intTypePromotion=1

Báo cáo chuyên đề:PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN LÀM XUẤT KHẨU TĂNG CHẬM, NHẬP SIÊU TĂNG CAO SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ĐỂ TĂNG XUẤT KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU TRONG THỜI KỲ TỚI NĂM 2020

Chia sẻ: Vu Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:41

0
81
lượt xem
21
download

Báo cáo chuyên đề:PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN LÀM XUẤT KHẨU TĂNG CHẬM, NHẬP SIÊU TĂNG CAO SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ĐỂ TĂNG XUẤT KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU TRONG THỜI KỲ TỚI NĂM 2020

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'báo cáo chuyên đề:phân tích đánh giá nguyên nhân làm xuất khẩu tăng chậm, nhập siêu tăng cao sau khi việt nam gia nhập wto và các giải pháp khắc phục để tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu trong thời kỳ tới năm 2020', luận văn - báo cáo, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo chuyên đề:PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN LÀM XUẤT KHẨU TĂNG CHẬM, NHẬP SIÊU TĂNG CAO SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ĐỂ TĂNG XUẤT KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU TRONG THỜI KỲ TỚI NĂM 2020

  1. BỘ CÔNG THƯƠNG DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN EU – VIỆT NAM HOẠT ĐỘNG CB - 2A “HỖ TRỢ BỘ CÔNG THƯƠNG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2011 - 2020” BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN LÀM XUẤT KHẨU TĂNG CHẬM, NHẬP SIÊU TĂNG CAO SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ĐỂ TĂNG XUẤT KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU TRONG THỜI KỲ TỚI NĂM 2020 ThS. Nguyễn Thanh Bình Hà Nội, 9 - 2010
  2. MỞ ĐẦU Nhận thức rõ vai trò của xuất nhập khẩu (XNK) trong quá trình phát triển nền kinh tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương và quyết sách lớn để XNK phát triển nhanh chóng, ổn định và đúng hướng. Sự điều chỉnh về quan điểm và chính sách kinh tế đã đem lại những tác động tích cực trên thị trường hàng hoá, dịch vụ. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT), tự do hoá thương mại và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã tạo hiệu ứng mạnh đối với sự lưu chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu. Độ “mở” của nền kinh tế ngày càng rộng, nếu như năm 2001, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (KNXNK) hàng hoá mới bằng 90% giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP) thì đến năm 2007 chỉ số này đã là khoảng 160%. Thị trường quốc tế của Việt Nam phát triển nhanh hơn theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá. Việt Nam đã có mối quan hệ buôn bán với 221 nước và vùng lãnh thổ của cả 5 Châu lục, trong đó xuất khẩu (XK) tới 219 thị trường, nhập khẩu (NK) từ 151 thị trường. Mặt hàng xuất khẩu được đa dạng hoá về chủng loại; tăng qui mô và chất lượng; và chuyển dịch cơ cấu tích cực theo hướng tỷ trọng của nhóm sản phẩm chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng dần, tỷ trọng của nhóm sản phẩm thô và sơ chế giảm dần. Điểm nổi bật trong xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam những năm qua là đã xuất khẩu đến thị trường đích và nhập khẩu được từ thị trường nguồn. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã có tiếng và chiếm thị phần khá lớn trên thị trường thế giới. Trong thời kỳ chiến lược 2001 -2010, sau khi ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) năm 2001, tháng 11 năm 2006 nước ta đã gia nhập WTO và tháng 10/2007 nước ta chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới. Đồng thời, Việt Nam đã tiếp tục hội nhập thương mại khu vực sâu hơn trong khung khổ của 6 FTA khu vực (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJFTA, AANZFTA, AIFTA). Tỷ trọng thương mại hai chiều giữa Việt Nam với 15 đối tác đã ký FTA chiếm gần 60% tổng giá trị kim ngạch ngoại thương cùa Việt Nam, trong đó chiếm gần 50% kim ngạch xuất khẩu và gần 70% kim ngạch nhập khẩu. Nhờ hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, các rào cản 1
  3. thương mại đã giảm đáng kể nên hàng Việt Nam đã mở rộng được thị phần sang các thị trường lớn, tăng kim ngạch xuất khẩu. Từ năm 2007, nhờ hiệu ứng tích cực của việc gia nhập WTO, lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được cải thiện, dòng chảy FDI và FII vào Việt Nam tăng mạnh, sản lượng các ngành kinh tế theo định hướng xuất khẩu cũng tăng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng xuất khẩu, tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, ngay sau khi gia nhập WTO, nhập khẩu và nhập siêu của Việt Nam tăng cao, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại tác động mạnh đến các cân đối kinh tế vĩ mô, làm gia tăng tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai ... Năm 2006, tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 12,7%, năm 2007 tăng vọt lên 29,1%, năm 2008 giảm nhẹ còn 28,7%, năm 2008 vẫn ở mức 21,36% và năm 2010 còn khoảng 16,8%. Nhập siêu đồng hành với thâm hụt cán cân thu – chi dịch vụ tạo ra thâm hụt “kép” cán cân thương mại và là thành tố chính gây ra thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai. Sau khi gia nhập WTO, cán cân thanh toán vãng lai của Việt Nam bị thâm hụt trầm trọng, từ 164 triệu USD năm 2006 lên xấp xỉ 7 tỷ USD năm 2007, vọt lên 12,1 tỷ USD năm 2008 (bằng 11,8% GDP) và năm 2009 thâm hụt khoảng 8 tỷ USD (bằng 7,8%GDP). Đây là mức rất cao so với ngưỡng an toàn chung của các nền kinh tế trên thế giới (thâm hụt vượt ngưỡng 5% GDP được coi là trạng thái mất an toàn cán cân thanh toán). Với lý do nêu trên, việc nghiên cứu để làm rõ nguyên nhân của hiện tượng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại, nhập siêu tăng cao nhằm đề ra giải pháp khắc phục để tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu trong thời kỳ chiến lược 2011 – 2020 là rất cần thiết, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược cân bằng được cán cân thương mại vào năm 2020. Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học này bước đầu giải đáp vấn đề quan trọng nêu trên. Kết cấu nội dung chuyên đề gồm 3 phần: I. Khái quát chung. II. Phân tích, đánh giá một số nguyên nhân chủ yếu làm xuất khẩu tăng chậm lại, nhập siêu tăng cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO. III. Một số giải pháp để tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu thời kỳ tới năm 2020. 2
  4. I.- KHÁI QUÁT CHUNG 1. Tình hình tăng trưởng xuất nhập khẩu và nhập siêu của Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay - Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng bình quân 17%/năm, thấp hơn 2,15 điểm phần trăm so với giai đoạn 2001-2005 (19,15%/năm). Kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng bình quân 17,17%/năm, thấp hơn 1,48 điểm phần trăm so với giai đoạn 2001-2005, nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của giai đoạn 2008-2010 0,17 điểm phần trăm. Thời kỳ 2001-2010, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 17,3%/năm nhưng kim ngạch nhập khẩu đã tăng bình quân 18,2%/năm, nhanh hơn 1,2 lần so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu (riêng giai đoạn 2006-2010 nhanh hơn 1,05 lần), nhập siêu tăng cao trong giai đoạn 2006-2010, đỉnh điểm là năm 2007 và 2008. - Nhập siêu từ khu vực thị trường ASEAN có xu hướng giảm xuống còn từ Trung Quốc tăng nhanh. Năm 2009 Trung Quốc chiếm 89,72% giá trị nhập siêu của Việt Nam. (Xem bảng 1) Bảng 1: Tăng trưởng xuất nhập khẩu và tình trạng nhập siêu của Việt Nam 2006-2010 Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2009 Ứớc 2010 1.Xuất khẩu (FOB) Tr. USD 39.826 48.561 62.685 57.096 71.000 Tăng trưởng % 22,74 21,33 29,1 - 8,91 24,3 2.Nhập khảu (CIF) Tr. USD 44,891 62.682 80,714 69.949 83.000 Tăng trưởng % 22,1 39,8 28,6 -13,3 19,17 3.Nhập siêu Tr. USD -5.064 -14.204 -18.029 -12.853 -12.000 Tỷ lệ NS/XK % 12,71 29,24 28,76 22,51 16,9 4.Nhập siêu từ Tr. USD -5.913 -7.950 - 9.376 - 5.227 (8T) ASEAN -3.458 Tỷ lệ 4/3 % 116,74 55,97 52,0 40,66 20,46 3
  5. 5.Nhập siêu từ Tr. USD -12.588 -22.93825.478 -16.567 (8T) ASEAN + 3 -13.340 Tỷ lệ 5/3 % 248,5 163,5 141,0 128,9 111,16 6.Nhập siêu từ Tr. USD -4.361 - 9.145 -11.117 -11.532 (8T) Trung Quốc -8.000 Tỷ lệ 6/3 % 86,1 64,38 61,66 89,72 47,33 Nguồn: Cục công nghệ Thông tin và thống kê hải quan 2. Khái quát bối cảnh và nguyên nhân làm xuất khẩu tăng chậm, nhập siêu tăng cao sau khi Việt Nam gia nhập WTO (1) Về mặt chủ quan, việc xây dựng chiến lược xuất nhập khẩu thời kỳ 2001- 2010 chưa phù hợp với tính chu kỳ của nền kinh tế thế giới và trong nước, chưa phù hợp với bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam. “Chiến lược xuất nhập khẩu thời kỳ 2001- 2010” được xây dựng trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam đang ở đáy của kỳ suy thoái để chuyển sang giai đoạn phục hồi và tăng trưởng. Kết quả 5 năm đầu thực hiện chiến lược, hầu hết các chỉ tiêu về qui mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu đều không phù hợp (cao hơn) so với mục tiêu Chiến lược đã đề ra. Để phù hợp với bối cảnh mới khi Việt Nam gia nhập WTO, ký kết các FTA khu vực, kinh tế thế giới và Việt Nam đang ở kỳ tăng trưởng cao ..., ngày30/6/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 156/2006/QĐ- TTg phê duyệt Đề án : “Phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010”. Trong đó, đã điều chỉnh một số chỉ tiêu cụ thể theo hướng nâng qui mô, tốc độ và chất lượng tăng trưởng cao hơn so với các chỉ tiêu đã xác định trong chiến lược, nhưng lại không phù hợp với trạng thái kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam sau khi đạt ngưỡng tăng trưởng cao trong các năm 2007 -2008 đã bước vào kỳ suy giảm mạnh trong các năm 2009 -2010. Vì thế, phần lớn các chỉ tiêu về qui mô và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu đã xác định trong Đề án đều cao hơn kết quả thực hiện. 4
  6. (2) Hội nhập WTO và hội nhập các FTA chưa thu được lợi ích quốc gia như kỳ vọng, có những hiệu ứng bất lợi không mong muốn. Quá trình hội nhập các FTA chưa phù hợp với định hướng điều chỉnh chiến lược thị trường. Hệ thống luật pháp và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhập WTO và các FTA còn bất cập. Kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng phát triển thương mại và dịch vụ logistics còn yếu kém. Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập các FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu đàm phán ký kết các điều ước quốc tế về thương mại và thực hiện các cam kết. Sự thiếu đồng bộ giữa chiến lược phát triển xuất khẩu và sự tham gia 6 FTA khu vực cũng là nguyên nhân chủ quan dẫn tới cơ cấu xuất, nhập khẩu không chuyển dịch theo mong muốn của ta trong chiến lược và đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010. (3) Những hạn chế, yếu kém trong phát triển xuất nhập khẩu 10 năm qua do những tác động bất lợi của bối cảnh kinh tế thế giới và tình hình kinh tế trong nước. Nổi cộm là sự biến động mạnh của thị trường nguyên, nhiên vật liệu thế giới các năm 2007 – 2008, tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay làm nhu cầu nhập khẩu của thị trường thế giới sụt giảm, các điều kiện về tài chính trên thị trường toàn cầu trở nên khó khăn hơn. Kinh tế thế giới tăng trưởng cao đạt ngưỡng vào năm 2008 sau đó sụt giảm mạnh trong các năm 2009 – 2010. Sức ép cạnh tranh quốc tế mà nhất là cạnh tranh với hàng xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng gay gắt. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và các rào cản thương mại ngày càng tinh vi hơn. Sự biến động mạnh của tỷ giá giữa các đồng tiền mạnh, nhất là của đồng Nhân dân tệ và đô la Mỹ dẫn đến rủi ro hối đoái ngày càng lớn ... Tình hình kinh tế trong nước cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn do các yếu tố nội tại và do tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Nổi cộn là lạm phát tăng cao trong các năm 2006 – 2007, nền kinh tế từ trạng thái tăng trưởng “nóng” trong các năm 2003 – 2007 chuyển sang suy giảm mạnh trong các năm 2008 -2010, đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm, cán cân thanh toán vãng lại bị thâm hụt lớn, tình trạng “bong bóng” của thị trường chứng khoán và tình trạng “đô la hoá”, “vàng hoá” của nền kinh tế ... chậm được khắc phục. 5
  7. (4) Tốc độ và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thấp, chủ yếu do các nguyên nhân nội tại của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu vẫn đang chủ yếu dựa vào tăng trưởng đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư rất thấp, hệ số ICOR tăng nhanh từ mức 4,4 trong giai đoạn 2001 – 2006 lên 5,3 trong năm 2007 và 6,55 trong năm 2008, xấp xỉ 7,0 trong năm 2009 – 2010, cao hơn 2 lần các nước trong khu vực khi ở giai đoạn công nghiệp hoá tương tự như Việt Nam. Cơ cấu đầu tư mất cân đối, thiên về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư hình thành tài sản vốn con người và khoa học công nghệ thấp. Tốc độ đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ toàn nền kinh tế chỉ đạt 6 – 7%/năm. Tỷ lệ đầu tư cho R & D trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp chỉ đạt bình quân 0,1 – 0,2%, riêng các ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp mũi nhọn tỷ lệ này cũng chỉ đạt 0,2 -0,25%. Trong các động năng tăng trưởng của nền kinh tế thời kỳ 2001 – 2010, yếu tố năng suất lao động chỉ đóng góp gần 30%, yếu tố vốn đóng góp khoảng 50% và yếu tố lao động đóng góp khoảng 20%. Chỉ số tăng năng suất lao động tổng hợp (TFP) của nền kinh tế vẫn đang có xu hướng giảm từ 2,56%/năm trong giai đoạn 1996 – 2000, còn khoảng 1,7%/năm trong giai đoạn 2001 -2009. Chỉ số MVA/GO (giá trị gia tăng công nghiệp so với giá trị tổng sản lượng công nghiệp) tiếp tục giảm từ 38,4% trong năm 2000 xuống 24,8% trong năm 2008 và 21,2% trong năm 2009. Chỉ số giá trị gia tăng so với doanh thu của thương mại trong nước thời kỳ 2001 – 2009 không có xu hướng tăng mà chỉ dao động ở mức 24 – 29%. Tỷ lệ khai thác năng lượng so với thu nhập quốc dân vẫn đang có xu hướng tăng nhanh từ 9 – 12% trong giai đoạn 2000 -2004 lên 15 – 22% trong giai đoạn 2005 – 2009. Mức tiết kiệm năng lượng của công nghiệp Việt Nam thấp hơn mức tiết kiệm điện trung bình của thế giới, của khu vực (thời kỳ 1990-2005, mức tiết kiệm điện bình quân của Việt Nam là – 3,4% của Trung Quốc là + 3,3%). (5) Nhóm hàng công nghiệp chế biến tuy đang có lợi thế cạnh tranh về giá nhân công rẻ, phát triển theo định hướng xuất khẩu, chiếm tới 43 – 45% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp nhưng chỉ chiếm dưới 30% tổng MVA toàn ngành công nghiệp và đã có xu hướng giảm từ 30% trong năm 2000 xuống 23.5% trong năm 2007 và còn 20% trong năm 2009, hoạt động gia công lằp ráp là chủ yếu, phụ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nước ngoài và thích ứng chậm với 6
  8. những biến động của thị trường thế giới. Nhóm hàng thô và sơ chế còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu (45 – 50%), độ co giãn về cung với thị trường thế giới rất nhỏ, sản xuất trong nước chậm thích ứng với những biến động của thị trường thế giới. (6) Khu vực FDI là nhóm chủ thể chính đáng góp cho tăng trưởng xuất khẩu, nhất là nhóm hàng chế biến xuất khẩu. Nhưng tỷ trọng vốn FDI đăng ký vào công nghiệp chế biến trong tổng FDI đăng ký vào Việt Nam đã có xu hướng giảm liên tục từ 70,4% trong năm 2005 xuống 68,9% trong năm 2006, 51,0% trong năm 2007, 36% trong năm 2008 và còn 30% trong năm 2009, đã làm giảm nguồn hàng chế biến xuất khẩu trong các năm cuối của thời kỳ chiến lược 2001 – 2010. Ngay trước và sau khi gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài đã điều chỉnh cơ cấu đầu tư từ các ngành công nghiệp chế biến định hướng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động, có giá trị sản lượng lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp và gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ sang các ngành công nghiệp khai thác và lĩnh vực bất động sản, tuy sử dụng nhiều vốn nhưng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Tỷ suất lợi nhuận (trước thuế) của những ngành thay thế nhập khẩu, công nghiệp khai thác và kinh doanh tài sản cao hơn nhiều so với các ngành định hướng xuất khẩu. Năm 2006, tỷ suất lợi nhuận của ngành dệt là 0,11%, may mặc là 0,61%, da giày là 0,05%, đồ gỗ là 0,19%. Mặt khác, trước năm 2005, đa số vốn FDI được tập trung vào các ngành cơ khí, chế tạo có hệ số bảo hộ cao (một số ngành có hệ số bảo hộ trên 80% như ô tô, xe máy, thiết bị điện ...) nhằm thay thế hàng nhập khẩu. Từ sau năm 2005, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dòng vốn FDI đã có sự chuyển hướng mạnh từ các ngành công nghiệp chế biến có hệ số bảo hộ giảm mạnh và có giá trị gia tăng thấp, sang các ngành khai khoáng và khí đốt, lĩnh vực kinh doanh tài sản, khách sạn, nhà hàng là những lĩnh vực có hệ số bảo hộ giảm ít nhưng hiệu quả đầu tư cao. Tỷ lệ bảo hộ thực tế của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã giảm mạnh từ 40,38% năm 2005 xuống 28% năm 2009 (và dự ước còn 21,1% vào năm 2015), tỷ lệ bảo hộ thuế quan của những ngành này cũng giảm từ 19,45% năm 2005 xuống 13,7% năm 2009( và ước còn 10,65 vào năm 2015). Trong khi đó, tỷ lệ bảo hộ thực tế của các ngành khai khoáng chỉ dao động từ 4,39% năm 2005 đến 4,43% năm 2009 (và còn 0,29 vào năm 2015); bảo hộ thuế quan trong 7
  9. thời gian tương ứng là 3,85%, 3,38% (và 0,17%). Vì thế, ngay sau khi gia nhập WTO, tỷ trọng vốn FDI đăng ký vaà công nghiệp khai thác tài nguyên đã tăng vọt từ 1,2% năm 2007 lên 17,5% năm 2008 va khoảng trên 20% năm 2010, vào lĩnh vực kinh doanh tài sản cũng tăng mạnh từ 15,2% năm 2006 lên 28,6% năm 2007 và hiện nay là khoảng 30%, riêng vào khách sạn, nhà hàng tăng từ 4,2% năm 2006 lên 15,1% năm 2008. Đây là yếu tố quan trọng làm giảm nguồn hàng xuất khẩu và tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã giảm từ mức 57,9% trong năm 2006 xuống 57,5% trong năm 2007, 42,35 trong năm 2009 và khoảng 47% trong năm 2010. (7) Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển và chưa có nhiều tập đoàn đa quốc gia thiết lập cơ sở sản xuất cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương ở Việt Nam. Đây là điểm khác biệt giữa Việt Nam với các nước ASESN 6, các nước này đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia đặt cơ sở sản xuất cho khu vực tại nước họ nên kim ngạch xuất khẩu linh kiện điện tử, máy móc thiết bị điện và cơ khí chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này sang Trung Quốc (được mệnh danh là công xưởng thế giới). Trong giai đoạn 2001 – 2007, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm sản phẩm này của Việt Nam chỉ đạt 8,7% trong kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc, chỉ số tương ứng của Philippin là 88,75, của Malaysia là 70%, của Thái Lan là 52,5%. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khách quan của việc nước ta chưa thể cân bằng được cán cân thương mại với Trung Quốc, điều mà các nước ASEAN đã làm được. (8) Trong cấu trúc nhập khẩu giai đoạn 2000 – 2005, chúng ta đã có bước thụt lùi về công nghệ : giảm nhập khẩu công nghệ Trung – cao (- 6,5%) để tăng nhập khẩu công nghệ trung - thấp (+ 7,4%) đã tác động làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu trong giai đoạn 2006 – 2010 và các năm tiếp theo. (9) Nhập khẩu và nhập siêu tăng cao có nguyên nhân chủ yếu từ các yếu tố nội tại của nền kinh tế, mở cửa thị trường nội địa sau khi hội nhập WTO và hội nhập các FTA, biến động của thị trường nguyên nhiên vật liệu thế giới ... Do mong muốn đạt được mức tăng trưởng GDPcao trong khi hiệu quả đầu tư thấp đã tạo ra vòng xoáy đầu tư tăng cao làm tăng nhu cầu nhập khẩu, nhưng hiệu quả đầu tư thấp nên giảm nguồn hàng xuất khẩu, mất cân bằng xuất -nhập và 8
  10. nhập siêu tăng cao. Trong giai đoạn 2006 -2007, tính theo giá so sánh 1994, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư xã hội luôn ở mức cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP (năm 2005 là 13%, năm 2006 là 13,7% và năm 2007 là 25,8%, gấp trên 4 lần tốc độ tăng GDP). Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đã tăng từ 29,6% trong năm 2000 lên 45,6% trong năm 2007 và 43,1% trong năm 2008, nhưng hiệu quả đầu tư thấp và chậm được cải thiện (Đài Loan đạt tốc độ tăng trưởng GDP ở mức bình quân 10%/năm trong 18 năm liên tục nhưng tỷ lệ dtúv GDP chỉ ở mức 25%). Do hệ số ICOR cao (hiệu quả đầu tư thấp), đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm gần 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng lại kém hiệu quả hơn đầu tư của khu vực tư nhân nên hệ số ICOR chung của nền kinh tế càng tăng cao. Trong cơ cấu đầu tư xã hội, tỷ trọng vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh tài sản, khách sạn, nhà hàng có xu hướng càng lớn từ năm 2005 đến nay, về cơ bản đã không làm tăng năng suất (nhu cầu đầu tư máy móc, thiết bị ..) cũng như không tạo ra các sản phẩm xuất khẩu để cải thiện cán cân thương mại, nhưng lại làm tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, nhất là vật liệu xây dựng cao cấp. Do đầu tư tăng cao, năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, dẫn đến chi phí sản xuất cao, làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm và nền kinh tế thấp, làm giảm năng lực xuất khẩu và tăng nhu cầu nhập khẩu. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp còn hạn chế, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn cao so với các nước trong khu vực, nhất là các chỉ số tiêu hao nguyên nhiên liệu, vật tư cho sản xuất chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu giá thành sản phẩm ... làm tăng nhu cầu nhập khẩu không hiệu quả. Do vậy, khí giá cả các loại nguyên nhiên vật liệu thế giới tăng cao trong giai đoạn 2006 – 2008, càng làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của ta tăng cao hơn các nước trong khu vực, dẫn đến song trùng với lạm phát là nhập siêu tăng cao trong giai đoạn các năm 2007 – 2008. (10) Từ cuối năm 2006 và đặc biệt là năm 2007, lượng vốn đầu tư tăng cao, đặc biệt là FDI và FII chảy vào Việt Nam tăng đột biến, làm cho đồng Việt Nam tăng giá so với các ngoại tệ khác. Trong bối cảnh nhập siêu lớn, kim ngạch nhập khẩu gần bằng 90% GDP. giá nhập khẩu tăng “kép” do vừa tăng giá tính bằng USD vừa tăng giá do tỷ giá giữa VNĐ với các ngoại tệ của 19 nước buôn bán lớn với Việt Nam đã tăng khoảng 12%, tỷ giá USD/VNĐ tăng lên, gây ra 9
  11. hiện tượng “nhập khẩu lạm phát”, khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, tăng nhập siêu trong các năm 2007-2008. (11) Mức tiết kiệm thấp so với nhu cầu đầu tư trong nước, hiệu ứng tài sản do tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán và tăng giá bất động sản làm cho tiêu dùng, nhất là tiêu dùng của khu vực tư nhân tăng cao đột biến trong các năm 2006 -2008, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ tăng cao. Mức tiết kiệm trung bình của nước ta chỉ tăng từ 8,5% trong giai đoạn 1995 - 2000 lên 8,6% trong giai đoạn 2001 – 2008, trong khi đó tổng chi tiêu quốc gia đã tăng từ 9% lên 12% trong cùng thời kỳ, và nguồn vốn cố định cho đầu tư cũng gia tăng trung bình từ 1,7% lên 2,3% trong thời gian tương ứng. Tiêu dùng của dân cư tăng đột biến đã làm cho nhu cầu nhập khẩu và nhập siêu tăng cao. Năm 2007 so với năm 2006, kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc tăng 171,8%, riêng xe dưới 12 chỗ ngồi tăng 408%; 6 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc tăng 375%, xe dưới 12 chỗ tăng 556%, linh kiện ô tô tăng 271%. (12) Qui mô sản xuất trong nước một số ngành hàng còn nhỏ, năng lực sản xuất chưa đạt qui mô thay thế hoàn toàn hàng nhập khẩu, cung trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu nội địa (ngành hàng giày dép: 83%, dầu mỡ động thực vật : 68%, sản phẩm sữa: 78%, phương tiện vận tải: 50%, phân bón các loại: 60% ...) nên vẫn phải nhập khẩu số lượng lớn. (13) Nhập khẩu tăng cao còn do nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Các ngành công nghiệp hỗ trợ, ngành công nghiệp dệt của Việt Nam chưa phát triển nên ta vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn vải, sắt thép, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện để phục vụ sản xuất trong nước, tạo nguồn hàng xuất khẩu ... Dịch vụ logistics và dịch vụ bảo hiểm hàng hoá XNK chậm phát triển, nhất là dịch vụ vận tải biển mới chiếm khoảng 22 -24% thị phần hàng hoá xuất khẩu và chiếm khoảng 18-20% thị phần hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam, nên chi phí bảo hiểm và vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu cao, chiếm gần 40% kim ngạch nhập dịch vụ, cũng tác động làm tăng nhập siêu và thâm hụt cán cân vãng lai. Trong 3 năm 2005-2007, nước ta phải chi trả 6 tỷ USD cho nước ngoài về chi phí bảo hiểm và vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu, 10
  12. chiếm 35,7% tổng chi dịch vụ cùng giai đoạn và là thành tổ chính làm thâm hụt cán cân dịch vụ, cán cân vãng lai của Việt Nam. (14) Mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào bên ngoài về nguyên nhiên vật liệu và máy móc thiết bị ngày càng lớn, nhất là từ năm 2006 đến nay, là nguyên nhân chính làm tăng nhập khẩu, tăng nhập siêu. Trong giai đoạn 2006 -2010, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch nhập khẩu và bằng khoảng 56 -57% tổng GDP cùng giai đoạn. Đến giữa năm 2009, mức độ nhập khẩu đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước đối với xăng dầu là 100%, công nghệ khoảng 90%, máy móc thiết bị khoảng 80%, nguyên phụ liệu sản phẩm điện từ trên 90%, sản phẩm gỗ gần 80%, sản phẩm nhựa trên 60%, sản phẩm dệt may và da giầy khoảng 75%, sản phẩm hoá chất trên 80%, sản phẩm thép trên 50%, sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên 70%, sản xuất thuốc chữa bệnh khoảng 80% ... Do mức độ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài cao, khi thị trường nguyên nhiên vật liệu thế giới biến động tăng giá mạnh trong các năm 2007 – 2008, đã tác động mạnh làm tăng kim ngạch nhập khẩu, tác động bất lợi đến sản xuất hàng xuất khẩu và làm tăng nhập siêu. Ước tính, năm 2007, do tăng giá nguyên nhiên vật liệu nên kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đã tăng thêm 7,5 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch nhập khẩu, các chỉ số tương ứng của năm 2008 là 8,8 tỷ USD và chiếm 11%. (15) Hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập WTO và hội nhập các FTA là nguyên nhân quan trọng dẫn đến nhập khẩu và nhập siêu tăng cao từ khu vực thị trường châu Á. Từ năm 2007, thực hiện cam kết gia nhập WTO, chúng ta phải giảm mức thuế suất bình quân toàn biểu thuế nhập khẩu từ mức hiện hành 17,2% xuống 13,4% trong vòng 7năm, riêng sản phẩm nông nghiệp giảm từ mức thuế suất bình quân 25,2% xuống 21%, sản phẩm công nghiệp giảm từ mức thuế suất bình quân 16,15% xuống 12,6%. Từ 01/01/2009 nước ta phải mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ phân phối. Cam kết thuế quan và mở cửa thị trường trong 6 FTA đã tham gia đều có mức tự do hoá cao hơn mức cam kết gia nhập WTO cuả Việt Nam. Khoảng 90% dòng thuế nhập khẩu với khung cắt giảm xuống 0% trong vòng 10 năm, có một số ít tỷ lệ dòng thuế được kéo dài thêm 2 - 6 năm (cam kết trong FTA có 99% số dòng thuế, trong AJCEP có 88,6% số dòng thuế). Mức độ bảo hộ thuế quan đối với nhóm hàng nhạy cảm thường được 11
  13. giảm thuế suất xuống mức 5% chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các đối tác (trong ACFTA: 17,45%, trong AKFTA: 15,81%, trong AJCEP: 2,2%, AANZFTA: 4,7%, trong AIFTA: 10,25%). nhóm hàng bảo hộ cao giảm thuế suất xuống mức khoảng 40 – 50% hoặc được phép loại trừ cũng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ các đối tác FTA (trong ACFTA: 9,1%, trong AKFTA: 5,71%, trong AJCEP: 5,495, trong AANZFTA: 2,2%, trong AIFTA: 6,61%). Việt Nam bắt đầu lộ trình cắt giảm thuế quan theo cam kết CEPT/AFTA từ năm 1999 đến 1/1/2006 đã hoàn thành giảm 99% dòng thuế thuộc danh mục thông thường xuống dưới 5%. Bắt đầu lộ trình giảm thuế theo cam kết ACFTA từ 01/07/2005, theo cam kết AKFTA từ 01/06/2007, theo cam kết AJCEP từ năm 2008, theo VJEPA từ 01/01/2009, theo AANZFTA từ 01/01/2010 và theo AIFTA từ 01/06/2010. Việc cắt giảm thuế, dỡ bỏ các rào cản phi thuế, thuận lợi hoá thương mại theo các cam kết gia nhập WTO, các cam kết trong 6 FTA khu vực đã tác động làm tăng nhập khẩu, nhất là tăng nhập khẩu từ khu vực thị trường các đối tác đã ký FTA (trong giai đoạn 2007 -2010, giá trị nhập khẩu từ ASEAN +6 chiếm khoảng 67% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam). Tỷ trọng của khu vực thị trường châu Á trong tổng kim ngạch nhập khẩu của ta đã không giảm xuống như mong muốn trong định hướng chiến lược thị trường mà ngược lại, đã có xu hướng tăng lên trên 80% ở cuối thời kỳ chiến lược 2001 – 2010. (16) Trung Quốc đã trỗi dậy nhanh, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, điều chỉnh chiến lược thị trường từ Tây sang Đông, thực hiện chiến lược “Một trục hai cánh” và chính sách hướng Nam, tận dụng tốt các cơ hội từ thuận lợi hoá thương mại trong ACFTA để đẩy mạnh xuất khẩu và tăng thị phần ở Việt Nam, làm cho nhập siêu của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc tăng cao. II. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG LÀM TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU CHẬM LẠI, NHẬP SIÊU TĂNG CAO SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 1. Tác động của tính chu kỳ kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam đến tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu. 12
  14. Tăng trưởng xuất khẩu có quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế. Chu kỳ tăng trưởng xuất khẩu đồng biến với chu kỳ tăng trưởng kinh tế. Sự giảm nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010 mang tính tất yếu khách quan xét theo góc độ tính chu kỳ của nền kinh tế. Trong 30 năm qua, chu kỳ tăng trưởng kinh tế thế giới thường 5 - 7 năm (tăng trưởng cao khoảng 5 – 7 năm sau đó bước vào kỳ suy thoái khoảng 5 – 7 năm rồi tiếp sau lại bước vào kỳ tăng trưởng mới 5 – 7 năm ...). Theo dõi chu kỳ kinh tế từ năm 1990 đến nay cho thấy, tính theo giá thực tế, trong giai đoạn 1991 -1995 kinh tế thế giới đạt tốc độ tăng trưởng cao, ở mức bình quân 7,6%/năm, đạt đỉnh vào năm 1995 là 10,94%, sau đó chuyển vào kỳ suy giảm trong giai đoạn 1996 – 2001 với tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ 1,23%/năm, đáy là năm 2001 với mức tăng trưởng – 0,6% so với năm 2000 (theo định nghĩa của IMF thì tốc độ tăng trưởng ở ngưỡng dưới 3%/năm gọi là suy thoái). Trong điều kiện hội nhập, kinh tế Việt Nam cũng gắn liền với tính chu kỳ của kinh tế thế giới, sau khi đạt tốc độ tăng trưởng cao ở mức bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991 – 1995, kinh tế Việt Nam đã bước vào kỳ suy giảm và chỉ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 6,9%/năm trong giai đoạn 1996 – 2000. Sau kỳ suy giảm nêu trên, kinh tế thế giới đã bước sang kỳ tăng trưởng mới trong giai đoạn 2002 – 2008, tăng trưởng bình quân 9,7%/năm (theo giá thực tế), đạt đỉnh vào năm 2007 và mức tăng trưởng 12,69% sau đó lại bước vào kỳ suy giảm từ năm 2009 đến nay và rất có thể kéo dài đến sau năm 2012 mới bước sang kỳ tăng trưởng mới, đáy của kỳ suy giảm hiện nay là năm 2009 tăng trưởng – 5,4% so với năm 2008, năm 2010 dự ước tăng 2,5% so với 2009. Tương tự, kinh tế Việt Nam sau kỳ suy giảm 1996 – 2000 đã bước vào kỳ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2001 -2007, tăng trưởng bình quân 7,7%/năm (theo giá cố định 1994), đỉnh là năm 2007 tăng trưởng 8,5% so với năm 2007, sau đó đã bước vào kỳ suy giảm từ năm 2008 đến nay và có thể sẽ kéo dài đến năm 2012 mới chuyển sang kỳ tăng trưởng mới (năm 2009 tăng trưởng 5,3%, năm 2010 tăng trưởng khoảng 6,7%, năm 2011 dự ước chỉ khoảng 7%). Xuất khẩu toàn cầu và xuất khẩu của Việt Nam có quan hệ hữu cơ với tính chu kỳ kinh tế. Xem bảng sau 13
  15. Bảng 2: Quan hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế theo tính chu kỳ kinh tế I. Thế giới 1991-1995 1996-2001 2002-2008 2009-2010 1. Tăng trưởng kinh 7,6 1,23 9,7 1,5% (ước tế. BQ %/năm 2010 tăng (giá thực tế) 2,5%) 2. Tăng trưởng XK 8,1 3,0 14,6 - 8,5 (ước BQ %/năm 2010 tăng 7%) 3. Tỷ lệ 2/1 (l ần) 1,065 2,44 1,505 - 5,66 II. Việt Nam 1991-1995 1996-2001 2002-2008 2008-2010 1. Tăng trưởng kinh 8,2 6,9 7,75 5,8 tế. BQ %/năm (giá SS 1994) 2. Tăng trưởng XK 1,8 21,6 18,85 13,5 BQ %/năm 3. Tỷ lệ 2/1 (lần) 2,17 3,13 2,43 2,32 Nguồn: - Niên giám thống kê các năm từ 1990 đến 2009 - Cục Công nghệ thông tin và thống kê hải quan - IMF, Ngân hàng ADB, WB: Thống kê kinh tế tài chính các nền kinh tế, công bố hàng năm. Tăng trưởng nhập khẩu cũng có quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế và cũng có quan hệ hữu cơ với tính chu kỳ của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhìn vào bảng số liệu thống kê số 2 và 3 cho thấy, ở vào kỳ tăng trưởng của nền kinh tế, so với tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu thường cao hơn so với xuất khẩu, và ngược lại, ở vào kỳ suy thoái kinh tế, so với tốc độ tăng GDP thì 14
  16. tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thường cao hơn so với nhập khẩu. Điều đó đúng với cả nền kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam. Bảng 3: Quan hệ giữa tăng trưởng nhập khẩu với tăng trưởng kinh tế theo tính chu kỳ kinh tế I. Thế giới 1991-1995 1996-2001 2002-2008 2009-2010 1. Tăng trưởng kinh 7,6 1,23 9,7 2,25 tế BQ %/năm (giá thực tế) 2. Tăng trưởng NK 7,8 3,45 13,7 - 7,5 (ước năm 2010 BQ %/năm tăng 7%) 3. Tỷ lệ 2/1 (lần) 1,02 2,8 1,41 - 5,0 II. Việt Nam 1991-1995 1996-2000 2001-2007 2008-2010 1. Tăng trưởng kinh 8,2 6,9 7,75 5,8 tế (giá SS 1994) BQ %/năm 2. Tăng trưởng NK 26,0 14,0 22,25 9,8 BQ %/năm 3. Tỷ lệ 2/1 (lần) 3,17 2,02 2,87 1,68 Nguồn: - Số liệu thống kê trong các Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, công bố hàng năm - Cục công nghệ thông tin và thống kê hải quan - IMF, WB. ADB. Mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu so với tốc độ tăng GDP theo tính chu kỳ kinh tế qua hai bảng số liệu trên cho thấy, ở vào kỳ tăng trưởng của nền kinh tế, nhập khẩu tăng cao hơn để đáp ứng nhu cầu nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị cho đầu tư tăng cao (điều này tể hiện rõ nét đối với trường hợp mô hình Việt Nam). Ngược lại, ở kỳ suy thoái do đầu tư sụt giảm mạnh nên nhu cầu nhập khẩu cũng giảm xuống nhiều hơn so với xuất 15
  17. khẩu. Điều này càng phù hợp với trường hợp mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu và mô hình tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu dựa vào các ngành sản xuất hướng về xuất khẩu sử dụng nhiều lao động như Việt Nam. Bởi lẽ, ở kỳ suy thoái kinh tế, quốc gia phải nỗ lực gia tăng xuất khẩu để tăng việc làm và thu nhập, tăng thêm nhu cầu để kiến thiết sản xuất, góp phần phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cũng trong kỳ suy thoái kinh tế, quốc gia phải hạn chế tiêu dùng hàng ngoại để tiết kiệm ngoại tệ, hạn chế nhập khẩu, giảm nhập siêu để ổn định kinh tế vĩ mô (trong kỳ suy thoái thì nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô được đặt lên vị trí số 1 trong các nỗ lực của Chính phủ; ngược lại, trong kỳ tăng trưởng thì mục tiêu tăng trưởng nhanh được đặt lên vị trí ưu tiên số 1). Như vậy, có thể nhận định rằng, nhập khẩu và nhập siêu tăng cao so với xuất khẩu trong các năm 2006 – 2008 (ngay trước và sau khi gia nhập WTO của Việt Nam) không phải chủ yếu do việc gia nhập WTO tác động mà là do sự chi phối của tính chu kỳ kinh tế là chủ yếu. Và đó là hiện tượng hợp qui luật kinh tế. Sự gia tăng nhập khẩu và nhập siêu các năm đó là sự gia tăng tự nhiên của nền kinh tế bước vào đỉnh của kỳ tăng trưởng. Mặt khác, việc giảm được tỷ lệ nhập siêu trong 2 năm 2009 – 2010 do tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt bình quân 13,5%/năm trong khi tăng nhập khẩu chỉ đạt bình quân 9,8%/năm cũng là hiện tượng hợp qui luật, do tính chu kỳ kinh tế chi phối một cách tự nhiên chứ không phải chủ yếu do nguyên nhân tác động chủ quan của Nhà nước ta. 2. Tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu - Tác động đến sức mua và nhu cầu thế giới Kinh tế Việt Nam chịu tác động của khủng hoảng tài chính thế giới đang gây khó khăn cho Việt Nam thực hiện mục tiêu chiến lược. Quá trình hội nhập của Việt Nam trên 10 năm qua kể từ khi Việt Nam gia nhập khối Các nước Đông Nam Á – ASEAN, và đặc biệt là 4 năm sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mang lại những tác động tích cực trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tham gia quá trình hội nhập với kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng không tránh khỏi các tác động tiêu cực mà đặc biệt là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ và lan rộng ra toàn 16
  18. thế giới từ cuối năm 2007. Nếu như quá trình hội nhập trong những năm qua đã có tác động tích cực vào phát triển kinh tế Việt Nam qua hai kênh chính yếu là tăng xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, thì khi kinh tế thế giới bị khủng hoảng, chúng ta lại chịu ảnh hưởng ngược lại của hai nhân tố này. Hai nhân tố này có đóng góp cao cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm qua, vì vậy khi khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tiêu cực đến hai nhân tố này đã tác động làm suy thoái tốc độ tăng trưởng GDP. Do đó, chúng ta sẽ khó đạt được mục tiêu mong muốn. Bởi lẽ, trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái chung, đặc biệt là kinh tế Mỹ, hàng hoá ứ đọng chờ người mua, giá cả suy giảm, đầu tư, sản xuất giảm làm tình trạng thất nghiệp thêm trầm trọng. Theo đánh giá của IMF, do nhu cầu tiêu dùng của thế giới giảm, làm đầu tư giảm nên mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm từ 3,7% năm 2008 xuống còn - 5,4% năm 2009 và năm 2010 chỉ tăng 2,5% so với năm 2009. Khối lượng thương mại, dịch vụ của thế giới cũng giảm từ 4,6% năm 2008 xuống còn 2,15 năm 2009, trong đó nhập khẩu vào các nền kinh tế phát triển là số âm (1,8% năm 2008 và âm - 0,1% năm 2009), và xuất khẩu của các nền kinh tế này giảm từ 4,1% năm 2008 xuống 1,2% năm 2009. Trong khi đó thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vào các nền kinh tế phát triển gồm thị trường Mỹ năm 2007 là 21%, Nhật là 12,5%, các nước EU khoảng trên 15%, Úc là 7,3%, Trung Quốc là 6,9%, Singapore là 4,6% ... Như vậy, việc tiêu thụ hàng hoá của các nước này giảm mạnh trong các tháng cuối năm 2008 và kéo dài (nhập khẩu giảm mức âm) vào năm 2009 cũng có ảnh hưởng mạnh đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Dù là qui mô kinh tế nhỏ, nhưng xuất khẩu đã đóng góp gần 34% (2009) cho tăng trưởng GDP của Việt Nam, khi xuất khẩu giảm sẽ làm cho GDP giảm tương ứng. Tác động của yếu tố thứ hai là nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam qua các kênh đầu tư trực tiếp, gián tiếp đã không giải ngân theo số đăng ký hoặc thời gian cam kết. Tình hình thực hiện vốn FDI của Việt Nam gặp khó khăn, theo số liệu thống kê công bố vốn FDI đăng ký năm 2008 đạt khoảng 64 tỷ USD và vốn thực hiện là 11,5 tỷ USD, thấp hơn so với dự kiến là 0,5 tỷ USD. Đây là số vốn FDI cao nhất từ trước đến nay, song đa số các dự án FDI lại đầu tư vào khu vực bất động sản, chứ không phải đầu tư cho sản xuất. Vì vậy, về ngắn hạn tăng đầu 17
  19. tư này sẽ ít tác động đến tăng trưởng. Trong khi đó do khủng hoảng tài chính thế giới và lạm phát ở Việt Nam vẫn còn cao hơn các nước trong khu vực, thị trường tín dụng hoạt động chựng lại, các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất cao. Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới giới đầu tư quốc tế cũng như Việt Nam hiện nay đó là yếu tố tâm lý và lòng tin. Tình hình giải ngân các dự án Chính phủ vay vốn ODA và các dự án FDI chậm cùng với việc giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và nước ngoài cũng làm hạn chế khả năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. - Tác động tới tỷ giá và rủi ro hối đoái đến hoạt động XNK: Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô là Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2009 là tương đối phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên độ từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự do giá ngoại tệ nhanh chóng áp sát mức 18.300 đồng/đô la Mỹ và đến tháng 11 đã lên trên 19.000 đồng/đô la Mỹ, càng về cuối năm 2009 tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD thương mại thì thiếu. Đến năm 2010 tỷ giá VNĐ/USD đã vượt mức 20.000 đồng/1 USD. Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần cho do NHNN qui định. Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh. Trong bối cảnh lạm phát có xu hướng gia tăng (ước năm 2010 là 11 – 12%) và tính không ổn định trên thị trường tiền tệ, đòi hỏi cần phải có sự lựa chọn linh hoạt cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ. Từ tháng 11/2009 đến tháng 9/2010, tỷ giá chính thức đã được điều chỉnh 3 lần, tăng tổng cộng 11,17% lên mức 18,932 VND/USD. Tuy nhiên, dường như sự điều chỉnh này vẫn chưa làm thoả mãn “cơn khát” của thị trường. Tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do vẫn luôn cao hơn thị trường chính thức. Vào ngày 02/11/2010, mức chênh lệch này đã lên tới 1.500 VND/USD, tức 7,69%, một mức khá cao so với các đợt điều chỉnh tỷ giá trước đó. Tỷ giá thị trường tự do 18
  20. sau hơn một tháng ổn định bỗng tăng trở lại từ ngày 27/9/2010, và bắt đầu vượt xa mức niêm yết của ngân hàng. Diễn biến này trùng khít với đợt biến động của thị trường vàng, giá vàng trong nước từ chỗ thấp hơn thế giới bỗng tăng mạnh và cao hơn thế giới bắt đầu từ ngày 27/9/2010. Tỷ giá chợ đen phá đỉnh 19.900 đồng vào ngày 1/10/2010, vênh tới 400 đồng so với giá trong ngân hàng, khi Ngân hàng Nhà nước phát đi thông điệp có thể cho nhập khẩu vàng. Bước sang 7/10, ngày các đầu mối được cấp quota nhập khẩu vàng, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng cũng biến động mạnh, lên tới 19,860 đồng ăn một đô la, bỏ xa mức trần qui định tới 360 đồng. Khi cấp quota nhập khẩu vàng với số lượng không lớn (dưới 3 tấn)và yêu cầu thực hiện nhanh (từ 7 đến 12/10), Ngân hàng Nhà nước muốn tạo ra liều thuốc vừa đủ giải toả tâm lý găm gữi vàng mà không gây xáo trộn trên thị trường ngoại hối. Quả thực sau 7/10, giá vàng trong nước đã thu hẹp đáng kể khoảng cách so với giá thế giới. Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá giảm 50 điểm về mức 19.800 đồng ngay khi các ngân hàng gom đủ ngoại tệ nhập vàng. Nhưng từ hôm đó đến nay, tỷ giá tự do vẫn neo quanh 19,850 đồng, giữ khoảng cách khá xa mức trần 19.500 của ngân hàng mà chưa có dấu hiệu co lại. Thậm chí có lúc tỷ giá ngoài thị trường tự do đã lên tới trên 21.000. Điều đó cho thấy, diễn biến tỷ giá những ngày đầu tháng 10 đến cuối năm nay không phải ngắn ngày mà báo hiệu nhiều nguy cơ sẽ có những biến đổi mạnh. Thực tế, thị trường ngoại tệ được giữ ổn định trong vòng hơn một tháng trước cuối tháng 9/2010 không chỉ vì quyết định tăng tỷ giá liên Ngân hàng thêm hơn 2% vào ngày 17/8, mà chủ yếu do có nguồn ròng từ hoạt động xuất khẩu vàng. Theo thống kê của hải quan, nhập khẩu vàng trong 9 tháng đầu năm chỉ đạt 6 tấn, tương đương 208 triệu USD, trong khi xuất khẩu lên tới 65,8 tấn, tương đương 2,52 tỷ USD. Đáng chú ý, đợt xuất tăng mạnh trong hai tháng 8 và 9 giúp cung ứng khoảng 1,2 tỷ USD. Nhưng từ nay đến cuối năm, thị trường ngoại tệ không thể trông chờ nhiều vào xuất khẩu vàng, vì giá trong nước khó có cơ hội thấp hơn nhiều so với thế giới như trước và nguồn cung cũng không còn nhiều để có thể xuất đi ồ ạt. Các nguồn cung ngoại tệ truyền thống hiện chưa có tín hiệu khởi sắc mạnh mẽ. Dòng vốn gián tiếp vẫn ra vào ở mức cầm chừng do thị trường chứng 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản