intTypePromotion=1

Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng công nghệ trong học tập

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
21
lượt xem
1
download

Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng công nghệ trong học tập

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài viết này, tác giả không đi sâu trình bày về lý thuyết kết nối, mà chỉ đưa ra một số khái niệm cơ bản trên bề mặt với các trích dẫn trực tiếp, các phần khác là sự phát triển của tác giả dựa vào tinh thần của lý thuyết này, cùng với khái niệm hệ sinh thái học tập và sự vận động của tri thức làm cơ sở cho các đề xuất ứng dụng công nghệ trong giáo dục, với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học trong một xã hội học tập.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng công nghệ trong học tập

  1. JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Educational Sci. 2012, Vol. 57, No. 9, pp. 68-77 TỪ LÝ THUYẾT HỌC TẬP KẾT NỐI GỢI MỞ CHO VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG HỌC TẬP Nguyễn Mạnh Hùng Trung tâm Công nghệ thông tin, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội E-mail: hungnm@hnue.edu.vn Tóm tắt. Lý thuyết học tập kết nối ra đời như là sự phát triển lý thuyết học tập trong kỷ nguyên số hóa với sự bùng nổ của tri thức dựa trên nền tảng phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu học tập động trong một thế giới phẳng và nền kinh tế tri thức. Trong bài viết này, tác giả không đi sâu trình bày về lý thuyết kết nối, mà chỉ đưa ra một số khái niệm cơ bản trên bề mặt với các trích dẫn trực tiếp, các phần khác là sự phát triển của tác giả dựa vào tinh thần của lý thuyết này, cùng với khái niệm hệ sinh thái học tập và sự vận động của tri thức làm cơ sở cho các đề xuất ứng dụng công nghệ trong giáo dục, với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học trong một xã hội học tập. Từ khóa: Lý thuyết học tập, tri thức kết nối, E-learning, hệ sinh thái học tập. 1. Mở đầu Trong khoảng vài chục năm gần đây, khi khoa học giáo dục phát triển ngày càng rõ nét hỗ trợ cho nền công nghiệp giáo dục đang hình thành, thì các lý thuyết học tập đã tập hợp lại và phát triển thành hệ thống lý luận về nhận thức luận, phương pháp luận. Các lý thuyết học tập ra đời sớm (lý thuyết học tập hành vi) hay muộn hơn (lý thuyết học tập nhận thức) hay gần đây hơn (lý thuyết học tập kiến tạo) đều xoay quanh cách thức xây dựng các hệ thống giáo dục và phương pháp giáo dục để con người - cá nhân tiếp nhận tri thức một cách tốt nhất, ở đây các tri thức (kiến thức, kỹ năng) được đóng khung tương đối rõ ràng theo từng cấp học, hình thức học phục vụ cho nhu cầu tối thượng của xã hội công nghiệp là làm việc với hiệu quả cao nhất. Nói một cách ngắn gọn, các lý luận xoay quanh việc dạy (truyền kiến thức) và học (nhận kiến thức) hiệu quả nhất cho từng cá nhân. Rõ ràng việc học tập hợp tác, giao lưu với nhau kiến thức sẽ được tăng nhanh hơn. Trong thời đại ngày nay khi công nghệ thông tin và truyền thông phát triển, thế giới trở nên phẳng hơn, điều kiện để con người có thể trao đổi thông tin, trao đổi tri thức với nhau càng được mở rộng hơn. Học tập kết nối càng có điều kiện để thực hiện. Bài báo này sẽ trình bày những cơ sở của việc học tập kết nối và phân tích những khả năng ứng dụng công nghệ trong việc kết nối tri thức, hỗ trợ cho học tập kết nối. 68
  2. Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng Công nghệ trong học tập 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Lý thuyết học tập kết nối - Học tập hướng nội dung hay học tập hướng kết nối Các lý thuyết học tập đi theo các hướng khác nhau, có thể trùng nhau ở một số mặt nhưng bổ sung và hoàn thiện cho nhau, hướng tới việc đem đến cho cá nhân con người một nền tảng tri thức tốt nhất dựa trên nội dung học tập có thể từ ngoài vào trong con người (lý thuyết hành vi), hay các quá trình học tập nội tại (lý thuyết nhận thức), hoặc theo nhu cầu/động lực thực dụng của cá nhân con người (lý thuyết kiến tạo). Để có bức tranh tổng thể về các lý thuyết học tập theo các chủ nghĩa triết học, Driscoll (2000, [3;17]) đã đưa ra một bảng các dạng của tri thức như sau: Bảng 1. Các dạng tri thức Chủ nghĩa khách Chủ nghĩa thực dụng Chủ nghĩa kiến giải quan Objectivism Pragmatism Interpretivism Chủ nghĩa kinh Nhận thức Học thuyết bẩm sinh Chủ nghĩa duy lý nghiệm luận (Nativism) (Rationalism) (Empiricism) Nguồn tri Thực nghiệm/trải Luận chứng/Suy luận Luận chứng/suy thức nghiệm và thực nghiệm luận Tri thức được diễn giải, Thực tế khách quan, Thực tại là quá trình Cách thức các thực tế đang tồn tại, bên ngoài, trải nội tại và tri thức tiếp nhận và được biểu diễn hình nghiệm bằng cảm được tạo ra thông tri thức thức bởi hệ thống ký nhận qua suy ngh hiệu và dấu hiệu Trong cá nhân con Trong cá nhân con Tri thức người, nhưng phản Trong cá nhân con người, nhưng phụ tiếp nhận ở ánh qua các hoạt người thuộc vào tình đâu? động quan sát bên huống môi trường ngoài Các nhà lý Vygotsky, Bandura, Skinner, Thorndike, Bandura, Piaget, thuyết học Bruner, Ausubel, Pavlov, Watson Bruner, Dewey tập Gadne Lý thuyết Hành vi Nhận thức/Kiến tạo Kiến tạo học tập Trong tất cả các lý thuyết học tập này, trọng tâm của việc học tập là nội dung của trí thức. Từ xưa tới nay, việc học là sự ghi nhớ/lặp lại/suy diễn các nội dung cụ thể được truyền tải từ người thày (nguồn tri thức) tới trò (người tiếp nhận tri thức). Việc học cũng có thể là từ sách vở, tài liệu, hình ảnh, các dạng hình nghệ thuật, vv (các nguồn tri thức) trong các dạng tự học, tham khảo, bổ trợ cho việc học chính thông qua các hoạt động học 69
  3. Nguyễn Mạnh Hùng tập chính thống. Nội dung là quan trọng, thế nên sách thánh hiền ngày xưa, sách giáo khoa ngày nay được coi là kinh điển, là quan trọng bậc nhất trong hệ thống giáo dục. Theo Siemens [6; 5], các quan điểm chi phối việc học tập hàn lâm là hướng nội dung, hướng cá nhân, tĩnh, và không theo tình huống sẽ là các nguyên nhân khai thác lý thuyết học tập kết nối sẽ được trình bày dưới đây. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số của vài chục năm gần đây, tri thức đã được số hóa, được công bố và quảng bá rộng rãi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng dựa trên công nghệ. Đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như Internet, mạng WWW, đã diễn ra sự bùng nổ về tri thức, theo Siemens (2004) toàn bộ tri thức đã gấp đôi trong 10 năm và sẽ gấp đôi với chu kỳ 18 tháng tiếp theo [5, tr. 1]. Vòng đời của tri thức cũng ngắn hơn, hàng loạt các tri thức trở nên lạc hậu trong một thời gian rất ngắn bởi sự ra đời của các tri thức mới tiếp nối không ngừng. Với xu hướng bùng nổ tri thức hiện nay, việc học tập sẽ phải diễn ra suốt đời, từ khi sinh ra tới khi chết đi, từ việc học ở trường lớp tới học ở nơi làm việc, học trong xã hội, vv. Các tri thức (kiến thức, kỹ năng) hàn lâm tiếp thu ở trường lớp sẽ chỉ các nền tảng căn bản của cá nhân con người, không thể chỉ dùng mãi trong cuộc đời. Thậm chí một số nội dung học tập ở các cấp học khác nhau sẽ trở nên lạc hậu, hoặc không dùng đến trong tương lai. Con người càng ngày càng thay đổi cách sống, làm việc và suy nghĩ theo sự phát triển của công nghệ. Con người hiện nay sống với Internet, với WWW, với các mạng xã hội, sử dụng Google để tìm kiếm nguồn tri thức, dùng Wikipedia để tra cứu và tiếp nhận tri thức, dùng các công cụ phần mềm để tư duy và suy nghĩ. Với các nền tảng công nghệ di động và không dây hiện nay, con người có thể truy cập vào kho tri thức khổng lồ của nhân loại bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào. Việc học tập diễn ra một cách tự nhiên, không ngừng. Với xu hướng phát triển của xã hội hóa dựa trên công nghệ/tri thức hiện nay, cá nhân con người hòa nhập với các cộng đồng, tổ chức đan xen và phức hợp, kể cả các hệ thống ảo trên Internet. Do đó việc học tập cũng mang tính xã hội hóa, hình thành các cộng đồng, tổ chức, hệ thống học tập. Tri thức được trao đổi, chia sẻ, kết nối giữa các nhóm học tập khác nhau. Vai trò người học, người thày cũng trở nên đa dạng, đa chiều hơn: người học tiếp thu kiến thức, đồng thời cũng sẽ chia sẻ, công bố tri thức của mình và trở thành nguồn tri thức cho các cá nhân/tập thể khác tham gia chung trong hệ thống học tập; người thày từ vai trò là nguồn tri thức chính (lecturer), có thể trở thành người hướng dẫn (instructor) cung cấp kết nối tới nguồn tri thức. Nhu cầu đào tạo theo tổ chức/công ty/xí nghiệp cũng trở nên mạnh mẽ và là mới mẻ với các phương thức đào tạo trước đây và các lý thuyết học tập truyền thống. Một số điểm trình bày trên là nguyên nhân dẫn tới những luận điểm mới trong lý thuyết học tập. Trong bối cảnh của sự vận động liên tục của tri thức, của kỷ nguyên công nghệ số, lý thuyết học tập kết nối ra đời như là những sự phát triển tiếp theo của ba lý thuyết học tập phổ biến nói trên. Ý tưởng ban đầu về lý thuyết học tập kết nối do George Siemens đưa ra năm 2004 [5], và được hoàn thiện hơn trong bài viết tranh luận với Plen Verhagen [7] (Siemens, 2006, [6]). Các cơ sở lý luận về triết học, phương pháp luận, nhận thức luận cho lý thuyết học tập kết nối được Stephen Downes phát triển và được tập hợp 70
  4. Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng Công nghệ trong học tập thành tuyển tập (Downes, 2012, [2]). Theo Siemens, lý thuyết kết nối mô tả mạng học tập, dựa trên các nguyên lý các hệ thống hỗn mang (chaos), hệ thống mạng (network), các hệ thống phức hợp tự tổ chức (self-organization) [5; 4]: - Học tập và tri thức dựa trên sự da dạng phong phú của các ý tưởng. - Học tập là quá trình kết nối các nút chuyên môn (tri thức) hoặc các nguồn thông tin. - Học tập có thể thực hiện trong các môi trường ngoài con người (công nghệ). - Khả năng nhận biết tiếp theo là quan trọng hơn những điều đã biết. - Khai thác và duy trì "kết nối" là cần thiết cho việc học tập liên tục. - Khả năng nhận biết sự nối kết giữa các lĩnh vực, ý tưởng, khái niệm là kỹ năng cốt lõi. - Sự cập nhật tri thức là mục tiêu của mọi hoạt động học tập kết nối. - Khả năng ra quyết định tự thân là một quá trình học tập. Chọn lựa cái gì cần học và ý nghĩa của thông tin đang tiếp cận được nhìn nhận thông qua lăng kính của thực tại chuyển dịch. Bảng 2: Tính chất của lý thuyết học tập Lý thuyết Lý thuyết Tính chất Lý thuyết hành vi Lý thuyết kết nối nhận thức kiến tạo Học diễn ra trong Mang tính hệ thống mạng, Thông qua hộp Một cách xã hội, ý được tăng cường Học tập đen - chỉ thông có cấu trúc nghĩa tạo ra bởi công nghệ và diễn ra như qua hành vi quan và dựa trên bởi từng xã hội hóa; thông thế nào sát tính toán người học qua nhận biết và (cá nhân) giải nghĩa các mẫu tình huống Sự tham Khen thưởng, Sơ đồ các gia, đăng Các yếu tố Tính đa dạng của khích lệ, hình trải nghiệm nhập, tính ảnh hưởng hệ thống mạng phạt đã có xã hội, văn hóa Nhớ là sự lặp lại Tri thức đã Các mẫu tình các trải nghiệm, Mã hóa, có kết hợp huống thích nghi, Vai trò của trong đó phần lưu trữ, với tình sự biểu diễn trạng bộ nhớ thưởng và hình phục hồi huống hiện thái hiện tại trong phạt có ảnh tại hệ thống mạng hưởng nhất 71
  5. Nguyễn Mạnh Hùng Sự truyền Nhân đôi tri thức Kích thích và cấu trúc tri Kết nối tới nút Xã hội hóa diễn ra như phản ứng thức của mạng thế nào? người biết Suy luận, Học tập phức hợp, Dạng học giải quyết trong môi trường Học tập như là Mang tính nào là tốt vấn đề, có thay đổi nhanh, các nhiệm vụ xã hội nhất? các mục nguồn tri thức đa tiêu rõ ràng dạng Bản thân kết nối quan trọng hơn nội dung. Khả năng học tập cho ngày mai là quan trọng hơn những cái đã biết hôm nay. Khả năng kết nối đúng tới nguồn tri thức cần thiết trở thành kỹ năng mạnh mẽ. Lý thuyết kết nối đưa ra một mô hình học tập với sự chuyển dịch của việc học tập không còn chỉ là các hoạt động nội tại và mang tính cá nhân ([5; 8]). Stephen cho rằng về bản chất, lý thuyết kết nối là luận điểm cho rằng tri thức vận động thông qua mạng các kết nối, do đó học tập là khả năng xây dựng và vận hành các mạng đó [3; 85]. Để làm rõ hơn các tính chất xác định một lý thuyết học tập theo Mergel (1998) [4], chúng ta có bảng so sánh sau đây (Siemens [6; 36]): Lý thuyết học tập kết nối phản ánh một xu thế học tập trong môi trường hiện đại của thời kỳ công nghệ, xã hội hóa, bùng nổ tri thức và sự đa dạng của các hình thức học tập, sự đa dạng của các nhóm người học, người dạy. Đó là học tập là sự kết nối các nguồn tri thức trên mạng (xã hội, công nghệ); học tập là quá trình định hướng kết nối thay vì định hướng nội dung. 2.2. Tri thức kết nối - Liên kết, chia sẻ, công bố, các dạng vận động của tri thức Tri thức là mục tiêu của việc học tập. Có rất nhiều khoa học giải thích bản chất của tri thức, cách biểu diễn, vv. Từ thời xa xưa, các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại, Ả rập sau đó và thời Phục hưng, đã có hai loại tri thức chính: định tính và định lượng. Với sự liên kết tới lý thuyết học tập kết nối, Stephen Downes đã đưa ra một khái niệm cho một dạng tri thức thứ ba (không phủ nhận 2 dạng trên, không tách riêng), đó là tri thức kết nối. Tri thức kết nối được mô tả mang tính phân tán, được vận chuyển tới nhiều hơn một thực thể. Tính chất của một thực thể phải dẫn đến hoặc trở thành tính chất của thực thể khác nhằm mục đích kết nối các thực thể với nhau, và tri thức-kết quả của kết nối này là tri thức kết nối [2; 299]. Như vậy, tri thức kết nối yêu cầu phải có sự kết nối/tương tác, và tri thức kết nối chính là tri thức của mối liên kết/tương tác đó [2; 299]. Khái niệm này đưa ra ý tưởng của sự vận động của tri thức. 72
  6. Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng Công nghệ trong học tập Thời xa xưa, trí thức là tài sản quý giá của một số đẳng cấp cao quý trong xã hội, ví dụ tầng lớp tăng lữ trong xã hội Ấn Độ cổ đại nhờ có kinh đạo Hindu/Phật giáo mà trở thành tầng lớp cao nhất trong xã hội bấy giờ. Các thày tế ở các xã hội khác cũng vậy do đọc được các sách kinh và thuộc các bài kinh cho các buổi tế tôn giáo. Thày giáo từ xa xưa cũng luôn được trọng vọng vì có tri thức, và dạy tri thức cho người khác. Cho đến gần đây, các nguồn tri thức có thể liệt kê ra như sau: sách vở, tài liệu lưu trữ tại nhà riêng, tại các thư viện, các loại hình văn hóa dân gian, các tri thức trong các cá nhân, đặc biệt là các thày giáo, thày tu, nhà khoa học với các tri thức chuyên ngành. Tri thức vận động thông qua chủ yếu là quá trình học tập - từ thày tới trò, từ sách vở tới người học, vv. Tri thức dạng kết nối hầu như không được đề cập tới. Sự vận động của tri thức là rất chậm, hoặc là không vận động. Do đó, sự phát triển của tổng tri thức loài người diễn ra lúc bình lặng, lúc mạnh mẽ nhưng tựu trung là chậm; như trên đã chỉ ra, 10 năm gần đây tổng tri thức nhân loại bằng cả thời gian trước đó. Vậy tại sao trong thời gian gần đây, sự phát triển của tri thức trở nên mạnh mẽ và bùng nổ? Dễ dàng thấy rằng, như phần trên đã trình bày, quá trình gấp đôi tri thức trong 10 năm gần đây diễn ra nhờ kỷ nguyên số hóa và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin (mạng Internet, WWW), dẫn đến sự kết nối tri thức để tạo ra các tri thức mới. Ngày nay, một nhà khoa học có thể tìm kiếm các kết quả nghiên cứu về một lĩnh vực nào đó rất nhanh chóng và đầy đủ chỉ dựa vào một cú nhấn chuột trong Google trên máy tính, sau đó anh có thể kết nối tới các tác giả của các kết quả để trao đổi, chia sẻ tri thức, hoặc tham gia nhóm/tập thể những người quan tâm tới nghiên cứu này trên mạng thông qua các diễn đàn mở, thông qua các mạng xã hội, các hệ thống nhóm tin, vv. Sau khi nghiên cứu và có những kết quả nhất định, anh lại có thể công bố, chia sẻ các tri thức mới của mình cũng qua các kênh kết nối trên. Quá trình này được tiếp diễn không ngừng tạo ra sự phát triển bùng nổ của tri thức. Thông qua các hoạt động như liên kết, chia sẻ, công bố, quảng bá, tri thức kết nối trong mạng giữa các cá nhân, giữa các tổ chức, giữa cá nhân và tổ chức, tạo nên sự vận động của tri thức. Sự vận động càng nhanh, yếu tố nội dung của tri thức càng trở nên ít quan trọng hơn sự kết nối, và liên kết tới nguồn tri thức. Chúng ta đa phần không cần phải quá chú ý tới việc ghi nhớ hoặc hiểu kỹ các tri thức, thay vào đó, chúng ta lại rất cần biết nguồn tri thức và các liên kết để hiểu/nhận biết khi cần thiết. Để có thể khai thác tốt nhất các tri thức kết nối, chúng ta cần phải có năng lực đánh giá các nguồn tri thức, các liên kết nào là tốt, phù hợp nhất với mục tiêu của mình. Năng lực đánh giá nhanh chóng, chính xác là kỹ năng quan trọng như các tác giả của lý thuyết học tập đã chỉ ra. Một số lĩnh vực nghiên cứu trong lĩnh vực biểu diễn tri thức như mạng ngữ nghĩa, web ngữ nghĩa (web 3.0) đã cho ra những kết quả lý thuyết, làm cơ sở cho việc ra đời các công cụ thực tế giúp nâng cao năng lực này. Trong phần 4 của bài viết này, người viết sẽ đề cập sơ lược một số giải pháp công nghệ liên quan, và là bộ phận của hệ thống học tập kết nối. 73
  7. Nguyễn Mạnh Hùng 2.3. Học tập của cá nhân và hệ sinh thái học tập (learning ecosystem) Hệ sinh thái (ecosystem) là thuật ngữ của ngành sinh vật học, nhấn mạnh sự trao đổi chất giữa các sinh vật và môi trường. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong lĩnh vực công nghệ thông tin và các lĩnh vực khác, như một hệ thống đầy đủ, với sự liên kết hữu cơ giữa các thành phần, với vòng đời và chu kỳ sản phẩm nằm trong hệ sinh thái (ví dụ Oracle Ecosystem). Bài viết này không dùng thuật ngữ Learning Ecology mà một số tác giả sử dụng để mô tả hệ thống giáo dục nói chung, mà dùng ecosystem với nhấn mạnh tới tính hệ thống và môi trường công nghệ của một hệ thống học tập. Bài viết này mô tả sơ bộ khái niệm hệ sinh thái học tập với ý tưởng của một hệ thống học tập với các mối liên kết chặt chẽ giữa các thành phần học tập với nhau, và với môi trường học tập bên ngoài (hệ sinh thái học tập lớn hơn) thông qua sự vận động của tri thức kết nối và môi trường công nghệ. Hình thức học tập đơn giản nhất và truyền thống là lớp học với 1 thày giáo và các học trò, thày giáo dạy cho học trò bằng cách quảng bá (broadcasting) tri thức tới các học trò bằng cách đọc; học trò tiếp nhận tri thức bằng cách ghi nhớ, hoặc ghi chép. Lớp học tổ chức theo từng môn học, với một học kỳ nhất định. Nguồn tri thức là tri thức của thày giáo. Hệ sinh thái học tập lớp học này bao gồm thày giáo, các học trò, tri thức của môn học. Sau này để nâng cao việc học tập của học trò, dạy một môn học, các thày giáo thêm vào các bài kiểm tra, hoặc thêm vào các tiết học thực hành hoặc buổi thảo luận giữa các học trò. Ngoài bài giảng ở lớp, thày giáo cung cấp cho học trò sách học hoặc các sách tham khảo, học trò đọc sách để thêm vào nguồn tri thức. Thày giáo cũng có thể yêu cầu từng học trò hoặc nhóm học trò viết tiểu luận và trình bày trước lớp. Tri thức ở đây được vận động nhiều hơn thông qua các kết nối, liên kết, chia sẻ và quảng bá/công bố tri thức học được. Càng về sau, các hoạt động học tập trong lớp càng được thêm vào nhằm nâng cao hiệu quả học tập của cá nhân. Hệ sinh thái học tập trường học là có mức độ phức tạp hơn nhiều, bao gồm các hệ sinh thái con là các lớp học, các thày giáo chia thành các tổ bộ môn, các học trò chia thành các lớp, thư viện sách, các hệ thống phụ trợ gồm các bài giảng mẫu, các giáo án môn học. Các kết nối có thể giữa học trò với thày giáo, giữa học trò với nhau, các lớp với nhau, giữa các thày giáo, giữa các bộ môn với nhau, vv. cùng với sự kết nối tri thức tạo ra sự vận động tri thức giúp cho hiệu quả học tập được nâng cao. Như vậy hệ sinh thái học tập bao gồm: - Các cá nhân người học, có thể đóng vai trò là người công bố tri thức. - Các nhóm người học. - Các thầy giáo, các nhóm thầy giáo với các tri thức - Các hệ sinh thái con. - Các nguồn tri thức: sách vở, tài liệu, bài giảng, vv. - Các kết nối tri thức giữa các thành phần bên trong hệ sinh thái và các kết nối ra bên ngoài với hệ sinh thái lớn hơn. - Môi trường công nghệ (tin học, truyền thông) cho việc kết nối tri thức. 74
  8. Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng Công nghệ trong học tập Với sự phát triển của công nghệ, có thêm các thành phần công nghệ giúp cho sự kết nối tri thức bên trong và bên ngoài hệ sinh thái học tập. Mở rộng khái niệm hệ sinh thái học tập, chúng ta có thể coi cá nhân học tập là một hệ sinh thái nhỏ nhất và toàn xã hội học tập là hệ sinh thái lớn nhất. Như vậy, sự học tập của từng cá nhân như là mục tiêu của các lý thuyết học tập truyền thống sẽ là bộ phận hữu cơ của việc học tập trong các hệ sinh thái học tập lớn hơn, và sự kết nối, mối quan hệ tương tác giữa cá nhân với các hệ sinh thái này sẽ nâng tầm học tập của cả cá nhân và hệ thống lên tầng cao mới. 2.4. Những gợi mở ứng dụng công nghệ trong học tập theo cơ sở lý thuyết kết nối Với sự phát triển của công nghệ thông tin mạnh mẽ trong thời gian gần đây, có rất nhiều các cách ứng dụng trong đào tạo. Một số hướng triển khai chính: - Đổi mới phương pháp giảng dạy: bản đồ tư duy, học trên mạng nội bộ hoặc trên môi trường web. - Xây dựng các hệ thống e-learning, tập trung chủ yếu vào bài giảng điện tử, giáo án điện tử, lớp học trực tuyến. - Nâng cao năng lực giảng dạy của thầy giáo với các phương pháp giảng dạy mới: mô hình Microsoft PIL, peer coaching, vv. - Các phần mềm dạy học. Bài viết không định phân tích đánh giá các hướng triển khai nói trên, mà chỉ đưa ra một số ý tưởng cho dự án cụ thể của việc ứng dụng công nghệ theo hướng tiếp cận của lý thuyết học tập kết nối, nhằm làm tăng khả năng kết nối tri thức, tăng sự vận động của tri thức. Xác định khung công nghệ cho một hệ sinh thái học tập của 1 đơn vị đào tạo: môn học của trường phổ thông cơ sở hoặc phổ thông trung học, bộ môn đại học, bao gồm: 2.4.1. Hệ thống bài giảng số hóa Hệ thống bài giảng số hóa/tài liệu học tập/câu hỏi/diễn đàn hoặc công cụ tương tác - thông qua một hệ thống e-learning 1.0 bao gồm 01 hệ quản trị học tập LMS và các thành phần trên. Hệ thống này hỗ trợ dạy học trên lớp, và tự học của người học. Khó khăn ở đây là hiệu quả sử dụng không cao với chi phí xây dựng các phần mềm bài giảng khá lớn nếu yêu cầu cao về mặt nội dung, đồng thời đòi hỏi sự tham gia về mặt chuyên môn của các giáo viên không chuyên tin là rủi ro cho sự triển khai. 2.4.2. Blog chuyên môn của giáo viên/giảng viên Công nghệ blog là một thành phần của Web 2.0 và E-learning 2.0 do Google khởi xướng, cho phép tạo ra 1 trang web cá nhân, với các bài viết liệt kê theo trình tự thời gian, hoặc theo các chủ đề. Các bài viết của các tác giả khác có thể đăng trên blog với việc cấp account do chủ blog cho phép. Người xem có thể đưa ra các phân tích, đánh giá hoặc đưa ra ý kiến thông qua các comment dưới từng chủ đề. Hình thức này thích hợp với các giáo 75
  9. Nguyễn Mạnh Hùng viên/giảng viên năng động, chủ động hoặc chủ trì về chuyên môn. Không chi phí do sử dụng phần mềm tạo lập blog miễn phí, cách tạo blog rất đơn giản. Tuy nhiên vấn đề là ở khả năng viết theo chuyên môn đòi hỏi sự nhiệt tình, và trình độ chuyên môn của giáo viên/giảng viên. 2.4.3. Hệ cơ sở dữ liệu tri thức mở về chuyên ngành của từng môn học Sử dụng công nghệ wiki để tạo ra các wiki cho các môn học. Wiki là một website có tính chất riêng tư cho một nhóm hoặc tổ chức, cộng đồng. Không giống như một website truyền thống chỉ phục vụ cho mục đích đọc, xem thông tin, wiki cho phép người dùng nó có thể soạn thảo, sửa đổi, cập nhật thông tin trực tiếp lên web theo kiểu đóng góp thông tin. Điểm đáng chú ý của wiki là người dùng không nhất thiết phải biết về Web, HTML. Wikipedia, một dự án để xây bách khoa thư, có lẽ là wiki nổi tiếng nhất trên thế giới, nhưng cũng có thể sử dụng hình thức wiki theo nhiều mục đích khác (theo wikipedia: http://vi.wikipedia.org/wiki/Wiki) Hình thức này thích hợp đối với một bộ môn/khoa chuyên môn. Các giáo viên/giảng viên, học sinh/sinh viên tham gia vào xây dựng nội dung của wiki theo những chiều khác nhau, cho phép tra cứu theo nhiều chiều, chia sẻ tri thức giữa các thành viên tham gia. Chi phí bao gồm chi phí ban đầu cho việc cài đặt, lập trình wiki với các chức năng lựa chọn như quản lý người dùng, phê duyệt nội dung, thiết kế giao diện. Sau đó là chi phí cho việc xây dựng nội dung cụ thể của wiki. Tính khả thi cao, chi phí không lớn, và hiệu quả rất tốt nếu tổ chức tốt về nội dung và thành phần tham gia. Kết hợp với một cổng thông tin với dịch vụ hỏi đáp về môn học sẽ làm tăng thêm hiệu quả học tập và giảng dạy. 2.4.4. Xây dựng các tình huống mẫu cho các hoạt động dạy và học Tình huống mẫu (pattern) được xây dựng trên cơ sở của khái niệm ngôn ngữ tình huống mẫu (pattern language) do Alexander, Christopher [1] đưa ra cho vấn đề giải quyết các tình huống mẫu trong xây dựng và kiến trúc. Sau này được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau đòi hỏi sự giải quyết các vấn đề lặp lại một cách khuôn mẫu. Pattern mô tả một giải pháp chung đối với một vấn đề nào đó trong thiết kế thường được “lặp lại” trong triển khai. Nói một cách khác, một pattern có thể được xem như một “khuôn mẫu” có sẵn áp dụng được cho nhiều tình huống khác nhau để giải quyết một vấn đề cụ thể. Việc áp dụng tình huống mẫu cho các hoạt động giáo dục cho phép thiết kế các hoạt động một cách hiệu quả, có tính đến các khó khăn, trở ngại cần giải quyết, và thiết kế cụ thể các kết nối giữa giáo viên/giảng viên với học sinh/sinh viên. Hình thức này có tính khả thi và có thể đưa vào dự án để triển khai, chi phí thấp. 2.4.5. Xây dựng phần mềm biểu diễn tri thức/khái niệm cho các môn học dựa vào mạng ngữ nghĩa Mạng ngữ nghĩa (semantic network) là một nhánh của lĩnh vực biểu diễn tri thức, cho phép biểu diễn các khái niệm dưới dạng mạng với các nút là các khái niệm và cạnh là 76
  10. Từ lý thuyết học tập kết nối gợi mở cho việc ứng dụng Công nghệ trong học tập quan hệ. Hình thức này có thể triển khai cho các môn học. Ban đầu là việc xây dựng phần mềm khung dạng mở cho việc biểu diễn các khái niệm dưới dạng mạng, phần mềm cung cấp khả năng thiết kế các cây ngữ nghĩa một cách dễ dàng, không cần biết về lập trình, có các khả năng quản lý người dùng. Sau đó các giáo viên/giảng viên/học sinh/sinh viên cùng nhau xây dựng các mạng ngữ nghĩa khái niệm và các tri thức cơ bản cho từng chủ đề. 3. Kết luận Các vấn đề nêu ra trong bài viết về lý thuyết kết nối sẽ là các gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về lý thuyết học tập, các khía cạnh về triết học, phương pháp luận, cũng như phát triển khái niệm, nguyên lý và kiến trúc công nghệ của hệ sinh thái học tập, và các dự án ứng dụng công nghệ trong phần 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Driscoll M., 2000. Psychology of learning for instruction (2nd ed.). Needham Heights MA Allyn & Bacon. [2] . Mergel B., 1998. Instructional design and learning theories. From University of Saskatchewan, College of Education. [3] Siemens G., 2000. Connectivism: A learning theory for the digital age.International Journal of Instructional Technology and Distance Learning. ABSTRACT Connectivism and ideas for technology application in the learning environment Connectivism was described by George Siemens in response to the development and evaluation of traditional learning theories in the digital era, where knowledge is ex- panding rapidly due to information technology applications. This learning theory is able to adapt to a dynamic learning style that adapts to a flat world and the worldwide spread of knowledge. This paper does not focus on the details of connectivism, but rather on key concepts and ideas of this theory which the author associates with the concept of a learning ecosystem and the movement of knowledge. At the same time, a framework for an implementation of an information technology environment for a learning ecosystem is suggested which could expand the extent of learning achieved by society. 77
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2