cứu (chiếm 16,5%) ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên và 13 nghiên cứu (chiếm 4,1%) ở vùng Nam Bộ2. Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, số liệu tương ứng là: 164 (chiếm 70,4%), 64 (chiếm 27,4%) và 5 (chiếm 2,2%)3. Còn ở Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, số liệu tương ứng là: 69 (chiếm 84,1%), 11 (chiếm 3,4%) và 2 (chiếm 2,5%)4. Như vậy, sự thiên lệch về vùng trong nghiên cứu của các cơ __________ 1, 2. Xem Vương Xuân Tình: “Nghiên cứu về tộc người ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay: Bước đầu nhận diện”, Tlđd. 3. Xem Lưu Hùng: “Tình hình nghiên cứu về các tộc người ở Việt Nam của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Tlđd. 4. Xem Ma Ngọc Dung: “Công tác nghiên cứu dân tộc học tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Tlđd. TỔNG LUẬN NGHIÊN CỨU TỘC NGƯỜI… 37
  20. quan có nhiệm vụ công tác gắn với các tộc người trong cả nước là khá rõ. Dĩ nhiên, không phủ nhận việc phần lớn các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, nghiệp vụ liên quan đến Dân tộc học/Nhân học của nước ta được tập trung ở phía Bắc, song điều đó hẳn không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng mất cân đối về địa bàn được nghiên cứu như đã nêu. Việc thiên lệch giữa nghiên cứu cơ bản và phát triển của nghiên cứu tộc người cũng là vấn đề đáng lưu ý trong giai đoạn vừa qua. Với các bài đăng trên Tạp chí Dân tộc học, chỉ có 453 bài, chiếm 25% của tổng số bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề tộc người ở Việt Nam, có nội dung nghiên cứu phát triển. Còn với các sách xuất bản được lưu trữ tại Thư viện Viện Dân tộc học, nghiên cứu về phát triển chỉ có 189 tác phẩm, chiếm 11,3%. Điều đáng nói là những công trình nghiên cứu được coi là “cơ bản”, phần lớn nặng về miêu thuật, ít tham khảo lý thuyết, ít tính lý luận. Thậm chí, ngay việc miêu thuật cũng còn nhiều bất cập về kỹ năng và độ tin cậy của tư liệu thu thập được. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, vẫn nhận thấy sự nỗ lực đổi mới khi nghiên cứu về tộc người. Có thể nêu ví dụ: trong công trình Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học1, mặc dù chỉ có khoảng trên 30% số bài viết về tộc người, song các nghiên cứu đã thể hiện phương pháp và cách tiếp cận mới. Nghiên cứu ấy đề cập đến những vấn đề nóng bỏng trong đời sống các dân tộc hiện nay và không sa vào miêu thuật kiểu dân tộc chí, góp phần đổi mới cách thức nghiên __________ 1. Xem Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Sđd, q.1, 2. 38 CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM (Tập 1: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2