BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI NGA

Chia sẻ: Danh Chanh Da | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
184
lượt xem
27
download

BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI NGA

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xã hội. Tồn tại xã hội là đời sống vật chất của xã hội, là sự sản xuất của cái vật chất và những quan hệ của con người trong quá trình sản xuất

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI NGA

  1. TỒN TẠI XàHỘI VÀ Ý THỨC XàHỘI:  cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử giải quyết vấn đề cơ bản của trong lĩnh vực triết học xã hội. Tồn tại xã hội là đời sống vật chất của xã hội, là sự sản xuất của cải vật chất và những quan hệ của con người trong quá trình sản xuất ấy. Tồn tại xã hội quyết định . Ý thức xã ý thức xã hội hội là phản ánh của tồn tại xã hội, bao gồm nhiều trình độ khác nhau (ý thức đời thường, ý thức lí luận) và nhiều hình thái khác nhau (chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, khoa học, vv.). Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định, nhưng có tính độc lập tương đối của nó, thể hiện trên những nét cơ bản là: 1) Có tính kế thừa, có lôgic phát triển nội tại, có sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội. 2) Ý thức khoa học, tiến bộ có thể dự báo triển vọng của xã hội, cũng có thể cải tạo tồn tại xã hội thông qua thực tiễn của con người; ngược lại, ý thức sai lầm, lạc hậu, có thể xuyên tạc, kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội của ta là một nước nông nghiệp lạc hậu và kém phát triển, với trên 87 triệu dân (xếp thứ 13 thế giới) mà trong đó trên 70% người sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp, trình độ dân trí thấp (cả nước mới đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi), chỉ có khoảng 25% người lao động là đã qua đào tạo nghề, thu nhập trung bình của người dân thuộc nhóm nước “đang phát triển có thu nhập thấp” (nghèo - xếp thứ 123 thế giới), mặc dù sở hữu cái nền đất rộng 331.690 km2 (xếp thứ 65 thế giới) và khoảng 1 triệu km2 mặt biển (với khoảng 3.000 đảo, có tổng diện tích 1.700 km2, lớn hơn 2,4 lần diện tích đất nước Singapore). Trong điều kiện đó, hầu hết người dân chỉ có thể kiếm sống bằng những công việc ít đầu tư và ít tốn kém nhất, ít tính toán (tri thức thấp) và ngắn hạn nhất… để nhanh chóng có tiền của mà trang trải cuộc sống hàng ngày. Ngoài bộ phận làm công tác quản lý và cung ứng dịch vụ công trong các cơ quan hành chính - sự nghiệp ra, thì đa số họ tìm đến thửa ruộng, mảnh vườn, hồ ao, chuồng trại, tàu, ghe, chiếc xích lô, xe lôi, xe ba gác, xe công nông, ô chợ, gánh hàng rong, góc phố, vỉa hè… để kiếm kế sinh nhai. Một bộ phận khác khá hơn thì phát triển kinh doanh, thương mại, dịch vụ… Bộ phận còn lại đi bán vé số, nhặt phế liệu, ăn xin… Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng: Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế đó, dẫu biết rằng ý thức xã hội cũng có tính “độc lập tương đối” so với tồn tại xã hội, nhưng tính “độc lập tương đối” ấy cũng không phải “từ trên trời rơi xuống”. Trong thời đại ngày nay, và có lẽ trong mọi thời đại, không có bất cứ một nước đang phát triển hay chậm tiến hơn so với trình độ chung của thế giới, lại có thể tạo dựng cho mình một tồn tại xã hội hoặc ý thức xã hội tiến bộ giữa nhân loại đương thời. Ở nước ta hiện nay, tình trạng coi thường pháp luật và sức khoẻ con người, tham nhũng, lãng phí… đang là vấn nạn lớn của đất nước. Nó nói lên rất nhiều điều, dù khách quan hay chủ quan, về tồn tại xã hội và ý thức xã hội của chúng ta.
  2. Coi thường pháp luật: Luật ra không được thực hiện đầy đủ và kịp thời, làm ăn phi pháp và lối sống luồn lách, làm trái các quy định hợp pháp và tuỳ tiện đặt ra những quy định bất hợp pháp… Coi thường sức khoẻ con người: Sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng (kể cả thuốc chữa bệnh); sản phẩm tiêu dùng có hàm lược độc tố cao; không thực hiện nghiêm chế độ bảo hộ và an toàn lao động, cũng như các biện pháp an toàn khác đối với con người; tình trạng sử dụng bạo lực xảy ra khá phổ biến tại các gia đình, trường học, công xưởng, quán xá... đối với mọi lứa tuổi. Tham nhũng: Bòn rút của công, đưa và nhận hối lộ xảy ra khá phổ biến ở mọi cấp, mọi ngành; thì giờ thi hành công vụ cũng bị bớt xén và sử dụng cho những mục đích cá nhân khác… Lãng phí: Lãng phí nguồn nhân lực vì sử dụng không phù hợp và hiệu quả thấp, lãng phí thời gian và của cải, vì nhiều người được đào tạo lại làm việc như không được đào tạo; lãng phí các nguồn lực vật chất và tinh thần vì không được để ý đến hoặc sử dụng bất hợp lý... Tất cả những tình trạng tiêu cực đó, chúng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau, đang kìm hãm sự phát triển của đất nước ta. Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chung là thu nhập thấp, trình độ dân trí thấp và quản lý xã hội yếu kém; “tư duy” làm luật, kỷ luật lao động và lương tâm nghề nghiệp rất thấp; “cơ chế” chặt mà lỏng, làm việc gì cũng cần “bôi trơn” bộ máy; “công bộc” không sống nổi bằng lương; tư tưởng, đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ và nhân dân bị suy thoái… Nếu chúng ta muốn tồn tại xã hội phát triển, thì phải giải phóng ý thức xã hội; muốn ý thức xã hội phát triển, thì phải giải phóng tồn tại xã hội. Nghĩa là, chúng ta phải giải phóng đồng thời cả tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thì đất nước ta mới phát triển. Để giải phóng tồn tại xã hội, trước hết, phải giải phóng phương thức sản xuất (yếu tố quyết định). Trong đó, cần tập trung giải phóng “con người” (trước hết là người lao động) và giải phóng “tư liệu sản xuất”. Đối với con người (nhân tố quyết định), cần phải thực hiện chế độ giáo dục phổ thông và chăm sóc sức khoẻ ban đầu miễn phí cho mọi công dân (trừ những đối tượng có nhu cầu cung ứng dịch vụ cao hơn), gắn với nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; tạo mọi điều kiện thuận lợi để người lao động làm việc, học tập, sáng tạo, phát huy năng lực bản thân… (Trước khi “giải phóng” con người, thì cần phải bảo đảm cho họ các nhu cầu cơ bản về ăn, ở, mặc, đi lại…). Đối với tư liệu sản xuất, cần tập trung đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại, đi đôi với cải tiến công cụ và phương tiện lao động, đồng thời khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có. Đối với các quan hệ xã hội (sở hữu tư liệu sản xuất, quản lý và phân công lao động, quản lý và phân phối của cải xã hội...), cần thực hiện tốt chính sách đa dạng hóa, cổ
  3. phần hóa, nâng cao năng lực làm chủ và thu nhập thật sự của người lao động, ưu tiên nhiều hơn cho người nghèo (lực lượng dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhiều nhất)... Để giải phóng ý thức xã hội, trước hết, phải giải phóng hoạt động tư tưởng, lý luận, tình cảm, phong tục, tập quán… trong xã hội ta. Đối với hoạt động tư tưởng và lý luận, hiểu theo nghĩa hẹp, cần phát huy tự do tư tưởng và nghiên cứu, tìm tòi mới về lý luận. Trong đời sống tình cảm, phong tục, tập quán… cần tôn trọng và bảo vệ khát vọng chính đáng của con người cá nhân, nhất là đời sống tâm – sinh lý và hoạt động tín ngưỡng – tôn giáo, phát huy dân chủ; đảm bảo hoạt động mang tính “tự nhiên” (hợp quy luật) về sự giao lưu, tiếp biến (thậm chí thay đổi) giữa cái “cũ” và cái “mới”, truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, cá nhân với cộng đồng… Muốn thực hiện được tất cả các điều trên, cần phải có chính sách đúng đắn về phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và trọng dụng nhân tài, hiền tài... Hiện nay, chúng ta đang trạng bị cho những người khá giả và giàu có ngày càng nhiều, trong khi lại hạn chế các điều kiện để người nghèo vươn lên, mặc dù VN là nước dẫn đầu về "xóa đói giảm nghèo" theo mục tiêu Thiên niên kỳ của Liên hiệp quốc. Bằng chứng là, những người có đủ điều kiện để mở cơ sở sản xuất – kinh doanh thì được ưu đãi về đất đai (thuê như cho), thuế, nguồn vốn, hỗ trợ công nghệ và thông tin thị trường… Những người nghèo thì rất khó tiếp cận với nguồn vốn, công nghệ, thông tin, thậm chí còn bị thu hồi đất để cấp cho các dự án của người giàu (doanh nghiệp). Theo Báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố năm 2007 dựa trên các số liệu điều tra về mức sống của các hội gia đình Việt Nam, thì sự phân biệt giàu nghèo kéo theo tình trạng bất bình đẳng xã hội đang diễn biến theo xu hướng ngày càng xấu đi. Các hộ trong nhóm thu nhập cao nhất (nhóm 20% giàu nhất) nhận được gần 40% lợi ích an sinh xã hội; ngược lại, nhóm 20% nghèo nhất chỉ nhận chưa đến 7% (Vietnamnet, 28/01/2008). Chúng ta hoan nghênh mọi sự thông thoáng mở đường cho phát triển, cho cả người giàu và người nghèo cùng vươn lên, và biết rằng, người giàu sẽ vươn nhanh và xa hơn người nghèo. Song chúng ta không thể thực hiện theo kiểu tạo điều kiện cho “người này” (người giàu) mà lại hạn chế đối với “người kia” (người nghèo) như hiện nay được. Nếu cùng một lúc mà không tạo điều kiện cho cả hai, thì tạo điều kiện cho một trong hai loại đối tượng này cũng được, nhưng cần phải ưu tiên cho người nghèo. Đằng này, không những chúng ta không tạo điều kiện cho người nghèo trước, mà lại tạo điều kiện cho người giàu trước, đồng thời lại đẩy người nghèo vào bước đường cùng (cấm xe lôi, xe ba gác, xe công nông, bán hàng rong, hàng vỉa hè… ). Như thế là “không giải quyết tốt các vấn đề xã hội”, là xa rời “định hướng xã hội chủ nghĩa” mà Văn kiện Đại hội X đã xác định. Tôi còn nhớ, có một quan chức cao cấp đã từng tuyên bố trước báo giới bên thềm xuân Mậu Tý rằng: “Cản trở doanh nghiệp là cản trở sự phát triển”. Ở đây tôi không bàn gì về câu nói đó, mà chỉ muốn nói thêm rằng: Cản trở người nghèo và cản trở người dân đang nỗ lực kiếm kế sinh nhai vốn đã hợp lý từ trước đến nay, cũng là cản trở sự phát triển. Nếu chúng ta “cấm” một cái gì đó hiện tồn mà trái với quy định của pháp luật
  4. thì không sai, nhưng đằng này chúng ta tự đặt ra “quy phạm” mới để chấm dứt sự tồn tại hợp lý của nó, để rồi biến nó trở thành cái bất hợp lý và vi phạm pháp luật. Dẫu biết rằng, về mặt quản lý nhà nước, chúng ta có thể làm như thế và được quyền làm như thế, vì sự phát triển và văn minh, nhưng với điều kiện phải đi đôi với việc giải quyết các hệ luỵ kèm theo, mà kết quả tối thiểu phải đảm bảo cho những người liên quan có cuộc sống tương tự (đáng lý phải tốt đẹp hơn) trước khi thực hiện “chủ trương mới”. Nếu được quyền lựa chọn giữa giàu có và đói nghèo, giữa chủ một cơ sở sản xuất – kinh doanh với đi bán hàng rong hoặc bán vé số, giữa người làm công ăn lương ổn định với kẻ kiếm kế sinh nhai hàng ngày bằng lao động phổ thông vất vả… thì không ai chọn vế thứ hai! Không ai muốn hàng giả và hàng kém chất lượng, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường sống, mất an toàn về sức khoẻ và coi thường pháp luật… Ai cũng muốn trên đất nước mình không còn nhà ổ chuột, người ăn xin, bán hàng rong, quán vỉa hè; ai cũng muốn nhìn thấy những chiếc xe chở hàng đẹp, gọn gàng và hợp vệ sinh; ai cũng muốn điều tốt đẹp. Song, “lực bất tòng tâm”. Chúng ta không “đồng loã” với sự kém phát triển, nhưng chúng ta vẫn phải sống chung với sự kém phát triển đó, bởi vì chính chúng ta là quốc gia kém phát triển. Thế nên tồn tại xã hội “kém phát triển” tất yếu hình thành nên ý thức xã hội “kém phát triển”. Cả hai đang kìm hãm lẫn nhau trên đường chúng ta đi về phía trước – công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nếu chúng ta phát huy được tính tích cực của ý thức xã hội (nhất là về quản lý xã hội và ý thức công dân), thì đất nước sẽ phát triển nhanh và bền vững. Muốn xã hội tốt đẹp, một mặt chúng ta phải cải tạo ý thức xã hội, nhưng mặt khác quan trọng hơn và mang tính quyết định là phải cải tạo tồn tại xã hội. 1.Khái niệm tồn tại xã hội : Tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội v bao gồm các yếu tố chính là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số... trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất . 2. Khái niệm ý thức xã hội : Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tình cảm, tập quán, truyền thống, quan điểm, tư tưởng, lý luận … là sự phản ánh của tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Cần phân biệt giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân : Ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú cho nhau. Ý thức cá nhân là ý thức của mỗi con người trong xã hội do đó không thể không mang tính xã hội. Nhưng ý thức cá nhân không phải bao giờ cũng phản ánh thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một giai cấp, một thời đại xã hội nhất định. Song có khi cùng một giai cấp nhưng do hoàn cảnh kinh tế, nghề nghiệp, môi trường giáo dục, ảnh hưởng tư tưởng của gia đình, bạn bè, kinh nghiệm sống, trường đời ... mà mỗi cá nhân lại biểu hiện ý thức giai cấp với mức độ đậm nhạt khác nhau – thậm chí có khi mâu thuẫn nhau.
  5. II. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: 1. Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội , do tồn tại xã hội quyết định : Quan niệm duy tâm coi tinh thần , tư tưởng là nguồn gốc của mọi hiện tượng xã hội, quyết định tiến trình phát triển của mọi xã hội . Chủ nghĩa duy vật thì khẳng định rằng: - Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội. - Tồn tại xã hội như thế nào ý thức xã hội như thế ấy. Mỗi khi tồn tại xã hội biến đổi thì những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn học, nghệ thuật ... sớm muộn sẽ biến đổi theo. Vì vậy ở những thời kỳ lịch sử khác nhau nếu chúng ta thấy có những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau thì đó là do những điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định. 2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội : Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định. Nhưng ý thức xã hội không hoàn toàn thụ động, nó có tính năng động, có tính độc lập tương đối trong sự phát triển của mình . Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội biểu hiện ở những mặt dưới đây : * Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội . Do sức mạnh của thói quen, tập quán truyền thống, do những lực lượng xã hội, đảng phái, giai cấp lỗi thời tìm mọi cách duy trì ý thức cũ, chống lại ý thức xã hội mới tiến bộ hơn. * Tính vượt trước của tư tưởng tiến bộ khoa học . Tư tưởng của con người, nhất là tư tưởng triết học, khoa học, nghệ thuật có thể đóng vai trò dự báo tương lai, tìm ra được khuynh hướng phát triển chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người. * Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội. Những quan điểm và lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không, mà được tạo nên trên cơ sở những tài liệu lý luận của các thời đại trước, tức là có quan hệ kế thừa với ý thức tư tưởng của thời đại trước. * Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng. Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể như chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học. Mỗi hình thái ý thức xã hội phản ánh một đối tượng nhất định, một phạm vi nhất định của tồn tại xã hội, nhưng giữa chúng có mối quan hệ với nhau . Sự liên hệ tác động đó làm cho mỗi hình thái ý thức có những tính chất và những mặt không thể giải thích được một cách trực tiếp bằng tồn tại xã hội hay bằng các điều kiện vật chất . * Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội : Đây là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, biểu hiện tập trung vai trò của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Ý thức tiến bộ - cách mạng : Thúc đẩy xã hội phát triển Ý thức lạc hậu : ngăn cản sự phát triển của xã hội . Tóm lại : Ý thức xã hội phụ thuộc vào tồn tại xã hội, nhưng nó có tính độc lập tương đối của nó. Vì vậy nếu chỉ thấy tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội một cách máy móc, sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường, ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức xã hội, không thấy vai trò của tồn tại xã hội sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm
  6. Tồn tại xã hội quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội.tồn tại xh có trước,ý thức xh có sau,tồn tại xh như thế nào thì ý thức xh như thế ấy. - Tính độc lập tương đối của ý thức xh ý thức xh do tồn tại xh quyết định nhưng ý thức xh lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở: - Ý thức xh lạc hậu hơn so với tồn tại xh. -Ý thức xh có thể vượt trước tồn tại xh,do nắm bắt được bản chất và quy luật của sự vật..đặc biệt ý thức lý luận khoa học thường vượt trước tồn tại xh - Ý thức xh có tính kế thừa,ý thức xh mới có tính kế thừa ý thức xh cũ,sau đó bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với tồn tại đạ phát triển. - Các hình thái ý thức xh như triết học,đạo đức,nghệ thuật có tác động qua lại với nhau,trong đó ý thức chính trị có vai trò quan trọng nhất. - Ý thức xh tác động trở lại tồn tại xh - Ý thức xh phản ánh sai tồn tại xh sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xh thông qua hoạt động của con người,trong đó thực tiễn đóng vai trò quyết định Ví dụ : Trong chế độ Cộng sản nguyên thủy do lực lượng sản xuất còn thấp, công cụ sản xuất quá thô sơ (gậy gộc, hòn đá, cung tên) nên người nguyên thủy buộc phải thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (rừng cây, con suối), phải sống tập đoàn mới có thể kiếm được thức ăn, chống thú dữ, tất cả của cải làm ra được chia đều, dùng hết không còn dư thừa, nên không thể có sự chiếm hữu làm của riêng, không có tình trạng người bóc lột người. Nhưng khi công cụ bằng kim loại xuất hiện, lực lượng sản xuất có bước phát triển mới. Sản phẩm làm ra đủ mức sống tối thiểu và có dư ra đôi chút, đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện chế độ tư hữu, mà hình thức đầu tiên là chế độ chiếm hữu nô lệ, tù binh và các thành viên nghèo đói trong xã hội biến thành nô lệ. Người nắm tư liệu sản xuất, trở thành chủ nô. Thời kỳ đầu, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ rất thích hợp, nó phá vỡ sự trói buộc con người trong các thị tộc, bộ lạc, tạo điều kiện cho sự phân công lao động (chăn nuôi, trồng trọt và sau này là thủ công nghiệp). Chính sự hợp tác giản đơn này của lao động nô lệ đã cho phép tạo ra những công trình đồ sộ ( Kim tự tháp Ai Câp , Kênh đào Xuê , nhà hát, Đấu trường La mã.....) lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay thúc đẩy sự phát triển rực rỡ của thi ca, điêu khắc, khoa học, triết học thời cổ đại Các chân lí khoa học luôn tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của con người. Quá ttrình nhận thức khoa học là quá trình đưa tư tưởng khoa học tiến đến chân lí khoa học. Tư tưởng khoa học là một nhân tố chủ quan được xây dựng từ các quan niệm khoa học, mà các quan niệm đó lại được xây dựng trên các quan điểm khoa học. Khi các quan niệm được xây dựng mà chưa có đủ các quan điểm để đảm bảo tính đúng đắn cho chúng thì các tư tưởng khoa học được xây dựng từ chúng cũng sẽ thiếu đi sự chính xác khi các tư tưởng đó nhằm phản ánh các nguyên lí và cao
  7. hơn là các chân lí khoa học. Vì vậy chúng ta có những tư tưởng khoa học đúng, gần đúng hoặc sai lệch. Trong khi chưa có một tư tưởng khoa học đúng đắn thì những tư tưởng gần đúng có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức bởi các chân lý khoa học không phải luôn sẵn sàng cho việc nhận thức chúng. Quá trình nhận thức là quá trình đúng dần.Trong quá trình phát triển của khoa học, những tư tưởng khoa học càng gần với các chân lí khoa học thì giúp ích cho sự phát triển khoa học càng nhiều. Lịch sử phát triển của loài người cũng là lịch sử của quá trình nhận thức. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một bậc phát triển của quá trình nhận thức khoa học, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển rầm rộ của khoa học trong thế kỷ 20 và vẫn là một động lực chính cho sự phát triển khoa học. Nền tảng cho sự phát triển khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong thời gian qua là quan niệm vạn vật trong vũ trụ là vật chất, vật chất luôn vận động và vận động là thuộc tính của vật chất, năng lượng cũng là một dạng vật chất. Đây là một quan niệm gần đúng, bởi nếu đúng thì nó sẽ giải thích được thuyết Big Bang, giải thích được tại sao vật chất có thể tập trung với mật độ vô cùng lớn trong các hố đen của vũ trụ, nó sẽ cho biết tại sao vật chất tồn tại ở ba thể là khí, rắn và lỏng. Nó bỏ qua vai trò to lớn của năng lượng khi coi năng lượng là một dạng vật chất mặc dù đã gán cho năng lượng thêm yếu tố vật chất đặc biệt. Quan niệm cho rằng vật chất và năng lượng là hai yếu tố riêng, hai bản thể của vũ trụ có mối quan hệ đặc biệt khăng khít, vật chất ( nói chính xác hơn là các cấu trúc vật chất ) là nơi cư trú và phát huy tác dụng của năng lượng, còn năng lượng giúp cho vật chất có cấu trúc và sự vận động, không có vật chất thì không có nơi trú ngụ cho năng lượng hay có cái mang năng lượng và ngược lại, không có năng lượng thì vật chất không có cấu trúc và sự vận động là một quan niệm có thể giúp giải thích được những điều nói trên. Sự nhận thức của con người về vật chất đã chuyển dần từ nhận thức đơn giản đến nhận thức sâu sắc hơn và đúng đắn hơn. Từ xưa con người đã cho rằng vật chất gồm có các vật thể và các chất. Nhận thức về các vật thể không có nhiều sự thay đổi trong lịch sử nhận thức, nhưng nhận thức về chất đã có nhiều sự đổi thay, từ chỗ cho rằng các chất bao gồm lửa, nước, đất đá, gỗ, kim loại đến chỗ xác định được rằng các chất là các nguyên tố hoá học có cấu tạo từ các nguyên tử. Từ chỗ cho rằng các nguyên tử là các cấu trúc vật chất nhỏ nhất không thể phân chia đến chỗ xác định được rằng nguyên tử lại được hình thành từ các cấu trúc nhỏ hơn nữa, có nghĩa là nguyên tử cũng phân chia được. Từ ngữ không thay đổi, nhưng nội dung của khái niệm vật chất đã thay đổi để chứa đựng ý nghĩa mới. Và bắt đầu từ đây, khái niệm vật chất không chỉ còn là các vật thể và các chất, nó bao hàm một ý nghĩa lớn lao hơn, sâu sắc hơn, vật chất là một bản thể của vũ trụ. Những cái mà chúng ta vẫn gọi là vật chất từ xưa đến nay là các vật thể và các chất, đều là những dạng tồn tại của vật chất được gọi chung là các cấu trúc vật chất. Trước hết, chúng ta cần thống nhất về khái niệm “ cấu trúc vật chất” . Khái niệm “ cấu trúc vật chất” không chỉ giới hạn trong phạm vi các nguyên tử, các nguyên tố, các hợp chất hoá học, các vật thể được xác định bằng các giác quan hay các phương tiện kỹ thuật và giữa các thành phần của chúng có những mối liên kết hoá học hay cơ học để có một tổ chức nào đó. Khi khái niệm “ cấu trúc vật chất” bị giới hạn như vậy thì
  8. chúng ta cũng sẽ dễ dàng làm giới hạn số lượng cũng như loại cấu trúc vật chất, đặc biệt là các cấu trúc vật chất vô cùng nhỏ, thậm chí chúng ta còn dễ dàng cho rằng các cấu trúc vật chất có mối liên kết bám dính không phải là các cấu trúc vật chất như các mẩu giấy bị quản bút nhựa hút khi quản bút nhựa đã được sát lên len dạ…Khái niệm cấu trúc vật chất trong quan niệm mới này được hiểu rất rộng. Một hạt bụi bám vào bức tường thì bức tường và hạt bụi làm nên một cấu trúc vật chất. Giọt sương bám ở đầu ngọn cỏ thì giọt sương và ngọn cỏ cũng tạo nên một cấu trúc vật chất. Nói cụ thể hơn, một cấu trúc vật chất là một tập hợp vật chất có liên kết mà sự liên kết đó đủ để chống lại một số tác động phá hoại cấu trúc từ bên ngoài. Quan niệm như vậy không chỉ mở rộng các hình thức liên kết tạo ra các cấu trúc vật chất mà còn không giới hạn số lượng hoặc số loại cấu trúc vật chất. Các nguyên tố hoá học, các vật thể, các hạt siêu nhỏ hoặc vô cùng nhỏ như nơ tri nô, các lượng tử ánh sáng cho đến các vật thể to lớn nhơ các ngôi sao, các hành tinh, các hố đen, thậm trí khi tất cả vật chất trong vũ trụ tập hợp lại thành một vật thể đều là các cấu trúc vật chất. Bằng sự sắp xếp có trật tự trong cấu trúc, chúng ta có các cấu trúc vật chất có tổ chức, Bằng sự sắp xếp không có trật tự ( tất nhiên vẫn phải có liên kết ) ,chúng ta có các cấu trúc vật chất không có tính tổ chức. Việc tạo nên các cấu trúc có hay không có tổ chức bắt nguồn từ hình thức liên kết của các cấu trúc vật chất thành viên. Khi các cấu trúc vật chất thực hiên liên kết xuyên tâm thì vị trí liên kết có thể ở bất kì chỗ nào trên bề mặt ngoài của các thành viên, do đó sự sắp xếp các thành viên không đòi hỏi phải xác định vị trí. Đây là hình thức liên kết vật lí. Năng lượng đã tạo ra lực liên kết có đường tác dụng xuyên qua khối tâm của các thành viên, gắn kết các thành viên bằng lực hút. Nhưng không phải tất cả các cấu trúc vật chất thực hiện việc liên kết các thành viên của chúng bằng liên kết xuyên tâm là các cấu trúc không có tổ chức. Có hai yếu tố bắt buộc các cấu trúc vật chất liên kết xuyên tâm có sự tổ chức trong cấu trúc của nó, đó là hình dạng và các mức năng lượng của từng thành viên .Hình dạng của các thành viên xác định vị trí liên kết sao cho cường độ liên kết đạt mức cao nhất .Dạng, loại và mức năng lượng tạo ra tương tác giữa các thành viên làm hạn chế tính ngẫu nhiên trong sắp xếp, làm cho cấu trúc vật chất được tạo ra có một trật tự nào đó. Hai thanh nam châm hút nhau bằng lực từ xuyên tâm nhưng trái cực.Các prôtôn và êlectrôn liên kết với nhau bằng lực điện tích trái dấu xuyên qua tâm hạt nhân nguyên tử và các điện tử, nhưng các prô tôn ở trong hạt nhân, còn các điện tử luôn ở bên ngoài hạt nhân và tạo thành các lớp tuỳ theo mức năng lượng của các điện tử. Các nguyên tử của các nguyên tố hoá học là các cấu trúc vật chất có tổ chức. Tính tổ chức trong các cấu trúc liên kết xuyên tâm ( hay liên kết vật lý ) này không cao khi chúng có những đặc điểm sau : - Tính tổ chức không chi phối toàn bộ các thành viên trong cấu trúc. Khi trong cấu trúc tồn tại một hoặc mốt số thành viên liên kết xuyên tâm một cách tuỳ tiện thì trật tự của các thành viên có thể thay đổi. Điều này có nghĩa là có thể tạo ra nhiều các cấu trúc khác nhau từ cùng một số cấu trúc thành viên. Nhưng nếu các cấu trúc đó không mang lại những tính chất khác nhau thì việc tạo ra những cấu trúc như vậy sẽ không có nhiều ý nghĩa.
  9. - Một số thành viên trong cấu trúc chịu sự tác động từ bên ngoài để tạo nên tính tổ chức cho cấu trúc. Các điện tử trong một lõi sắt từ chuyển động hỗn loạn khiến lõi sắt từ không hút được sắt, nhưng khi cho dòng điện chạy qua ống dây dẫn bao quanh lõi sắt từ, các điện tử chuyển động có hướng tạo ra tác dụng từ cho lõi sắt, biến lõi sắt thành nam châm. Tính chất này chấm dứt khi dòng điện trong ống dây bị ngắt. Nói chung, khi các cấu trúc vật chất có thể thay đổi tổ chức và kéo theo sự thay đổi tính chất tác dụng thì chúng sẽ có những ý nghĩa nào đó khi chúng ta khai thác những tính chất, tác dụng này. Liên kết hoá học khác với liên kết vật lí ở chỗ các thành viên liên kết với nhau không phải bằng lực liên kết xuyên tâm mà bằng sự liên kết một số thành viên nằm ở bề mặt ngoài của cấu trúc này với một số thành viên nằm ở bề mặt ngoài của cấu trúc kia thông qua liên kết xuyên tâm giữa các thành viên đó với nhau và với điều kiện đường tác dụng của các lực này không trùng với đường xuyên qua khối tâm của các cấu trúc chính. Cũng có thể nói là khi các cấu trúc vật chất thực hiện liên kết hoá học, chúng đã thực hiện việc cài xen các thành viên ở bề mặt ngoài của chúng vào nhau. Đây là điểm khác với liên kết vật lí bởi trong liên kết vật lí,giữa bề mặt ngoài của các cấu trúc tồn tại khoảng cách,còn trong liên kết hoá học, khoảng cách này là không có. Do các thành viên ở bề mặt ngoài của cấu trúc không liên kết được hoặc liên kết không đồng thời với toàn bộ các thành viên ở bề mặt ngoài của cấu trúc đối tác nên các vị trí liên kết trong liên kết hoá học không xuất hiện ở bất kì vị trí nào trên bề mặt của một thành viên. Nói cách khác, các vị trí liên kết trong liên kết hoá học được định vị, điều này làm cho các cấu trúc mới được tạo ra có sự sắp xếp các thành viên của nó, hình thành nên tính tổ chức cho cấu trúc. Sự thay đổi tổ chức xuất hiện khi trên bề mặt cấu trúc có thể cho nhiều vị trí khác nhau để thực hiện một loại liên kết, và đây là tính biến đổi trong liên kết hoá học nếu sự thay đổi này có thể đem đến sự thay đổi tính chất, tính năng,tác dụng cho cấu trúc đó. Có thể đánh giá rằng về mặt số lượng thì sự biến đổi trong liên kết vật lí nhiều hơn trong kiên kết hoá học, nhưng sự biến đổi trong liên kết hoá học mang đến nhiều sự thay đổi tính chất hơn cho cho các cấu trúc so với liên kết vật lí.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản