intTypePromotion=1

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

Chia sẻ: Viva Vivu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:51

0
175
lượt xem
58
download

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1857 và được trồng ở Việt Nam từ năm 1888 (Nhạn và cộng sự, 1999). Người Pháp đã mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau đó mở rộng sang các vùng khác. Hầu hết cà phê được xuất khẩu sang Pháp dưới thương hiệu "Arabica du Tonkin". Đầu thế kỷ 20, cây cà phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

  1. BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP **************** BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK Nhóm nghiên cứu: Trần Thị Quỳnh Chi1 Dave D’haeze2 Hà Nội, tháng 10/2005 Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp 1 2 EDE Consulting for Coffee 1
  2. LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu “Đánh giá tác động thực tiễn sử dụng các yếu tố đ ầu vào cho s ản xuất cà phê" được hoàn thành với sự đóng góp của nhiều tổ chức cá nhân. Trước hết, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Đại Sứ quán Pháp - Dự án “Tăng cường năng lực thông tin phục vụ công tác hoạch định chính sách nông nghiệp” (MISPA) đã hỗ trợ kinh phí để triển khai nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn TS. Đặng Kim Sơn, Vi ện trưởng Vi ện Kinh t ế Nông nghiệp đã gợi ý tưởng, đóng góp ý ki ến nhận xét và h ỗ tr ợ nhóm nghiên cứu hoàn tất báo cáo này. Ngoài ra, cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán b ộ Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp, Trung tâm Thông tin Chi ến l ược, Dự án MISPA và một số phòng ban khác trong Viện Kinh tế Nông nghiệp đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến cho nhóm nghiên cứu. Báo cáo này cũng không thể hoàn thiện nếu thiếu sự giúp đỡ, hướng d ẫn nhi ệt tình của các chuyên gia thuộc văn phòng Công ty Tư vấn Châu Á, Thái Bình D ương - EDE; đặc biệt là TS. Dave D’haeze. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghi ệp và PTNT Đắk Lắk, Trung tâm khuyến nông Tỉnh Đắk Lắk, Viện nghiên cứu khoa học nông nghi ệp Tây Nguyên, Trạm Nghiên cứu đất Tây Nguyên, Phân vi ện Quy ho ạch Nông nghiệp miền Trung, các Trung tâm khuyến nông huyện Krong Ana và CuMgar, lãnh đạo và nông dân hai huyện Krong Ana và CuMgar đã tham gia các cu ộc họp chuyên gia, trả lời phỏng vấn của nhóm nghiên cứu. Báo cáo này được hoàn thiện trong thời gian ngắn (6 tháng) và điều ki ện kinh phí h ạn hẹp, vì vậy không thể tránh được thiếu sót. Nhóm nghiên cứu rất mong nh ận đ ược ý kiến đóng góp của bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện báo cáo này. Xin chân thành cảm ơn. 2
  3. ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC, PHÂN BÓN VÀ THUỐC TRỪ SÂU TRONG SẢN XUẤT CÀ PHÊ Ở TÌNH ĐẮC LẮC PHẦN I: GIỚI THIỆU 1. Lịch sử phát triển cây cà phê Robusta ở Việt Nam Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1857 và được trồng ở Vi ệt Nam t ừ năm 1888 (Nhạn và cộng sự, 1999). Người Pháp đã mang cây cà phê Arabica t ừ đ ảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau đó mở rộng sang các vùng khác. Hầu hết cà phê được xuất khẩu sang Pháp dưới thương hiệu " Arabica du Tonkin". Đầu thế kỷ 20, cây cà phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Ph ủ Quỳ (Ngh ệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha. Năm 1930, Vi ệt Nam có khoảng 5900 ha cà phê (VICOFA, 2002). Trong thời kỳ nh ững năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới 13000 ha. Sau khi đất n ước thống nh ất năm 1975, t ổng diện tích cà phê Việt Nam có khoảng 20.000 ha. Nhờ vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước Liên Xô (cũ), CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, cây cà phê bắt đầu được chú trọng đầu tư, đặc bi ệt ở các tỉnh Tây Nguyên. Năm 1980, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6000 tấn cà phê với diện tích kho ảng 23 nghìn ha. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Vi ệt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, b ản k ế ho ạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha v ới sản l ượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002). Trong thời kỳ từ 1982 đến 1988, cà phê được trồng m ới thêm kho ảng vài ch ục nghìn ha. Đến năm 1990, Việt Nam có khoảng 119300 ha. Trong giai đoạn từ 1990 đến 1994, giá cà phê thế giới ở mức rất thấp và diện tích cà phê Việt Nam không thay đ ổi nhi ều, mỗi năm tăng khoảng 10 nghìn ha. Năm 1994, tổng diện tích cà phê Vi ệt Nam đ ạt 150.000 ha, vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (1,32%) trong tổng di ện tích các lo ại cây trồng của Việt Nam (ICARD & Oxfarm, 2002). Năm 1994, khi sương muối ở Brazil phá huỷ phần lớn diện tích cà phê nước này đã làm cung thế giới giảm mạnh, giá thế giới tăng đột biến. Giá tăng đã khuyến khích người trồng cà phê Việt Nam mở rộng diện tích trồng và tăng thâm canh cà phê. Những người nghèo và đồng bào dân tộc ít người mở rộng di ện tích cà phê bằng cách khai hoang, phá rừng. Diện tích trồng cà phê đã tăng lên nhanh hơn, bình quân 23,9%/năm, đ ưa t ổng di ện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng di ện tích cây tr ồng c ủa Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ l ệ l ần l ượt là 48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê, t ổng s ản lượng đạt 800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê c ủa Vi ệt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và di ện tích 3
  4. vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong nước và qu ốc t ế. Tăng trưởng cà phê Việt Nam trong quá khứ chủ yếu dựa trên tăng di ện tích, đ ặc bi ệt là những năm đầu thập niên 90. Sau đó, tăng năng suất trở thành yếu tố chính đóng góp cho tăng trưởng sản lượng cà phê ở Việt Nam. Tính chung cho c ả giai đo ạn 1994 - 2002, năng suất đóng góp khoảng 38% tốc độ tăng sản lượng và diện tích đóng góp khoảng 62%. Nghề trồng cà phê ở Việt Nam là một nguồn thu nhập cho m ột nhóm đông dân c ư ở nông thôn, trung du và miền núi. Cà phê đã tạo việc làm cho hơn 600 nghìn nông dân và số người có cuộc sống liên quan tới cà phê trên 1 triệu người. Cà phê chi ếm kho ảng 8% giá trị sản lượng nông nghiệp khoảng 25% giá trị xuất khẩu nông nghiệp. Đắk Lắk là vùng trồng cà phê lớn nhất của Việt Nam, chủ yếu là cà phê v ối v ới t ổng diện tích năm 2004 đạt khoảng 160.000 ha. Việc mở rộng diện tích trồng cà phê cũng chủ yếu diễn ra ở tỉnh này. Đăk Lăk là tỉnh lớn nhất Việt Nam nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên v ới t ổng di ện tích tự nhiên khoảng 1,3 triệu ha bao gồm 422 nghìn ha đất nông nghiệp, chủ yếu là đất đỏ Bazan. Khí hậu thời tiết vùng Tây Nguyên đã tạo cho Đăk Lăk đi ều ki ện r ất thích h ợp để phát triển những loại cây công nghiệp có giá trị hàng hoá l ớn nh ư cà phê, cao su, hồ tiêu v.v... Trong giai đoạn 1995 - 2000, cây cà phê là một cây công nghi ệp đem l ại nhiều lợi ích cho người dân nói riêng và cho cả tỉnh Đăk Lăk nói chung. Do l ợi nhu ận trồng cà phê cao nên người dân đã giàu lên và có tới hàng ch ục v ạn ng ười t ừ 61 t ỉnh thành Việt Nam đến Đăk Lăk để lập nghiệp, trong đó phần lớn là dân di c ư t ự do, m ở rộng diện tích trồng cà phê (Sở NN&PTNT Đắk Lắk, 2002). Những người dân đi di cư tự do này đã gây ra biết bao khó khăn cho Đăk Lăk trong quản lý nhân hộ khẩu, an ninh trật tự và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Hàng ngàn v ụ tranh ch ấp đất đai, hàng ngàn vụ vi phạm lâm luật đã xảy ra. Nhi ều tr ường h ọc, c ơ s ở y t ế quá tải.3 Do diện tích trồng cà phê tăng trưởng quá nhanh và n ước t ưới đ ược xem là y ếu t ố sống còn cho cây cà phê nên các vườn trồng cà phê ở khu v ực này đang ph ải đ ối m ặt với những dấu hiệu đáng báo động của việc khan hiếm nước tưới cũng nh ư m ực nước ngầm (D’haeze, 1999; Ha, 2002). Trong mùa khô, khi cây cà phê đến giai đo ạn trổ hoa và ra quả, mỗi ha cà phê cần tới 1500-3000 m³ n ước (Luu, 2002; Bau, L.N., 1984). Mặt khác, phân hoá học và thuốc trừ sâu dường như cũng đã đ ược s ử d ụng quá m ức quy định (D’haeze, 1999). Do đất bazal ở Đắk Lắk rất xốp nên các ch ất dinh d ưỡng dễ thẩm thấu xuống nước ngầm, ảnh hưởng đến nước sinh hoạt và về lâu dài có thể ảnh hưởng đến việc nuôi trồng tôm ở vùng đồng bằng. Ngoài ra, giá đầu vào (phân bón và nhiên liệu) cũng đang ngày càng tăng trong thời gian gần đây. Vi ệc sử dụng quá mức những yếu tố đầu vào này do đó không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến kinh tế của hộ gia đình. 3. Mục tiêu của nghiên cứu Mục tiêu tổng thể Nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân tích thực trạng sử dụng các ngu ồn l ực dành cho sản xuất cà phê hiện nay ở hai huyện trồng cà phê đi ển hình c ủa t ỉnh Đ ắk 3 http://www.laodong.com.vn 4
  5. Lắk. Từ đó, nghiên cứu sẽ xác định những tác động của vi ệc sử d ụng ngu ồn l ực này đến môi trường và kinh tế các hộ điều tra. Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể như sau: 1. Đánh giá và giải thích việc sử dụng các nguồn lực trong sản xu ất cà phê hi ện nay ở hai huyện Cu M’gar và Krong Ana thuộc tỉnh Đắk Lắk. 2. So sánh và giải thích việc sử dụng các yếu tố đầu vào này v ới các tiêu chu ẩn đ ịa phương do các viện nghiên cứu và trung tâm khuyến nông đưa ra. 3. Đánh giá tác động môi trường và kinh tế của việc sử dụng các ngu ồn l ực n ước, phân bón và thuốc trừ sâu hiện nay. 4. Đưa ra các đề xuất và kiến nghị cho nông dân và hệ thống khuyến nông. 4. Kết cấu bài viết Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, trong phần giới thiệu chung bài vi ết tr ước hết sẽ giới thiệu qua về lịch sử phát triển của cây cà phê Vối ở Việt Nam, gi ới thi ệu tóm tắt về các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này, trên cơ sở đó nêu ra nh ững lý do phải tiến hành nghiên cứu này. Phần này cũng nêu ra các mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể và đặc biệt nhấn mạnh đến những phương pháp nghiên cứu thu thập số li ệu thứ cấp và sơ cấp thông qua phỏng vấn thực địa và tổ chức hội thảo chuyên gia. Trong phần thứ hai, tác giả sẽ mô tả kết quả điều tra để thấy rõ thực tr ạng sử d ụng ba yếu tố đầu vào chính (nước, phân bón và thuốc trừ sâu) cho sản xu ất cà phê ở các vùng điều tra. Trong phần thứ ba, bài viết sẽ phân tích các tác động của vi ệc sử dụng nh ững yếu t ố này đến môi trường và kinh tế nông hộ. Cuối cùng, bài viết sẽ đề xuất ra một số khuyến nghị về vi ệc sử dụng tối ưu ngu ồn lực cho hai đối tượng chính: nông dân và hệ thống khuyến nông. 5. Hạn chế của nghiên cứu Trong khuôn khổ của một nghiên cứu nhỏ bị hạn chế về thời gian và nguồn lực, nhóm tác giả chỉ lựa chọn 80 hộ trong 2 huyện điển hình về sử dụng các ngu ồn l ực cho s ản xuất cà phê ở Đắk Lắk để thấy được hiện trạng sử dụng hiện nay. Ngoài ra, nghiên cứu cũng không có tham vọng phân tích một cách rất c ụ th ể v ề m ặt k ỹ thu ật các tác động của việc sử dụng này đến môi trường. Nhóm tác giả chỉ có thể dựa trên sự so sánh giữa thực trạng sử dụng và các khuyến nghị về việc sử dụng các ngu ồn l ực này của các cơ quan khuyến nông, các Viện nghiên cứu trong vùng và c ả nh ững nghiên cứu ngoài nước. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Biện pháp thu thập số liệu a. Thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp : chủ yếu là các kết quả nghiên cứu trước đây về các biện pháp kỹ thuật mà các đơn vị nghiên cứu trong và ngoài n ước tri ển khai về việc sử dụng các nguồn đầu vào chính trong sản xuất cà phê. Ngu ồn thông tin ch ủ yếu là qua internet, thu viện và các Viện, tổ chức nghiên cứu. Ngoài ra, tác gi ả cũng thu thập những tờ rơi giới thiệu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà phê c ủa h ệ th ống khuyến nông tại tỉnh Đắk Lắk. 5
  6. b. Thu thập số liệu sơ cấp • Lựa chọn địa điểm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 2 huyện điển hình của tỉnh đắk Lắk, tỉnh sản xu ất cà phê vối lớn nhất của Việt nam. Đó là 2 huyện Krong Ana và C ưMgar. Năm 2004, t ổng diện tích trồng cà phê của tỉnh đạt khoảng 160.000 ha. Trong đó, diện tích trồng cà phê của 2 huyện đạt 52339 ha, chiếm 54% tổng diện tích nông nghiệp của hai huyện. Hai huyện và 4 xã được lựa chọn điều tra bắt đầu trồng cà phê t ừ th ập k ỷ 60 c ủa th ế k ỷ 20 t ừ nhiều giống cà phê khác nhau do người Pháp đem vào. Quy mô v ườn tr ồng cà phê lúc đó khoảng 10-20 ha, do các nông trường quốc doanh quản lý. Sau năm 1975, cà phê ở khu v ực này không được đầu tư phát triển. Cho đến tận năm 1980, trong một số vùng thuộc huyện Krong Ana, đặc biệt là hai xã điều tra Ea Tieu and Ea Ktul, các công ty liên doanh Vi ệt - Đức đã đ ược thi ết l ập và năm 1991 đ ược đ ổi thành Tổng công ty cà phê Việt Nam, đầu tư phát tri ển m ạnh cà phê ở vùng này. Cà phê ở CuMgar phát triển chậm hơn Krong Ana. • Cách lấy mẫu điều tra hộ Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 80 Biểu đồ 1: Phân loại hộ điều tra (%) hộ nông dân thuộc 4 xã, 2 huyện, Giàu mỗi xã 20 hộ. Việc lựa chọn dựa Nghèo trên tình hình thu nhập của hộ (trong đó phân ra nhóm hộ giàu, hộ nghèo và hộ trung bình). Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng có tính đến vấn đề dân tộc, cố gắng lựa chọn một số hộ dân tộc thiểu Trung bình số để đưa vào nghiên cứu (số hộ dân tộc thiểu số chiếm 6,25% tổng số mẫu nghiên cứu) . Khả năng tiếp cận với các nguồn lực tự nhiên khác nhau cũng là m ột tiêu chí đ ược s ử d ụng đ ể lựa chọn hộ. Chẳng hạn như, nhóm điều tra đã lựa chọn c ả các nhóm h ộ ti ếp c ận rất dễ với nguồn nước, do vậy không bị ảnh hưởng nhiều c ủa tình tr ạng h ạn hán và c ả các nhóm hộ gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước và do vậy b ị ảnh h ưởng rất lớn của hạn hán năm 2004. • Nội dung bảng hỏi hộ nông dân Nhóm nghiên cứu đã tập trung vào một số nội dung chính trong khi lập bảng h ỏi đi ều tra hộ như sau: - Các đặc điểm của hộ: tâp trung vào các đặc điểm của chủ hộ như tên, gi ới tính, dân tộc, quê gốc, trình độ học vấn, nghề nghiệp trước đây. Ngoài ra, bảng h ỏi cũng l ấy thêm các thông tin về tổng số thành viên trong gia đình, số l ượng người tr ưởng thành và tổng số thành viên là nông dân. Những thông tin này sẽ cho biết số l ượng lao đ ộng trong gia đình được huy động vào các sản xuất nông nghiệp, có thể sử dụng đ ể đ ối chứng với các thông tin được cung cấp trong các phần sau về ngày công lao đ ộng trong sản xuất cà phê. Trong phần này, tình trạng hộ giàu, nghèo, trung bình cũng đ ược đ ề cập đến theo đánh giá định tính của chính chủ hộ, của người đi đi ều tra và cán b ộ đ ịa phương. Thông tin này sau đó sẽ được so sánh với tổng thu nhập c ủa h ộ gia đình do 6
  7. nhóm nghiên cứu tính toán để thấy rõ tình trạng của hộ. Thông tin v ề tình tr ạng thu nhập của hộ là rất quan trọng để đánh giá mức độ sử dụng các ngu ồn l ực c ủa h ộ trong những điều kiện kinh tế khác nhau. - Tình hình sử dụng đất: Bảng hỏi tập trung trước hết vào các thông tin chung về tổng di ện tích đ ất nông nghiệp, đất trồng cà phê trong các mảnh khác nhau. Ngoài thông tin v ề di ện tích, ph ần này cũng đề cập đến các loại đất, đá mẹ, độ dốc khác nhau trong t ừng m ảnh ru ộng. Những thông tin về sản lượng cà phê trong 3 năm, thu nh ập c ủa h ộ trong 3 năm và tổng ngày công lao động vụ 2003-04 theo từng công đo ạn chăm sóc khác nhau (có so sánh với năm 2002-03) cũng được thu thập ở đây nhằm có một bức tranh chung về tình hình sản xuất cà phê. Mặt khác những thông tin về thu nh ập và chi phí lao đ ộng cũng giúp nhóm nghiên cứu phân tích được tác động của việc sử dụng các ngu ồn l ực đ ến kinh tế hộ gia đình. - Thông tin về thực trạng sử dụng nước (chỉ tập trung vào 1 mảnh ruộng chính): Phần này đề cập đến các thông tin chung như phương pháp tưới, ngu ồn n ước, s ố lượng tưới, chu kỳ tưới. Các câu hỏi giành riêng cho ph ương pháp t ưới phun m ưa và phương pháp tưới gốc và các thông tin về nguồn nước cụ thể (thuỷ lợi, gi ếng...), các loại công cụ sử dụng trong tưới nước cũng được nêu ra để tính lượng và chi phí v ề nước sử dụng thực tế trong sản xuất cà phê của vụ. Ngoài ra, phần này cũng nêu ra các câu hỏi định tính như có đủ nước tưới không, việc thiếu nước tưới có ảnh hưởng như thế nào đến cây cà phê và khó khăn trong việc tưới nước. - Thông tin về việc sử dụng phân bón: phần này tập trung vào các thông tin nh ư s ố lượng bón trong mỗi lần bón, thời gian bón phân, giá phân bón cho các lo ại phân khác nhau. Lượng phân bón của các loại cũng được so sánh với mức c ủa năm 2002. Các thông tin về việc chuyên chở phân bón cũng được để cập đến để thấy được tổng chi phí bón phân của các hộ nông dân. - Thông tin về việc sử dụng thuốc trừ sâu: loại thuốc, nhãn hi ệu, số lượng phun, th ời gian phun và giá thuốc là những thông tin định lượng chính trong bảng hỏi về thuốc trừ sâu. Những thông tin về số lượng phun thuốc cũng được so sánh với năm 2002. Các thông tin về biện pháp sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, bi ện pháp chuyên chở và dự trữ thuốc trừ sâu cũng được đề cập đến nhằm có bức tranh t ổng th ể v ề các biện pháp phòng trừ sâu bệnh và tổng chi phí cho việc sử dụng thuốc trừ sâu. - Thông tin về dịch vụ khuyến nông: các thông tin chung v ề d ịch v ụ khuyến nông t ổng thể, dịch vụ khuyến nông cho từng loại đầu vào sản xuất cà phê đều đ ược đ ề c ập đến trong phần này với những nội dung chính tập trung vào số lần sử d ụng trong năm và chi phí sử dụng cho từng nguồn thông tin khuyến nông khác nhau. Phần này cũng nêu ra các câu hỏi định tính như mong đợi của h ộ v ề d ịch v ụ khuyến nông, đ ường truyền thông tin khuyến nông ở địa phương... - Câu hỏi mở: một số câu hỏi mở được đề cập ở đây là việc xây d ựng k ế ho ạch chi tiêu cho các đầu vào sản xuất cà phê, mức giá hoà v ốn trong s ản xu ất c ả phê v ối, và việc sử dụng các nguồn đầu vào này có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường xung quanh. Những thông tin này được thu thập để biết được đánh giá c ủa h ộ nông dân đ ối với tác động của việc sử dụng đầu vào đến môi trường và kinh t ế h ộ. Trên c ơ s ở đó có thể so sánh với các số liệu định lượng đã lấy được trong các phần trên và ý ki ến của chuyên gia về vấn đề này. 7
  8. • Nội dung họp chuyên gia Ngoài các bảng hỏi phỏng vấn hộ, nhóm nghiên cứu cũng t ổ chức các cu ộc h ọp chuyên gia. Các cuộc họp chuyên gia với các trung tâm khuyến nông tỉnh và 2 huyện phỏng vấn. Nội dung của các cuộc họp này tập trung vào: (i) c ơ c ấu t ổ ch ức, trình đ ộ cán bộ của trung tâm; (ii) những thông tin chung về việc chuyển giao kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê: kênh nhận thông tin, kênh chuyển giao, đ ối t ượng chuy ển giao, hình thức chuyển giao, chi phí chuyển giao...; (iii) các thông tin c ụ th ể v ề k ỹ thu ật s ử d ụng phân bón (loại phân, thời gian bón cho từng loại đât, tuổi cây, năng suất khác nhau); k ỹ thuật sử dụng thuốc trừ sâu (phương thức phun, thời gian phun cho các lo ại b ệnh và năng suất khác nhau, kỹ thuật sử dụng phương pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp); kỹ thuật tưới nước. Nhóm nghiên cứu cũng tổ chức họp chuyên gia với các Viện nghiên c ứu như Vi ện Khoa học Kỹ thuật Tây nguyên, Trạm Nghiên cứu đất thuộc Vi ện Nông hoá Th ổ nhưỡng. Các câu hỏi tập trung vào những lĩnh vực sau: (i) c ơ c ấu t ổ ch ức, trình đ ộ cán bộ, mạng lưới chuyển giao công nghệ của đơn vị; (ii) các thông tin v ề chuyển giao công nghệ: phương thức chuyển giao, loại thông tin chuyển giao, t ần su ất chuy ển giao, đối tượng chuyển giao, mối quan hệ với các trung tâm khuyến nông; (iii) các thông tin cụ thể kỹ thuật như tỉ lệ lấy chất dinh dưỡng của cà phê Vối ở Tây nguyên, tỉ lệ chất dinh dưỡng thấm xuống đất ở các điều kiện đất, tuổi cây, năng suất khác nhau... d. Thảo luận về các vật tư/tài liệu sử dụng lấy từ bên ngoài (số li ệu tham kh ảo c ủa WASI, NISF, AEC + nêu rõ độ chính xác của số liệu) 6.2. Các biện pháp phân tích số liệu a. Bản đồ sử dụng, nêu rõ tỷ lệ và hệ phóng + nguồn cung cấp b ản đ ồ (tham kh ảo + ngày) b. Các biện pháp phân tích thống kê (kiểm trình giá trị “t”, biểu đồ định tính, phân tích tương quan, phân tích phương sai ANOVA một chiều). - Biện pháp kiểm định giá trị “t”, bao gồm hai biện pháp sau: + Kiểm định giá trị “t” một đuôi: được sử dụng để so sánh xem có s ự khác bi ệt gi ữa giá trị trung bình của mẫu so với giá trị trung bình đã bi ết của tổng th ể. Chẳng h ạn như có thể kiểm định xem lượng nước sử dụng trung bình cho cà phê ở huyện Krong Ana có khác mức nước do Viện Khoa học Nông nghi ệp Tây Nguyên (WASI) khuy ến cáo hay không. + Kiểm định giá trị “t” hai đuôi: phương pháp này được sử dụng đ ể ki ệm đ ịnh s ự khác biệt giữa hai giá trị trung bình của hai nhóm mẫu thu thập. Chẳng hạn nh ư có th ể kiểm định lượng thuốc trừ sâu sử dụng cho huyện Krong Ana có khác huyện C ưMgar hay không. - Biện pháp phân tích phương sai ANOVA Phương pháp được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của 3 nhóm m ẫu đ ộc l ập tr ở lên. Chúng ta có thể kiểm định xem có sự khác biệt về thống kê c ủa l ượng n ước s ử dụng ở 4 xã. Nếu sắc xuất p value lớn hơn 0,05 thì chúng ta chấp nhận gi ả thi ết Ho, tức là không có sự khác biệt về lượng nước sử dụng cho tr ồng cà phê ở 4 xã nghiên cứu. - Phân tích tương quan (Correlation analysis). 8
  9. Phương pháp này dùng để phân tích mối quan hệ giữa hai bi ến. Chẳng h ạn như chúng ta có thể xem xét mối quan hệ giữa tổng thu nhập của hộ và tổng chi phí cho các đ ầu vào sản xuất cà phê. Mối quan hệ này có thể là dương ho ặc âm tuỳ theo t ừng đi ều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Ở đây chúng ta có thể sử dụng phương pháp kiểm định Pearson. Giá trị Pearson sẽ chạy trong khoảng -1 đến +1. N ếu giá tr ị Pearson = -1, m ối tương quan là nghịch hoàn toàn. Nếu giá trị Pearson = +1, m ối tương quan là thuận hoàn toàn. 9
  10. PHẦN II: THỰC TIỄN SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC NƯỚC, PHÂN BÓN VÀ THUỐC TRỪ SÂU CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ ĐẮK LẮK 1 Mô tả nông hộ Tại hai huyện điều tra, phần lớn chủ hộ là nam giới, chiếm khoảng 84% tổng số hộ, chỉ có 16% là nữ giới. Trong đó, huyện Krong Ana chỉ có 77% chủ hộ là nam trong khi ở huyện CuMgar, con số này lên tới 90%. Độ tuổi trung bình của chủ hộ được phỏng vấn là khoảng 45 tuổi. 96% n ằm trong đ ộ tuổi lao động (nam từ 16 đến 60, nữ t ừ 16 đến 55). Đi ều này cho th ấy hai huy ện đi ều tra đều có tiềm năng lao động cho sản xuất nông nghiệp. Độ tuổi phân bố khác biệt đôi chút theo huyện và theo gi ới. Ch ủ h ộ là nam gi ới có đ ộ tuổi trung bình 45 trong khi nữ giới là 43. Độ tuổi trung bình ch ủ h ộ ở hai huy ện Krong Biểu đồ 2: Độ tuổi trung bình chủ hộ phân Biểu đồ 3: Độ tuổi trung bình chủ hộ phân theo giới theo huyện Krong Nữ A na, Nam CuMgar, 43 46 43 45 Ana và CuMgar là 43,5 và 46 (xem hình 2 và 3). Tính theo nhóm thu nh ập, đ ộ tu ổi trung bình của hộ thu nhập cao, trung bình và thấp l ần l ượt là 46,44 và 47. Trong số các hộ được phỏng vấn, có tới 91% nhập cư từ nơi khác đến, ch ủ yếu t ừ mi ền Trung (Nghệ An, 32%; Quảng Ngãi, Biểu đồ 4: Số thành viên trung bình của hộ 18%, Hà Tĩnh, 14%). Chỉ có huyện và số người trưởng thành phân theo huyện Krong Ana là có hộ dân địa phương chính gốc, chiếm khoảng 18% tổng số hộ trong huyện. Trong khi đó, ở 6.0 Mean adul ts CuMgar, tất cả các hộ điều tra đều là Mean member s 5.0 dân nhập cư. Tính trung bình, các hộ 4.0 nhập cư cách đây khoảng 25 năm, đủ 3.0 dài để định cư và phát triển sản xuất. 2.0 1.0 Tình trạng nhập cư còn khác biệt theo 0.0 dân tộc. 75% só hộ dân tộc được Krong Ana CuMgar phỏng vấn là dân địa phương gốc, chỉ có 1 hộ nhập cư từ Nghệ An cách đây 17 năm Số thành viên trung bình trong các hộ Biểu đồ 5: Số lượng hộ phân theo nhóm khu vực điều tra là 5 người/hộ, với 3,4 là người trưởng thành. Ở hai huyện 60 Krông Ana và CuMgar, số thành viên Rich trung bình mỗi hộ lần lượt là 4,5 và 50 Poor 5,4 người, số người trưởng thành là 3 Medium 40 và 3,8 người và trẻ em dưới 16 tuổi là 30 1,5 và 1,6 người. Điều này cho thấy 20 10 10 0 Krong Ana CuMgar Total
  11. lực lượng lao động khá dồi dào ở vùng điều tra. Tuy nhiên, nguồn lao đ ộng trong khu vực còn phụ thuộc vào số người trưởng thành còn lại trong gia đình tham gia vào ho ạt động nông nghiệp. Mặc dù 100% số người được phỏng vấn cho biết tr ước đây h ọ tham gia vào sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có 2,4 trong s ố 5 thành viên hi ện nay là nông dân. Điều tra cũng cho thấy, rất nhiều người trưởng thành (đ ặc biệt là thanh niên) đã ra thành phố lớn làm việc và học tập chứ không ở nhà làm nông nghiệp. Ch ỉ có lúc thu hoạch khi quá hiếm lao động hoặc chi phí sản xuất quá cao, m ột s ố ng ười có th ể tr ở v ề giúp đỡ gia đình. Khi phân loại hộ theo nhóm, rất khó để có th ể th ống nh ất các tiêu chí phân h ộ giàu, nghèo và trung bình. Nên ban đầu, nghiên cứu chỉ d ựa vào quan sát c ủa ng ười đi ều tra, chính quyền địa phương và nong dân để xác định nhóm h ộ. Theo cách phân bi ệt này, hầu hết các hộ ở đây đều thuộc nhóm hộ trung bình, chiếm 80% trong khi h ộ giàu và h ộ nghèo chỉ chiếm lần lượt 11 và 9%. Tất cả các hộ dân t ộc thi ểu s ố đ ều thu ộc nhóm h ộ trung bình. Tuy nhiên, do tiêu chí phân loại không rõ ràng nên trong quá trình phân tích, nhóm nghiên cứu đã chia số hộ điều tra thành 3 nhóm d ựa vào thu nh ập hàng năm c ủa hộ lấy từ kết quả phỏng vấn, đó là nhóm thu nhập thấp, trung bình và cao. S ố l ượng h ộ trong mỗi nhóm và thu nhập trung bình của hộ được trình bày trong b ảng sau. Bảng 1: Thu nhập trung bình của 3 nhóm hộ (000 đ) Số GT Độ lệch quan trung Biến số chuẩn sát % bình Min Max Nghèo 27 33.75 17884 4152 3400 23000 Trung bình 27 33.75 31084 5055 23900 43500 Giàu 26 32.5 77515 36562 44100 200000 Theo Ngân hàng Thế giới, chuẩn nghèo quốc t ế là 1 USD/ng ười/ngày, t ương đ ương v ới 6 triệu đồng/người/năm. Với số lượng thành viên trung bình trong hộ ở Đ ắk L ắk là 5 người, thu nhập trung bình của hộ thoát nghèo là ph ải trên 30 tri ệu đ ồng/h ộ/năm. K ết quả nghiên cứu cho thấy có tới khoảng 30% s ố hộ đi ều tra ở đây có thu nh ập d ưới 30 triệu/năm, nằm trong mức nghèo thế giới. Nhưng người l ại nhóm h ộ giàu chi ếm 33% có thu nhập rất cao, cá biệt có hộ thu nhập lên t ới 200 tri ệu đ ồng/năm. Có t ới 5% s ố h ộ có thu nhập trên 100 triệu/năm. Điều này cho thấy chênh l ệch giàu nghèo ở khu v ực này khá lớn. Phỏng vấn nông dân cho thấy, s ở dĩ khoảng cách thu nh ập khác bi ệt nh ư v ậy phần lớn là do thu nhập từ cà phê tăng đột bi ến ở m ột s ố h ộ vào khoảng gi ữa nh ững năm 90. Sau khủng hoảng, nhiều hộ vẫn duy trì được thu nh ập khá, tuy không đ ược nh ư trước nhưng ngược lại, một số hộ còn nghèo hơn trước đây. Ngoài ra, m ột ph ần thành viên trong gia đình ra thành phố cũng gửi tiền về nhà, đây cũng là ngu ồn thu nh ập l ớn của một số hộ. Trình độ giáo dục của các hộ điều tra khá thấp. Có t ới 55% s ố h ộ m ới t ốt nghi ệp c ấp II và 30% tốt nghiệp cấp I. Chỉ có 10% tốt nghiệp cấp III và 1% có b ằng đại h ọc. Không có ai tốt nghiệp từ cao học trở lên. Trình độ giáo dục cũng khác bi ệt gi ữa các huy ện. Krong Ana có trình độ giao dục cao hơn CuMgar với 1 ng ười t ốt nghi ệp đ ại h ọc, 1 ng ười có bằng cao đẳng và 7 người tốt nghiệp câp III. Trong khi đó, 62,5% s ố ng ười đi ều tra ở CuMgar chỉ tốt nghiệp trường cấp II và 3,7% tốt nghi ệp cấp I. Ng ười Kinh (v ới 59% t ốt nghiệp cấp II và không có ai mù chữ) có xu hướng h ọc cao hơn ng ười dân t ộc Edê (v ới 20% người mù chữ và chỉ có 40% tốt nghiệp cấp II). Ph ụ nữ có trình đ ộ giáo d ục cao hơn nam giới chút ít với 55 và 58% nam giới và nữ gi ới có b ằng c ấp II và 9 và 15% t ốt nghiệp trung học. 2. Tình hình sử dụng đất. 11
  12. Diện tích đất trung bình trên 1 hộ ở hai huyện đi ều tra khoảng 1,45 ha, trong đó 1,15 ha dành cho sản xuất cà phê, chiếm 79%. Biểu đồ 6: Tổng diện tích đất nông nghiệp và Biểu đồ 7: Tổng diện tích đất tự nhiên và đất trồng cà phê phân theo (ha/mảnh) đất trồng cà phê phân theo loại hộ (ha/mảnh) Đất NN 14 Đ ấ t NN Đất cà phê 12 12 Đ ấ t cà phê 10 10 8 8 6 6 4 4 2 2 0 0 KrongAna CuMgar Nghèo Trung bình Giàu Tình hình sử dụng đất có khác biệt rõ rệt ở hai huyện. Ở Krong Ana, h ầu h ết đ ất đ ược giành cho sản xuất cà phê trong khi ở CuMar, chỉ có 68% t ổng diện tích đ ất nông nghi ệp giành cho sản xuất cà phê, cho thấy xu hướng đa d ạng hoá cao h ơn ở huy ện CuMgar. Có tới 96% số hộ ở đây đều đã có giấy chứng nhận quyền s ử dụng đất. Tình hình sử đụng đất giữa các nhóm hộ cũng khác nhau. Bi ểu đồ 8 cho th ấy h ộ có thu nhập càng cao thì càng có xu hướng dành ít đất hơn cho s ản xuất cà phê. Trong khi đó, nhóm hộ thu nhập thấp nhất lại giành toàn bộ đất cho sản xuất cà phê, con s ố này c ủa nhóm hộ trung bình và hộ giàu là 79% và 74%. Mức đ ộ t ương quan gi ữa đa d ạng hoá và thu nhập của hộ sẽ được chứng minh bằng thống kê trong ph ần phân tích c ụ th ể về thu nhập sau). Diện tích đất của nhóm người Kinh (1,5 ha t ổng diện tích đ ất NN/h ộ và 1 ha cho cà phê) có xu hướng cao hơn nhóm dân tộc (0,5 ha/hộ). Tổng diện tích đất trung bình/hộ là 1,45 ha, chia thành 1,7 m ảnh, t ương đ ương v ới 0,85 ha/mảnh. Quy mô đất cà phê cao hơn chút ít 0,875 ha/m ảnh. Đất nông nghiệp ở huyện Krong Ana manh mún hơn huyện CuMgar. Nh ư đã đ ề c ập ở trên, hầu hết đất ở Krong Ana dành cho sản xuất cà phê, với di ện tích trung bình 0,74 ha/mảnh. Ở CuMgar, quy mô đất trồng cà phê là 1 ha/m ảnh và quy mô đ ất nông nghi ệp là 0,93 ha/mảnh. Diện tích đất của các nhóm thu nhập cũng khác nhau. Nhóm thu nh ập th ấp có quy mô đất nhỏ, 0,6ha/mảnh. QUy mô đất nông nghi ệp và đ ất trồng cà phê c ủa h ộ trung bình là 0,75 và 0,77 ha/mảnh, so với quy mô rất cao của hộ thu nh ập cao l ần l ượt là 1,37 và 1,5 ha/mảnh. Điều này phản ánh xu hướng tập trung đất của nhóm thu nhập cao. Tính trung bình, cây cà phê được trồng khoảng 16 năm ở 2 huy ện, v ới cây lâu năm nh ất là 25 năm và non nhất là 6 năm. Tuổi cây cà phê ở huy ện Krong Ana cao g ấp 1,2 l ần huyện CuMgar. Như vậy, cà phê ở các hộ điều tra đều đã trưởng thành và già, tr ồng ch ủ yếu trên đất đỏ bazal. 12
  13. Biểu đồ 8: Tuổi cây cà phê phân theo huyện và nhóm hộ (năm) 18 16 14 12 10 8 6 4 2 0 KrongAna CuMgar Nghèo TB Giàu 3. Thu nhập và chi phí Khác với xu thế tăng sản lượng cà phê liên tục t ừ gi ữa Biểu đồ 9: Sản lượng cà phê (tấn/hộ) 3.2 3.1 3.0 2.9 2.8 2.7 2.6 2.5 SL 03 SL 04 SL 05 thậm kỷ 90 đến năm 2002, kể từ năm 2003 s ản xuất cà phê có xu hướng giảm. Có một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Trước hết, khi giá cà phê liên t ục gi ảm t ừ năm 1998 xuống mức thấp kỷ lục năm 2002, đầu t ư vào sản xuất cà phê do đó cũng giảm liên t ục. Th ứ hai, chính sách của chính phủ cũng khuyến khích giảm diện tích trồng cà phê ở những khu vực không thuận lợi xuống khoảng 450.000 ha trồng cà phê cả nước, đi ều này cũng khiến sản lượng cà phê giảm theo. Chính vì vậy sản lượng cà phê năm 2004 ở những vùng này đã giảm 14% so với năm 2003. Năm 2005 sản lượng Biểu đồ 10: Năng suất cà phê phân theo loại Biểu đồ 11: Năng suất cà phê phân theo hộ huyện (tấn/ha) NS 03 NS 03 4.0 NS 04 4 NS 04 NS 05 3.5 NS 05 3.0 3 2.5 2.0 2 1.5 1 1.0 13 0.5 0 0.0 KrongAna CuM gar Nghèo Trung bình Giàu
  14. cà phê ước tính đạt bằng năm 2004 (2.8 tấn/hộ). Tuy thời tiết khô hanh trong năm 2005 có ảnh hưởng tới nhi ều trang trại trồng cà phê, song sản lượng ước tính năm 2005 của vùng điều tra có thể sẽ ngang bằng với năm 2004 do khu vực này có nhiều hộ sinh s ống gần nguồn nước, hoặc có nguồn nước tưới ổn định t ừ hệ thống nước tưới tiêu công cộng. 2003 2004 Giá trị Giá trị Nguồn thu nhập (000 d) % (000 d) % 1. Cà phê 32283 79.99 33200 79.58 2. Lương thực 688 1.7 700 1.68 3. Chăn nuôi 2869 7.11 3040 7.29 4. Cây trồng khác 3169 7.85 3410 8.17 5. Làm thuê, phi NN 1350 3.35 1369 3.28 Tổng 40358 100 41719 100 Nếu phân theo huyện, năng suất cà phê trung bình 3 năm của Krong Ana cao hơn CuMgar, đặc biệt là năm 2003 năng suất cà phê của Krong Ana cao gấp 1,3 l ần so v ới CuMgar. Tuy nhiên, do diện tích đất trồng cà phê trung bình năm 2004 của CuMgar (1,3ha/hộ) cao hơn Krong Ana (1ha/hộ) tổng sản lượng cà phê bình quân hộ của CuMgar vì thế cùng cao hơn so với Krong Ana (3,14 t ấn so với 2,95 tấn). Năng suất cà phê không có sự khác biệt nhiều gi ữa hộ giàu và hộ trung bình. Tuy nhiên, do diện tích đ ất trồng cà phê năm 2004 của nhóm hộ giàu cao hơn rất nhiều so v ới nhóm hộ nghèo (gấp 4 lần) và nhóm hộ trung bình (g ấp 2,3 lần) nên tổng sản lượng cà phê bình quân của hộ giàu cao gấp 4,6 lần so với hộ nghèo và 2,1 lần so với h ộ trung bình. Năng suất cà phê của hộ nghèo rất thấp, ch ỉ đ ạt 2 tấn/ha. Nguyên nhân chính là do mức đầu t ư vào cây cà phê của hộ nghèo giảm trước tín hiệu giá cà phê s ụt gi ảm vào cuối thập niên 90. Thu nhập Bảng 2: Tổng thu nhập năm 2003-2004 từ các nguồn khác nhau Nhìn chung, tổng thu nhập bình quân hộ năm 2004 có cao hơn chút ít so với năm 2003 (chênh lệch khoảng 1,4 tri ệu VNĐ). Cơ cấu tổng thu nhập không khác nhau nhiều trong hai năm 2003 và 2004. Thu nhập từ s ản xuất cà phê chiếm gần 80% tổng thu nhập trong cả hai năm. Chăn nuôi và trồng trọt cũng là những nguồn thu nhập quan trọng, chiếm khoảng 8% tổng thu. 14
  15. Bảng 3: Nguồn thu nhập phân theo huyện Krong Ana CuMgar Nguồn thu nhập 2003 2004 2003 2004 Giá trị Giá trị Giá trị Giá trị (000 đ) % (000 đ) % (000 đ) % (000 đ) % Cà phê 33123 92.28 29838 90.64 31485 70.58 36399 72.67 Lương thực 0 0.00 0 0.00 1341 3.01 1366 2.73 Chăn nuôi 1205 3.36 1518 4.61 4451 9.98 4488 8.96 Cây trồng khác 0 0.00 0 0.00 6183 13.86 6654 13.28 Làm thuê, phi NN 1564 4.36 1564 4.75 1146 2.57 1183 2.36 Tổng 35892 100 32920 100 44607 100 50098 100 Tổng thu nhập hộ là rất Biểu đồ 12: Phân bố thu nhập hộ năm 2004 (%) khác nhau trong 2 huyện. Ở huyện CuMgar, tổng thu 100 Krong Ana nhập hộ trong năm 2004 90 CuMgar cao gấp 1,12 lần so với 80 năm 2003, trong khi ở 70 huyện Krong Ana con số 60 này có thấp hơn đôi chút so 50 với năm 2003. Sự khác biệt 40 chủ yếu ở thu nhập từ sản 30 xuất cà phê. Thu nhập từ 20 sản xuất cà phê của 10 CuMgar tăng hơn 2% trong 0 năm 2003-2004 trong khi ở Cà phê Cây LT Chăn nuôi Cây khác Phi NN Krong Ana lại bị giảm mất gần 2%. Năm 2003, tổng thu nhập hộ ở huyện CuMgar cao gấp 1,24 lần so v ới huy ện Krong Ana, trong khi đó con số này của năm 2004 là 1,52 lần. Thông tin chi ti ết v ề ngu ồn thu nhập năm 2004 sẽ được phân tích cụ thể ở phần dưới đây. Phân tích chuyên sâu về các nguồn thu nhập cho thấy cây cà phê v ẫn là ngu ồn thu nhập chính. Tỷ trọng cà phê trong tổng thu nhập năm 2004 c ủa Krong Ana cao h ơn CuMgar 18%. Điều này cho thấy sự phụ thuộc rất nhiều của Krong Ana vào s ản xu ất cà phê, mặc dù sự phụ thuộc này đã giảm dần t ừ 92,3% năm 2003 xuống còn 90,6% năm 2004. Tuy nhiên, giá trị tuyệt đối của cây cà phê trong t ổng thu nh ập huyện CuMgar l ại cao gấp 1,22 lần so với huyện Krong Ana. Điều này cho th ầy CuMgar có xu h ướng đa d ạng hóa thu nhập cao hơn Krong Ana. Có thể thấy rõ xu h ướng này trong Bi ểu đ ồ 11. Thu nhập từ chăn nuôi và trồng trọt của huyện CuMgar chiếm 22.2% năm 2003 và 24% năm 2004, trong khi đó thu nhập từ cây lương thực và các loại cây màu khác ở huy ện Krong Ana chỉ là con số không, còn thu nhập từ chăn nuôi thì v ẫn còn r ất khiêm t ốn (l ần l ượt là 3,4% và 4,6% trong năm 2003 và 2004). Đây cũng là một trong nh ững nguyên nhân gi ải thích tại sao tổng thu nhập của CuMgar lớn hơn Krong Ana. 15
  16. Cà phê vẫn là nguồn thu nhập chính trong các Biểu đồ 13: Phân loại thu nhập năm 2004 theo nhóm thu nhập. Đóng góp nhóm thu nhập của cà phê trong tổng thu Phi NN 556 981 2615 100% nhập của nhóm hộ nghèo 1919 Chăn nuô i 5462 1830 1104 và hộ trung bình cao hơn 90% 148 Cây LT 11346 so với nhóm hộ giàu (lần 80% Cà phê lượt là 86%, 87% và 70% 75%). Thu nhập từ trồng 60% trọt trong số các hộ 50% nghèo và hộ trung bình là 27080 15351 40% 58092 rất thấp (chỉ chiếm 1% và 30% 4%) trong khi ở các hộ 20% giàu con số này khá cao, 10% đạt 15%. Thu nhập từ 0% chăn nuôi của hộ nghèo Nghèo Trung bình Giàu chiếm tới 10% tổng thu nhập. Điều này cho thấy nhóm hộ giàu có xu hướng đa dạng hoá thu nhập hơn hai nhóm còn lại. Điều này được giải thích rõ ràng qua bảng phân tích t ương quan gi ữa t ổng thu nh ập năm 2004 với tỷ trọng diện tích đất trồng cà phê và t ổng di ện tích đ ất nông nghi ệp c ủa hộ. Kết qủa cho thấy có sự tương quan nghịch gi ữa hai biến này, v ới m ức ý nghĩa 99% (kiểm định 2 đuôi) và hệ sô biến -0.52, nghĩa là h ộ càng giàu thì mô hình s ử d ụng đ ất nông nghiệp của hộ càng được đa dạng hóa. Bảng 4: Tương quan giữa tỉ lệ đất cà phê/đất NN với thu nhập hộ totincome04 prop Tương quan totincome04 1 -.520(**) Pearson Mức ý nghĩa (2 . .000 đuôi) N 80 80 Tương quan prop -.520(**) 1 Pearson Mức ý nghĩa (2 .000 . đuôi) N 80 80 ** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 (2 đuôi) Chi phí sản xuất Trong trường hợp không sử dụng lao động gia ìinh, chi phí s ản xuất năm 2004 (khi s ử d ụng bi ện pháp tưới phun) là 7.258 đồng/kg, cao hơn so với sử d ụng bi ện pháp t ưới g ốc (6.589 đ ồng/kg). Để hiểu được nguyên nhân của sự khác biệt này, có thể tham khảo Chương quản lý nước. . Bảng 5: Phân bổ chi phí sản xuất cà phê không sử dụng lao động gia đình Tưới gốc Tưới phun Hạng mục Chi phí (000 đ/tấn) # (%) (%) PP tưới gốc 1 2152 32.66 PP tưới phun 2821 38.87 16
  17. Thuốc trừ sâu 2 208 3.16 2.87 3 Phân bón 3009 45.67 41.46 Làm cỏ 4 178 2.70 2.45 Làm luống 5 85 1.29 1.17 Tỉa cành 6 212 3.22 2.92 Thu hoạch 7 603 9.15 8.31 Vận chuyển 8 141 2.14 1.94 Tổng chi phí-tưới phun 7257 100.00 Tổng chi phí-tưới gố c 6588 100.00 Trong số chi phí này, phân bón chiếm t ỷ lệ cao nhất khoảng 41%, k ế đ ến là n ước t ưới (39%) và thu hoạch (8%). Các hoạt động còn lại mỗi thứ ch ỉ chi ếm t ừ 2%-3%, ch ủ y ếu là chi phí thuê lao động. Chi phí về nước tưới, phân bón và thu ốc tr ừ sâu s ẽ đ ược phân tích kỹ trong phần tiếp theo của báo cáo. Theo một cuộc điều tra do SDC_MISPA tiến hành vào năm 2003, chi phí s ản xu ất bình quân vào khoảng 8.020 đ/kg, có cao hơn đôi chút so với năm 2004, m ặc dù giá phân bón và xăng dầu trong năm 2004 cao hơn năm 2003 (Xem B ảng 6). S ở dĩ nh ư v ậy là do cuộc điều tra năm 2003 không tính đến chi phí về đất đai, kh ấu hao đ ất đai, vay v ốn, thuế sử dụng đất. Do vậy khó có thể so sánh nếu sử dụng các ph ương pháp tính toán khác nhau. Bảng 6: Đơn giá các loại phân bón năm 2004 Loại phân bón Đơn giá (d/kg) SA 2761 Urea 4354 Thermo-Phosphate 1992 Super-phosphate 1600 KCl 3859 NPK 4418 Nitrate 3867 Lime 3250 Manure 286 DAP 4200 Loại khác 4433 Trong trường hợp sử dụng lao động gia đình, tổng chi phí lớn hơn r ất nhi ều. V ới bi ện pháp tưới phun, chi phí là 8.642 đ/kg trong khi v ới bi ện pháp t ưới g ốc chi phí là 8.026 đ/kg. Sự khác biệt giữa hai trường hợp này cho thấy lao đ ộng gia đình cũng là m ột nguồn quan trọng. Lao động gia đình sử dụng để làm cỏ, b ảo d ưỡng b ồn t ưới, t ỉa th ưa, thu hoạch và vận chuyển cũng chiếm t ỷ lệ đáng k ể. Chi phí lao động gia đình cao nh ất là trong tỉa thưa, vận chuyển và thu hoạch, lần l ượt chi ếm 57%, 55% và 50% t ổng chi phí nhân công. Kế đến là chi phí về làm cỏ và b ảo d ưỡng b ồn t ưới cây (l ần l ượt là 47% và 42%). 17
  18. Bảng 7: Chi phí sản xuất cà phê (có sử dụng lao động gia đình) Tưới Chi phí (000 đ/tấn) Tưới gốc (%) # Chi phí phun (%) PP tưới gốc 1 2321 28.92 PP tưới phun 2936 33.98 Thuốc trừ sâu 2 209 2.6 2.42 3 Phân bón 3009 37.49 34.82 Làm cỏ 4 334 4.16 3.87 Làm luống 5 147 1.84 1.71 Tỉa thưa 6 491 6.11 5.68 Thu hoạch 7 1205 15.01 13.94 Vận chuyển 8 312 3.89 3.61 Tổng chi phí-tưới phun 8643 100.00 Tổng chi phí-tưới gốc 8027 100.00 Chi phí sản xuất cà phê khác nhau rất nhi ều ở cả hai huy ện, trong c ả hai tr ường h ợp áp dụng hai biện pháp tưới lẫn chi phí lao động gia đình. V ới bi ện pháp t ưới phun, có lao động gia đình, tổng chi phí của Krong Ana cao h ơn CuMgar 335 đ/kg. Trong tr ường h ợp không sử dụng lao động gia đình, chênh lệch th ấp hơn nhi ều (161 đ/kg). V ới bi ện pháp tưới gốc, chênh lệch về tổng chi phí giữa hai huyện là không đáng k ể, cho dù chi phí của Krong Ana có cao hơn đôi chút. Trong trường h ợp sử d ụng lao đ ộng gia đình, khoảng cách về chi phí vẫn còn lớn hơn so với khi không s ử d ụng lao đ ộng gia đình, ở mức 136 đ/kg. Qua so sánh ở trên có thể thấy rằng s ự khác bi ệt về chi phí nhân công giữa Krong Ana và CuMgar khi áp dụng biện pháp t ưới phun cao h ơn so v ới khi áp d ụng biện pháp tưới gốc. Bảng 8: Chi phí sản xuất cà phê không sử dụng lao động gia đình phân theo huyện (000 đ/tấn) Không sử dụng lao Có sử dụng lao động gia động gia đình đình # Activities Krong Ana CuMgar Krong Ana CuMgar PP tưới gốc 1 2313.504 2008.698 2511.033 2151.424 PP tưới phun 2984.595 2592.937 3116.929 2683.548 Thuốc trừ sâu 2 246 170 246 170 3 Phân bón 2836 3244 2836 3244 Làm cỏ 4 208 157 359 318 Làm luống 5 67 102 145 150 Tỉa thưa 6 178 233 353 574 Thu hoạch 7 643 571 1272 1151 Vận chuyển 8 160 93 397 100 Tổng chi phí-tưới phun 7324 7163 8725 8390 Tổng chi phí-tưới gốc 6653 6579 7922 7715 18
  19. 1.1 Thực tiễn tưới nước của các hộ điều tra Nông dân trồng cà phê Đắk Lắk thường s ử dụng hai biện pháp t ưới nước chính là t ưới g ốc và tưới phun mưa. tưới phun mưa là biện pháp được áp dụng rộng rãi nh ất ở các nước tr ồng cà phê do r ất d ễ hoạt động ở những địa hình núi không bằng phẳng. Biện pháp này cũng cho hi ệu qu ả cao do có khả năng tưới nước đều trên các ngọn cây. Tuy nhiên, trở ng ại l ớn nh ất c ủa bi ện pháp này là chi phí đầu tư thiết bị rất tốn kém (trị giá c ủa m ột h ệ th ống hoàn thi ện la fkho ảng 1200 USD/ha cà phê), có nguy cơ bị mất nhiều nước, đ ặc bi ệt là trong đi ều ki ện gió m ạnh, tốn nhiên liệu do áp lực bơm phải rất khoẻ) (Bau& Hien, 2005). Ngoài ra, người trồng cà phê cũng áp dụng biện pháp t ưới g ốc. Bi ện pháp này có nh ững ưu điểm sau: - Đầu tư ban đầu thấp - Không hao hụt nhiều nước nếu tưới đúng cách - Không tốn nhiều nhiên liệu do không cần áp lực bơm quá khoẻ - Không bị nhiều hao hụt do bay hơi vì nước được tưới trực tiếp vào hệ thống rễ Biện pháp này cũng có một số nhược điểm như sau: - Đòi hỏi chi phí nhân cộng lớn để vận hành và chăm sóc bồn - Hầu hết các nước sản xuất cà phê đều không muốn dùng biện pháp này bởi vì việc xây bồn xung quanh từng cây cà phê có thể gây hại đến hệ thống rễ (Bau& Hien, 2005). Tuy nhiên, có tới 85 % số hộ điều tra áp dụng ph ương pháp t ưới g ốc, ch ỉ có 15% áp d ụng phương pháp tưới phun. Tất cả các hộ dân tộc đều áp d ụng ph ương pháp t ưới g ốc, ch ỉ có người Kinh áp dụng phương pháp tưới phun. Số hộ áp dụng biện pháp tưới gốc ở hai huyện không khác nhau nhiều (82 % và 88 % s ố h ộ ở Krong Ana và CuMgar). Lý do khiến cho Krong Ana s ử dụng ph ương pháp t ưới phun nhi ều hơn là vì nhiều hộ nông dân ở đây ký hợp đồng s ản xuất cà phê v ới các nông tr ường qu ốc doanh nên được hỗ trợ chi phí đầu tư trang thiết bị và hướng dẫn phương pháp t ưới nước. Tuy nhiên, rất khó có thể rút ra kết luận do s ố l ượng các h ộ dùng bi ện pháp t ưới phun m ưa rất ít. Chỉ có thể đưa ra kết luận mang tính xu hướng. Đi ều này có thể th ấy rõ phân b ổ s ố h ộ áp dụng các biện pháp tưới khác nhau theo các nhóm trong b ảng sau. Bảng 9: Số hộ sử dụng các biện pháp tưới khác nhau trong năm 2004 Tưới phun Tưới gốc Nhóm Tổng số 12 68 Dân tộc Kinh 12 63 E-đê 5 Huyện Krong Ana 7 32 CuMgar 5 36 Loại hộ Nghèo 4 23 Trung bình 6 21 Giàu 2 24 19
  20. Biểu đồ 15: Tỷ lệ % số hộ áp dụng các Biểu đồ 14: Tỷ lệ % số hộ áp dụng các biện pháp tưới khác nhau biện pháp tưới khác nhau Tưới p hun 100 Tưới phun Tưới g ốc 90 90.00 Tưới g ốc 80.00 80 70.00 70 60.00 60 50.00 50 40.00 40 30.00 30 20.00 20 10.00 10 0.00 Krong Ana CuMgar 0 Nghèo Trung bình Giàu Tỉ lệ hộ áp dụng biện pháp tưới gốc không khác nhau nhiều giữa nhóm thu Biểu đồ 16: Tỷ lệ % số hộ sử dụng các nhập thấp và cao (85 và 92 %). Chỉ có nguồn nước khác nhau nhóm thu nhập trung bình áp dụng biện pháp tưới phun nhiều hơn hai nhóm còn 70 lại tới 22%. Mặc dù tỉ lệ hộ thu nhập cao 60 áp dụng phương pháp tưới phun ít hơn 50 nhóm có thu nhập thấp và trung bình 40 nhưng đó cũng chỉ là xu hướng như đã 30 trình bày ở trên, số hộ áp dụng biện pháp 20 tưới phun hạn chế. 10 0 B ồn ch ứa thu ỷ l ợi Gi ếng Gi ếng HT Các hộ điều tra sử dụng các nguồn nước khoan khác nhau: nguồn nước mặt (bồn chứa nước, công trình thuỷ lợi), và nước ngầm (giếng đào và giếng khoan). Có tới 88 % số Biểu đồ 17: % hộ gia đình áp dụng các lần hộ dùng nước ngầm (65% giếng đào và tưới 23% giếng khoan). Chỉ có 1,2% số hộ dùng nước từ bồn chứa gần đó và 10% sử dụng 70 nước của các công trình thuỷ lợi. Nguồn 2003 60 2004 nước cũng được chia thành nước công cộng 50 và tư nhân. Hầu hết số hộ đều sử dụng nguồn nước tư nhân (chiếm 85%). Chỉ có 40 15% số họ sử dụng các công trình thuỷ lợi 30 Biểu đô 18: Biều đồ phân bổ lượng mưa tại20 ắk Đ Lắk 10 0 3 l ần 4 l ần 5 l ần 6 l ần 7 l ần hoặc nguồn nước công cộng do nhà nước đầu t ư. 500 2003 450 2004 400 350 300 250 200 150 100 20 50 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2