intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ NÂU (Scatophagus argus) GIAI ĐOẠN 15 NGÀY TUỔI

Chia sẻ: Gu Tin | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
75
lượt xem
10
download

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ NÂU (Scatophagus argus) GIAI ĐOẠN 15 NGÀY TUỔI

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ NÂU (Scatophagus argus) GIAI ĐOẠN 15 NGÀY TUỔI

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ NÂU (Scatophagus argus) GIAI ĐOẠN 15 NGÀY TUỔI

  1. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CÁ NÂU (Scatophagus argus) GIAI ĐOẠN 15 NGÀY TUỔI Lý Văn Khánh1, Nguyễn Hoàng Xuân2, Phạm Thanh Liêm1 và Nguyễn Thanh Phương1 ABSTRACT This study was conducted to determine the appropriate food for growth and survival of spotted scat (Scatophagus argus) larvae. In the experiment, six treatments in triplicate with different types of feed namely (i) Chlorella sp + rotifer (Brachionus rotundifomis); (ii) Chlorella sp + rotifer + artificial feed; (iii) Chlorella sp + artificial feed; (iv) rotifer; (v) Rotifer + artificial feed; and (vi) artificial feed were used. Rearing tanks containing 10 L of brackish water at salinity of 25‰ were used for experiment. Hatchery-produced larvae with initial body length of 2.01 mm were stocked at density of 50 larvae/L. After 15 days of rearing, treatment used Chlorella sp + rotifer + artificial feed gave the best growth in length (3.64 mm). The survival rates of larvae were in range of 5.33-15.7%, of which the highest survival (15.7 %) was obtained from the treatment using Chlorella sp + rotifer + artificial feed. The most considerable figure was found in artificial feed treatment that fish died completely after 8 days rearing. Keywords: Spotted scat, Scatophagus argus, larval rearing, feeding regime. Title: Effects of feeding diets on survival rate and growth of the spotted scat (Scatophagus argus) during the first 15 days. TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm xác định thức ăn thích hợp cho sự phát triển của cá nâu từ bột đến ngày tuổi thứ 15. Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức thức ăn với 3 lần lặp lại bao gồm (i) Chlorella sp + rotifer (Brachionus rotundifomis); (ii) Chlorella sp + rotifer + thức ăn chế biến (TACB); (iii) Chlorella sp + TACB; (iv) rotifer; (v) rotifer + TACB; và (vi) TACB (thức ăn chế biến). Thí nghiệm được bố trí trên hệ thống bể nhựa chứa 10 lít nước có độ mặn 25‰. Cá bột có kích cỡ ban đầu 2,01 mm được thả với mật độ 50 con/lít. Kết quả sau 15 ngày ương cho thấy nghiệm thức sử dụng Chlorella + rotifer + TACB có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (3,6 mm) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
  2. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ sống của cá bột dao động từ 5,33-15,7%, trong đó nghiệm thức Chlorella + rotifer + TACB có tỷ lệ sống cao nhất (15,7%). Cá chết hoàn toàn ở nghiệm thức TACB sau 8 ngày ương. Từ khóa: Cá nâu, Scatophagus argus, ương cá bột, thức ăn 1 GIỚI THIỆU Nuôi thủy sản nước ngọt đã có nhiều đối tượng được ứng dụng vào nhiều mô hình nuôi và đem lại hiệu quả kinh tế khá cao. So với nuôi thủy sản nước ngọt thì nuôi thủy sản nước lợ, mặn hầu như chỉ nuôi độc canh con tôm. Việc nuôi tôm độc canh đã hình thành những trở ngại về vấn đề bền vững cũng như tác động tiêu cực về môi trường. Trước tình hình đó nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam đang có xu hướng đa dạng hóa đối tượng nuôi (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2004). Các đối tượng có giá trị kinh tế như tôm hùm, tôm sú, thẻ chân trắng, cua, cá mú, cá bớp, cá chẽm,… đang được nuôi chủ yếu ở vùng ven biển của nước ta nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng. Tuy nhiên, sự phát triển của các đối tượng nuôi này gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật nuôi, thức ăn, quản lý bệnh, đặc biệt là sản xuất con giống nhân tạo, một trong những cơ sở quan trọng cho sự phát triển loài nuôi. Việc nghiên cứu phát triển công nghệ nuôi các loài mới đang được quan tâm, đặc biệt là các loài cá biển và cá nước lợ. Trong số các loài cá nước lợ đang được chú ý phát triển thì cá nâu (Scatophagus argus) được xếp vào nhóm có triển vọng cao, không chỉ thích hợp cho nuôi đơn mà còn có thể nuôi ghép với các loài thủy sản khác, đặc biệt là với tôm sú nhằm cải thiện môi trường nước, tăng thêm thu nhập và tạo được mô hình bền vững. Cá nâu là loài có thịt béo, vị thơm ngon, kích thước cá tương đối lớn. Hiện nay, cá nâu chỉ mới có một số nghiên cứu bước đầu về hình thái phân loại, thành phần giống loài, sự phân bố; một số đặc điểm sinh học (dinh dưỡng, sinh sản); và kỹ thuật kích thích sinh sản nhân tạo (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2004; Nguyễn Thanh Phương, 2008). Trong sản xuất giống cá nâu hiện nay tỷ lệ sống còn thấp (Nguyễn Thanh Phương, 2008) khi ương từ cá bột lên cá giống, nguyên nhân có thể là do điều kiện ương nuôi và nguồn thức ăn chưa phù hợp với đặc điểm phát triển của cá bột. Đối với ương ấu trùng thì thức ăn cùng như cách cho ăn ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá. Nên nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định được loại thức ăn thích hợp trong ương ấu trùng cá nâu để góp phần xây dựng qui trình ương cá đối đất là cần thiết. 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức thức ăn bao bồm (i) Chlorella sp. + rotifer, (ii) Chlorella sp. + rotifer + thức ăn chế biến (TACB), (iii) Chlorella sp. + TACB; (iv) rotifer; (v) rotifer + TACB, và (vi) TACB. Trong đó, rotifer sử dụng làm thức ăn trong thí nghiệm là loài 353
  3. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ Brachionus rotundiformis dòng SS có chiều dài vỏ trung bình là 134 ± 17,3 µm và chiều rộng là 115 ± 19,6 µm. Thức ăn chế biến được sử dụng là Frippark có thành phần dinh dưỡng gồm protein tối thiểu 52%, lipid tối thiểu 14,5%, chất xơ tối đa 3%, độ ẩm tối đa 10% do công ty INVE-Thailand sản xuất. Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, cá bột thí nghiệm có nguồn gốc sinh sản nhân tạo với chiều dài ban đầu trung bình là 2,01 mm. Thí nghiệm được bố trí trên hệ thống bể nhựa (chứa 10 lít nước/bể) được sục khí liên tục, nước ương có độ mặn 25‰. Cá được thả với mật độ là 50 con/lít. Chlorella sp. được cung cấp vào bể ương 1 lần vào thời điểm bố trí thí nghiệm. Rotifer và TACB được cho ăn ngay từ ngày đầu tiên. Cá được cho ăn 4 lần/ngày với khẩu phần như sau: rotifer: 5- 10 cá thể/ml/1 lần, TACB: 2-4 g/m3/ngày. Các yếu tố môi trường nước như nhiệt độ, pH được theo dõi định kỳ thu 5 ngày/lần (sáng và chiều) bằng cách đo trực tiếp bằng máy đo pH và nhiệt độ. Yếu tố đạm tổng số (TAN) và nitrite (N- NO2-) được thu 5 ngày/lần; TAN được xác định bằng phương pháp Indophenol blue và N-NO2- được xác định bằng phương pháp Griess llosvay. Mẫu cá được thu vào thời điểm ban đầu và khi kết thúc thí nghiệm để xác định chiều dài của cá, tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống. Thời gian ương là 15 ngày. Các số liệu được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích thống kê (One-way Anova với phép thử Duncan) để tìm ra sự khác biệt giữa các trung bình các nghiệm thức ở mức ý nghĩa p
  4. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ Theo Trương Quốc Phú (2003) và Boyd (1998) thì khoảng pH thích hợp từ 6-9, pH thấp làm tăng tính độc của kim loại như kẽm, đồng và nhôm, pH cao làm tăng tính độc của khí NH3. Trong quá trình thí nghiệm, pH dao động từ 8,40- 8,55 cũng là khoảng pH thích hợp cho các cá sinh trưởng và phát triển bình thường (Bảng 1). Tổng đạm (TAN) trong nước thí nghiệm dao động trong khoảng 1,16-2,22 ppm (Bảng 3.2). Boyd (1998), hàm lượng TAN thích hợp cho ao nuôi tôm cá là 0,2- 2,0 mg/l và hàm lượng NH3 phải nhỏ hơn 0,1 mg/l. Tùy theo pH và nhiệt độ, ammonia sẽ tồn tại nhiều hay ít dưới dạng khí NH3 độc hay dạng ion NH4+ thì ít độc hơn. Tỉ lệ giữa dạng khí và dạng ion bị ảnh hưởng chủ yếu bởi pH, khi pH cao thì NH3 dạng khí nhiều, ở mức pH 7,5-8,5 thì NH3 ở dạng độc là thấp nhất (Pornlerd et al., 1994). Vậy hàm lượng TAN vẫn nằm trong giới hạn cho phép để cá sinh trưởng và phát triển tốt. Bảng 2: Hàm lượng TAN và N-NO2- trung bình của các nghiệm thức Nghiệm thức TAN (mg/l) NO2- (mg/l) Chlorella sp + rotifer 1,52±1,03 0,11±0,13 Chlorella sp + rotifer + TACB 1,77±1,37 0,10±0,08 Chlorella sp + TACB 2,22±1,75 0,05±0,07 Rotifer 1,16±0,92 0,06±0,07 Rotifer + TACB 1,61±1,26 0,06±0,06 TACB 1,18±1,09 0,01±0,002 N-NO2- trong bể ương dao động từ 0,01-0,11 ppm trong suốt quá trình thí nghiệm (Bảng 3.2). Theo Boyd (1998), N-NO2- có tác dụng gây độc cho tôm cá khi lớn hơn 2 mg/l, hàm lượng thích hợp nhỏ hơn 0,3 mg/l. Vậy hàm lượng N- NO2- không ảnh hưởng đến sự phát triển của cá. Tóm lại, các yếu tố thủy lý hóa (nhiệt độ, pH, TAN và NO2-) ở các nghiệm thức của thí nghiệm không có sự biến động nhiều, sự chênh lệnh giữa sáng và chiều vẫn nằm trong khoảng giới hạn thích hợp cho sự phát triển của cá bột. 3.2 Tỷ lệ sống của cá sau 15 ngày ương Sau 15 ngày ương, tỷ lệ sống của cá giữa các nghiệm thức dao động từ 5,67- 15,7% (Hình 1) và khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức có và không có Chlorella sp. Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức không có Chlorella sp. thấp (5,3%; 5,7%) trong khi đó tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức có Chlorella sp. cao hơn (10,7%; 11,2%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
  5. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ trường nước xanh (Chlorella sp. + rotifer + TACB) thì cá cho tỷ lệ sống cao nhất (15,7%) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
  6. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ do chúng kích thước nhỏ, dinh dưỡng dễ tiêu hóa phù hợp với giai đoạn ấu trùng của cá. Thức ăn chế biến có thể xem là thức ăn gián tiếp được cá sử dụng thông qua việc giàu hóa từ tảo và rotifer. Khi cá ăn động vật phiêu sinh giúp men tiêu hóa phát triển vì vậy một phần thức ăn chế biến được tiêu hóa bởi cá bột. Tương tự, thí nghiệm của Reitan et al., (1993) kết hợp hai loài tảo I. galbana, Tetraselmis sp. và rotifer để ương cá bơn S. maximus thì tỷ lệ sống của cá đạt 28-55% sau 23 ngày ương (trích bởi Reitan et al., 1997). 3.3 Tăng trưởng của cá sau 15 ngày ương Cá tăng tưởng về chiều dài cao nhất ở nghiệm thức sử dụng 3 loại thức ăn kết hợp Chlorella sp. + rotifer + TACB (Hình 2) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
  7. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ thể sử dụng triệt để nguồn thức ăn này. Tuy nhiên, thức ăn chế biến chỉ có thể hữu ích đối với cá khi chúng kết hợp với tảo và luân trùng. 3.4 Tốc độ tăng trưởng của cá sau 15 ngày ương Sau 15 ngày ương ở nghiệm thức Chlorella sp. + rotifer + TACB có tốc độ tăng trưởng chiều dài cao nhất khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
  8. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ thức ăn chế biến trước tiên cho cá ăn luân trùng giai đoạn đầu và thay thế dần luân trùng bằng thức ăn chế biến. Tóm lại: Tảo giữ vai trò quan trọng trong trong ương cá nâu, nếu không có tảo thì tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá thấp mặc dù trong môi trường ương có luân trùng là thức ăn ưa thích và được cá lựa chọn sử dụng. Việc bổ sung thức ăn chế biến trong quá trình ương cá bột cũng là một trong những giải pháp thích hợp nhằm góp phần tăng tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá. Tăng trưởng tuyệt đối, tăng trưởng đặc biệt và chiều dài của cá đạt được sau 15 ngày ương đều có xu hướng tương tự như tỷ lệ sống của cá giữa môi trường nước trong và nước xanh. 4 KẾT LUẬN Không thể sử dụng khẩu phần có 100% thức ăn chế biến để ương cá nâu bột. Tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức Chlorella sp. + rotifer + TACB. TÀI LIỆU THAM KHẢO Boyd, C. E. 1998. Water quanlity in ponds aquaculture. Auburn University, Alabana. Dương Đức Tiến, Võ Hành, 1997. Tảo nước ngọt Việt Nam – phân loại bộ tảo lục (Chlorococcales), Nhà xuất bản Nông nghiệp. Duray, M., and T. Bagarinao , 1984.Weaning of hatchery-bred milkfish larvae from live food to artificial diets. References and further reading may be available for this article. To view references and further reading you must purchase this article. Aquaculture Department, Southeast Asian Fisheries Development Center (SEAFDEC), Tigbauan, IloiloThe Philippines. Nguyễn Thanh Phương, Võ Thành Tiếm, Trần Thị Thanh Hiền, Phạm Trần Nguyên Thảo và Lý Văn Khánh, 2004. Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng và sinh sản cá nâu (Scatophagus argus). Tạp chí nghiên cứu khoa học, Đại học Cần Thơ. (2): 51–59. Nguyễn Thanh Phương, 2008. Nghiên cứu sản xuất giống các loài thủy sản bản địa Đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài cấp Bộ - Trường Đại học Cần Thơ. (106 trang). Reitan, Y.O., J.R. Rainuzzo, G. Oie, and Y. Olsen, 1997. A review of the nutritional effects of algae in marine fish larvae. Aquaculture, 155: 207-221 Southgate, P.C., and P.S. Lee, 1993. Notes on the use of microbound artificial diets for larval rearing of sea bass (Lates calcarifer). Asian fisheries science, 6: 245-247 Takeuchi, T., 2001. A review of feed development for early life stages of marine finfish in Japan. Aquaculture, 200: 203-222. 359
  9. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 352-360 Trường Đại học Cần Thơ Yufera, M., E. Pascual, and C. Fernandez-Diaz, 1999. A highly afficient microencapsulated food for rearing early larvae of marine fish. Aquaculture, 177: 249-256. Trương Quốc Phú. (2003). Quản lý chất lượng nước trong ao nuôi cá nước ngọt. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Pornlerd, C., F.T. James., J.F. Simon., H.M. Ian and L. Chalor. (1994). Health management in shrimp ponds. Tài liệu dịch bởi Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Phương, Đặng Thị Hoàng Oanh và Trần Ngọc Hải. (2003). Quản lý sức khỏe tôm trong ao nuôi. Danida-Bộ Thủy sản. 360

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản